An uong 3_result.jpg
Gióng - Trần Khánh Chương
Giấy, khắc thạch cao - 46,5cm x 43,5cm

1. Dẫn nhập

Ngựa (Equidae), họ thú có guốc lớn, thuộc bộ Guốc lẻ (Perissodactila) được các dân tộc thuần dưỡng ở những thời gian sớm muộn khác nhau và đến nay hàng triệu con ngựa đang được phân bố rộng khắp thế giới với những ngoại hình, kích thước và màu sắc, thậm chí cả đến tên gọi cũng khác nhau. Với khoảng 200 giống ngựa được dùng để sử dụng trong nhiều mục đích như cưỡi, kéo xe, thồ hàng, làm ngựa chiến, ngựa đua, du lịch, giải trí, ngựa đã và đang giữ vai trò trọng yếu trong đời sống dân sinh của các dân tộc. Trong văn hóa lịch pháp truyền thống phương Đông, ngựa là con vật thứ bảy trong 12 con giáp, góp phần làm căn cứ cho các dấu mốc tự nhiên, nhằm xác định thời gian tính theo chu kỳ, trở thành những dấu “mốc” được thiêng hóa, cho phép giải đoán, dự báo về điều hay - dở, sự tốt - xấu của một vòng đời người được sinh ra trong năm… Ngọ! Xuất phát từ quá trình quan sát một cách sâu rộng, chính đặc điểm tự nhiên của loài ngựa mà từ một con vật có thật ngoài đời, qua lăng kính văn hóa của con người, trở thành những hình tượng luôn hiện diện với vẻ đẹp của một biểu tượng, một cốt cách được nhân tính hóa. Từ đó, với hành trang là một trong những con vật sớm được thuần hóa, gần gũi với đời sống của con người (giống như trâu, gà, chó, lợn), ngựa luôn được mọi người bạn thân thiện bởi dáng vẻ đẹp đẽ nhưng mạnh mẽ, sung mãn mà thanh nhã, hiền lành, đồng thời cũng bởi đức tính trung thành, sống có tình có nghĩa với chủ nhân của nó, làm căn cứ hoặc điểm xuất phát cho các tham số của các nhà thần học, tướng số học hướng đến các mẫu số chung về những thời khắc năm - tháng - ngày - giờ của một đời người gắn với năm sinh cầm tinh con ngựa. Chính vì thế, không phải ngẫu nhiên mà từ hàng nghìn năm trước, ngựa đã là động vật gắn với đời sống của con người, trở thành người bạn thường nhật, “trợ lý” giúp việc trung thành, được con người yêu quý. Nhiều nơi trên thế giới, con ngựa là hiện thân của năng lực, may mắn, hạnh phúc, quyền thế, là biểu tượng cho sự mau lẹ, sức mạnh, nghị lực, sáng tạo, giàu sang, đồng thời cũng là loài vật tượng trưng cho uy lực, sự trung thành, táo bạo và sức sống mãnh liệt. Trong số 12 con vật biểu tượng của 12 con giáp, con ngựa biểu tượng của năm Ngọ - là một trong những con vật được con người coi trọng và sử dụng nhiều nhất. 

 Hình ảnh con ngựa xuất hiện từ rất sớm trong các nền văn minh thế giới. Tuy nhiên, tại mỗi vùng đất với các đặc trưng khí hậu, địa hình và địa văn hóa cùng các loại sinh kế khác nhau, diện mạo hiện tồn của con ngựa lại khoác lên vai nó những trọng trách riêng, phù hợp với môi trường tồn tại của chính nó. Cũng vì thế, tại nhiều dân tộc trên thế giới, phương Đông cũng như phương Tây, con ngựa không những có một vị trí quan trọng trong cuộc sống hằng ngày mà đã đi vào thế giới tinh thần và thẩm mỹ của con người, ngựa đã trở thành một biểu tượng của văn chương và nghệ thuật nói riêng, của đời sống tinh thần con người nói chung, từ Đông sang Tây từ nhiều nghìn năm trước.

Với Việt Nam, tuy là nước hình thành nên từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước cổ truyền, con ngựa không xuất hiện sớm trong không gian sinh kế như ở các vùng đất cao nguyên, non cao rừng thẳm của các bộ lạc/ dân tộc du mục hay các tộc người gắn bó sinh kế trồng trọt, chăn nuôi thuộc các châu lục khác, nhưng hình bóng con ngựa vẫn được con người thuần hóa từ cách ngày nay hàng nghìn năm để gắn bó với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đặc biệt, từ hình dáng của con vật ngoài đời, ngựa “bước” vào thế giới của văn hóa dân gian người Việt đã trở thành các biểu tượng mang nhiều ý nghĩa thông qua các truyện kể, các thực hành tín ngưỡng hay các hình thức sinh hoạt nghệ thuật dân gian và các loại hình diễn xướng, mỹ thuật, lời ăn tiếng nói, do cộng đồng qua các thế hệ sáng tạo, gìn giữ và trao truyền, góp phần làm nên bản sắc văn hóa vô cùng đa dạng và sinh động của dân tộc. Và như vậy, việc quan tâm tìm hiểu để nhận diện hình tượng con ngựa trong văn hóa dân gian Việt cũng chính là hướng tiếp cận để nhận thức một phần diện mạo văn hóa truyền thống của cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam trên tiến trình lịch sử.

