Hình tượng Ngựa trong dòng chảy mỹ thuật cổ Việt Nam 1.jpg

Dưới thời Lý Trần, thế kỷ XI-XIV, hình tượng nga xut hin dưới dạng tượng tròn đầu tiên là 2 pho tượng ngựa đá thời Lý ở chùa Pht Tích (Bc Ninh). Đây là 1 trong 5 cặp tượng, gồm ngựa, tê giác, trâu, voi và sư tử, quỳ chầu trang nghiêm trước tòa Tam bảo, biểu trưng cho sự bảo vệ và quy y Phật pháp. Các pho tượng này được tạo tác từ đá nguyên khối, cao khoảng 1,2m, dài 1,5m -1,8m. Trong số này, 2 pho tượng ngựa diễn tả tư thế nằm, bốn chân quỳ trên bệ đá hoa sen cách điệu, đầu ngoảnh về bên phải (ảnh 1).

Hình tượng ngựa xuất hiện trong dòng gốm hoa nâu thời Trần. Trong sưu tập tư nhân ở Hà Nội có chiếc thạp gốm hoa nâu thời Trần, cao 35cm, đường kính miệng 19cm, trên thân thạp khắc chìm và tô men nâu hình tượng người chiến binh cưỡi ngựa, tay cầm binh khí cùng đoàn tùy tùng, người gánh, người khiêng nước, tập võ ở hàng dưới. Trong sưu tập gốm của ông Nguyễn Văn Dòng (TP. HCM) cũng có chiếc thp gm hoa nâu thi Trn, cao 43cm, đường kính miệng 26,5cm, trên thân thạp khắc chìm và tô men nâu 3 băng hoa văn: hoa lá ở trên, hình ngựa phi nước đại ở giữa, phía dưới là băng sóng nước. Các hoa văn màu nâu nổi bật trên nền men trắng ngà (ảnh 2).

Hình tượng Ngựa trong dòng chảy mỹ thuật cổ Việt Nam 2 .jpg

Trong con tàu c Cù Lao Chàm (Qung Nam) thời Lê Sơ, chúng tôi đã gặp khá nhiều hình tượng ngựa thể hiện rất đẹp trên các loại hình đồ gốm hoa lam và hoa lam vẽ nhiều màu như ang, bình, đĩa và hộp... Hình tượng nga tả thực và cả hình ngựa có đôi cánh như thiên thần. Những con ngựa này đều được din t trong tư thế phi nước đại như thể đang bay giữa trời mây. Phải chăng đó là hóa thân từ huyền thoại Thánh Gióng đánh giặc Ân của dân tộc Việt. Hình tượng ngựa thể hiện trong dòng gốm hoa lam theo lối tả thực như chiếc đĩa có miệng loe ngang, thành trong vẽ băng hoa sen dây, giữa lòng vẽ một hình ngựa, xung quanh có dải mây mang hình đồng tiền, men vẽ màu xanh, men phủ trắng xanh (ảnh 3). Hình tượng ngựa còn thy thể hiện trên loại đĩa gốm hoa lam, cao 10,5cm, đường kính miệng 43,7cm, trong sưu tập Nguyễn Văn Dòng (TP. HCM).Giữa lòng đĩa vẽ men lam hình tượng ngựa có đôi cánh dang rộng trên lưng, đầu ngẩng cao, đuôi uốn cong, 4 chân trong tư thế bay lên. Xung quanh hình ngựa vẽ nhiều dải mây hình khánh (ảnh 4).

Sưu tập gốm độc bản tàu cổ Cù Lao Chàm của BTLSQG còn thấy xuất hiện hình tượng nga có cánh trên loại âu gốm hoa lam, cao 13cm, đường kính miệng 9,3cm và loại hũ gốm hoa lam, cao 21cm, đường kính miệng 8cm (Nguyễn Đình Chiến- Phạm Quốc Quân 2008: 125, 167). Đáng chú ý loi đĩa vẽ men nhiều màu nhẹ lửa màu xanh lục, đỏ và vàng trên men qua lần nung lần thứ hai như các đĩa gốm hoa lam và nhiều màu, cao 10cm, đường kính miệng 43,5cm. Lòng đĩa vẽ hình tượng ngựa với thần thái hung dũng, đầu ngẩng cao, chân trước gập, uốn mình, chân sau đạp mạnh, cái đuôi cong vút trong tư thế bay lên (Nguyễn Đình Chiến- Phạm Quốc Quân 2008:147). Cũng trong sưu tập này còn có tượng người cưỡi ngựa, men trắng và xanh lam, cao 10,5cm, dài 8,9cm. Tuy là loại tượng nhỏ nhưng diễn tả thần thái một người ngồi trên lưng ngựa, tay nắm dây cương, đầu quay ngang. Ngựa đứng trên bệ thăng bằng như khoảnh khắc dừng chân (Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch Hội đồng 2003: 257).

Hình tượng Ngựa trong dòng chảy mỹ thuật cổ Việt Nam 5.jpg
Hình tượng Ngựa trong dòng chảy mỹ thuật cổ Việt Nam 6.jpg

Dưới thời Mạc, hình tượng ngựa có cánh còn thy xuất hiện trên loại hình đồ gốm hoa lam. Chiếc bình tỳ bà của BTLSQG cao 31 cm, khoảng giữa thân bình vẽ 2 hình ngựa có cánh trong tư thế phi nước đại (Bùi Minh Trí - Kerry Nguyên Long 2001: 349). Chiếc lư hương gốm hoa lam, cao 22cm, đường kính ming 12,7cm, trên thân lư vẽ đoàn người ngựa như diễn tả một cuộc hành quân (Phan Huy Lê Cb 1995:105).Trên chiếc lư hương gốm hoa lam ở Bảo tàng Ninh Bình, đã được xếp hạng BVQG, có trang trí hình rồng yên ngựa, kỳ lân, ngựa có cánh, diềm răng cưa (ảnh 5). Đây là loi lư cao còn khá nguyên, cao 40 cm, do tác giả Đỗ Xuân Vy ở xã Bát Tràng (Hà Nội) tạo tác vào thời Mạc, ngày 20 tháng 8 niên hiệu Hưng Trị năm thứ 3 (1590) (Nguyễn Đình Chiến 1999: 138-139).

Thời Lê Trung hưng- Nguyễn, thế kỷ XVII-XX, là thời kỳ bùng nổ của hình tượng nga trên các chất liệu khác nhau, phản ánh sự phát triển đỉnh cao của nhiều ngành nghề thủ công. Tượng nga gm Bát Tràng, thế kỷ XVII, thể hiện theo khối tượng tròn, dáng đứng, cổ đeo vòng lục lạc, mình đeo dây cương, yên ngựa nổi, phủ men trắng xám và nâu (ảnh 6) (Phan Huy Lê Cb 1995:105).

 Hình tượng ngựa chạm trổ trên kiến trúc gỗ đình chùa nở rộ chưa từng thấy vào thế kỷ XVII - XVIII. Chúng ta có thể gặp những hoạt cảnh sinh hoạt sống động của làng xã ở đình Thổ Tang (Vĩnh Phúc) (ảnh 7); Cảnh đi săn ở đình Hạ Hiệp (Hà Nội), đình Hương Canh (Vĩnh Phúc); Cảnh đám rước ở đình Hạ Hiệp; đình Đại Phùng; đình Phú Xuyên (Hà Nội); Cảnh Vinh qui ở đinh Ngọc Canh (Vĩnh Phúc); Cảnh 2 kỵ binh cưỡi ngựa ở đình Liên Hiệp (Phú Thọ) vv… Đáng chú ý bc chm “Bát mã qun phi trên ván nong, phía dưới bao lơn ca hàng ct cái và ct quân ở đình Đình Bng (Bc Ninh) to tác trong khong 1700-1736. Bng k thut chm bong kênh, chm lng, chm moi… các ngh nhân vô danh đã to nên nhng hình tượng nga mang v hn hu, gn gũi trong hình dáng và tư thế quen thuc, đày đủ yên cương lc lc, mang ước vng yên bình ca người làng quê trong xã hi phong kiến Vit Nam. Trên loi tranh giy thế k 18, in v các màu đen, trng, đỏ ở đền Độc Lôi (Ngh An), hin lưu gi trưng bày ti BTLSQG như bc “Nga hng, nga bch, dài 1,47m, rng 0,55m, đặc t cnh người dt nga, người vác lng (ảnh 8).Trên dòng tranh Đông Hồ (Bắc Ninh) có bức tranh “Vinh qui bái tổ”khắc in trên giấy điệp, mô tả một vị tân khoa, đầu đội mũ cánh chuồn, mặc áo thụng cưỡi ngựa đi giữa những người cầm cờ, lọng và biển Tiến sỹ. Bức tranh góp phần lưu giữ và truyền tải giá trị đạo đức, tinh thần và đề cao truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam.

Hình tượng Ngựa trong dòng chảy mỹ thuật cổ Việt Nam 7.jpg

Tại Bảo tàng Hải Phòng còn lưu giữ chiếc bình gốm Bát Tràng men rạn ngà, thế kỷ XIX. Trên 4 mặt thân bình chạm khắc nổi và tô men màu xanh, vàng diễn tả các trích đoạn trong “Tam quốc chí”. Minh văn viết bằng men lam minh họa bức tranh vẽ trên thân bình: “Hứa Chử cởi áo đấu võ với Mã Siêu” (Nguyễn Đình Chiến 1999: 197). Trên loại bình và nậm rượu gốm Bát Tràng thế kỷ XIV còn thấy chạm nổi, vẽ men vàng và xanh, đề tài “Đạp tuyết tầm mai” với cảnh một người đội mũ cánh chuồn, mình mặc áo thụng cưỡi ngựa đi trước, theo sau là một “tiểu đồng” vác cành hoa mai (ảnh 9).

Hình tượng ngựa đá dưới dạng tượng tròn thời Lê sơ, thế kỷ XV, như pho tượng ngựa trưng bày ở Bảo tàng Thanh Hóa, cao 70cm. Tượng đứng trên bệ chữ nhật, lưng chạm nổi yên cương 2 lớp, chân trước và sau chạm văn mây. Dưới thời Lê Trịnh, xuất hiện các cặp tượng ngựa có kích thước lớn, làm nhiệm vụ đứng chầu trong các lăng Quận công. Chẳng hạn, pho tượng nga ti lăng Qun Đăng, Nguyn Văn Nghi (Thanh Hóa) tc năm 1621, cao 1,78m; Pho tượng ngựa đá tại lăng Quận Mãn, Lê Trung Nghĩa (Thanh Hóa) tạc năm 1786, cao 1,58m -1,67m. Những tượng ngựa này đều được chạm từ nguyên khối đá màu ghi xám, đứng trên b ch nht, đầu ngẩng cao, 2 chân trước đứng thẳng, cổ đeo vòng quả nhạc, bờm có dải tua, lưng chạm bộ yên hình vòng cung, đuôi dài phủ kín hông (Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch Hội đồng 2003: 41,51). Pho tượng ngựa đá trong lăng vua Khải Định (Huế) tạc trong khoảng 1920-1931, cũng bằng loại đá xanh. Trong sưu tập cổ ngọc Việt Nam, thế kỷ XIV, hiện lưu giữ tại BTLSQG có bộ tượng đá ngọc mô tả tượng nga ở hàng th 7 trong “Thập nhị chi”12 con giáp, cao 5,2cm-5,5cm, với cách thể hiện khá độc đáo do lối tạo hình nhân cách hóa. Sưu tập còn có pho tượng đá ngọc màu trng xanh, cao 8,7cm, dài 14,6cm. Pho tượng mô t con nga phi trên sóng là tác phm to hình tinh tế ca ngh nhân Ng xưởng cung đình Huế.

Hình tượng Ngựa trong dòng chảy mỹ thuật cổ Việt Nam 8.jpg
Hình tượng Ngựa trong dòng chảy mỹ thuật cổ Việt Nam 9.jpg

Trên đây chỉ là những hình tượng ngựa mô tả trên các loại hình hiện vật với các chất liệu khác nhau, trải qua nhiều thời đại trong lịch sử Việt Nam chúng tôi lựa chọn theo cảm nhận chủ quan. Nhưng chỉ từng đó cũng đủ là minh chng thể hiện tư duy sáng to và bàn tay tài khéo ca nhng thế h ngh nhân vô danh đã để li trong kho tàng di sn văn hóa Vit Nam. Và phải chăng hình tượng ngựa trong dòng chy mỹ thuật cổ Việt Nam cũng hóa thân vào huyền thoại và ít nhiều mang mầu sắc tôn giáo như con ngựa trong văn hóa Ấn Độ, Trung Quốc hay tín ngưỡng phương Tây.

_______________

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Đình Chiến (1999). Cẩm nang đồ gốm có minh văn, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
2. Nguyễn Đình Chiến và Phạm Quốc Quân (2008). Gốm sứ trong năm con tàu cổ ở vùng biển Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
3. Phạm Quốc Quân và Nguyễn Đình Chiến (2005). Gốm hoa nâu Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
4. Lưu Trần Tiêu (Chủ tịch Hội đồng). 2003. Cổ vật Việt Nam, Bộ Văn hóa- Thông tin, Cục Bảo tồn Bảo tàng và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
5. Bùi Minh Trí và Kerry Nguyên Long (2001). Gốm hoa lam Việt Nam, Nxb KHXH.

NGUYỄN ĐÌNH CHIẾN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 632, tháng 1-2026