2. Biểu tượng ngựa trong tư duy huyền thoại và tín ngưỡng

Trong tâm thức cổ xưa của nhân loại và cũng là của người Việt cổ, thế giới tự nhiên qua lăng kính cảm quan của con người đọng lại sức mạnh ấn tượng nhất chính là Mặt Trời - nơi biểu trưng cho thế lực mang lại sự tồn tại của các giống loài, nơi kết nối các liên kết vô hình và hữu hình của vũ trụ, được hình tượng hóa thành một chiếc đĩa vàng khổng lồ, đặt trên cỗ xe do ngựa kéo phi nhanh qua bầu trời vũ trụ, với năng lượng vĩnh cửu vô biên. Về hướng tư duy này, nhà nghiên cứu mỹ thuật truyền thống Trần Lâm Biền đã có lần dẫn lại lời tâm sự mang ý nghĩa chỉ dẫn của nhà dân tộc học lừng danh Từ Chi: “Khi ngồi trao đổi với Giáo sư Từ Chi, ông có gợi ý rằng: hươu và ngựa vốn ở đồng cỏ, trong tâm thức cổ truyền, khi con vật có bộ lông màu lửa này lướt chạy, người ta nghĩ nó như biểu tượng của ánh sáng, dần dần nó được coi là một linh vật cõng mặt trời chuyển động” (Trần Lâm Biền - Trịnh Sinh, 2011, tr.241). Và như vậy, ngựa là con vật hiếm hoi trở thành biểu tượng được tư duy huyền thoại của loài người tôn sùng thành hiện thân biểu thị cho Mặt Trời, tượng trưng cho cái cao cả, cho sức mạnh và quyền uy giữa vũ trụ bao la! Chính vì thế, trong lịch sử nhân loại, mang sức mạnh và uy lực biểu thị như sự hiện diện của Mặt Trời, ngựa đã trở thành loài vật luôn gắn bó với điểm nóng của xung khắc là chiến tranh, trong đó lồng lộng hình bóng của các chiến binh mang danh kỵ binh kiêu hùng, những hiệp sĩ chinh phạt mọi vùng đất hoặc hiên ngang giữa sa trường chống trả ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước từ trên lưng ngựa, để lại cho lịch sử nhân loại hình ảnh các danh tướng bất tử, được nhân loại tôn thờ hoặc ngược lại, bị coi là các sát nhân, bị người đời căm hận, được in dấu vào hàng loạt huyền thoại cùng các thực hành lễ hội, tín ngưỡng của nhiều dân tộc, tộc người qua các thế hệ (Jean-Francois Froger & Jean-Pierre Durand, 2014, tr.207).

Nếu như giới cổ nhân học đã chỉ ra rằng, con người thuần hóa ngựa sớm nhất cách đây khoảng 5.500 năm ở Kazakhstan và sự phổ biến của vết chân ngựa trên khắp lục địa Á - Âu đã sớm dẫn đến việc sử dụng chúng trong chiến tranh quy mô lớn. Hình bóng con ngựa sắt đã in dấu trong huyền thoại Gióng từ đời Hùng Vương thứ sáu, xung trận đánh giặc Ân, bảo vệ quê hương đất nước vào khoảng trên dưới 3.000 năm TCN, cuối thời đại đồng thau ở Việt Nam. Ngàn vạn những ao đầm khắp vùng trung châu - Kinh Bắc xưa, theo huyền tích đó là những vệt chân ngựa Gióng, đưa người anh hùng mang giáp sắt, roi sắt và gậy tre đằng ngà ngang dọc cùng dân quê đánh tan giặc thù, kết thúc chiến tranh, người cùng ngựa lên đỉnh Sóc Sơn thanh thản hóa vào vĩnh cửu. “Và “những vết chân ngựa Gióng” còn in hằn trên mặt Đất, mãi mãi in sâu trong lòng Đất, trong lòng Người, trong lòng Lịch sử… như chứng cứ muôn đời không phai của kỳ tích anh hùng…” (Trần Quốc Vượng, 2014, tr.165). Hội Gióng giữa cái nắng chói chang của đầu mùa hạ được trải dài hàng cây số, tái hiện cuộc đại chiến đánh giặc Ân, trong đó, nhân vật trung tâm của lễ hội lại chính là Đại Bạch Mã - Con ngựa chiến màu trắng khổng lồ dũng mãnh biểu thị cho chính Đức Thánh “lao” trên sa trường, giữa không khí náo nhiệt của đội quân phù giá theo chân Đức Thánh ra trận. Nhận diện ý nghĩa biểu tượng ngựa trong Hội trận lừng danh này, cố GS Trần Quốc Vượng (2003, tr.339) đã từng phân giải: “Trong hội Gióng, tế lễ từ sáng, song phải chờ đúng Ngọ (giữa trưa nắng) người ta mới rước kiệu và tượng Ngựa trắng từ đền lên đường đê để bắt đầu đám rước hội và diễn xướng cảnh “đánh giặc Ân”. Giặc Ân được biểu tượng bằng 28 tướng nữ, tức “nhị thập bát tú”, 28 vì sao sáng nhất của bầu trời Đêm, tượng trưng đêm tối. Thánh Gióng cưỡi ngựa đánh thắng giặc Ân - là tượng trưng Mặt Trời xua tan đêm tối. Giặc tan Thánh Gióng phi ngựa từ Đông (núi Châu Sơn - Phả Lại) sang Tây (núi Sóc Sơn) rồi bay biến mất. Đó là tượng trưng sự vận động biểu kiến của Mặt Trời từ Đông qua Tây…”.

 Và tiến trình lịch sử của dân tộc đã liên tiếp chứng kiến các cuộc xung trận của biết bao anh hùng trên yên cương các tuấn mã khắp mọi chiến trường chống trả giặc ngoại xâm qua hàng chục thế kỷ, từ các triều đại quân chủ phong kiến độc lập Đinh - Lý - Trần - Lê đến những cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc sau này. Cũng từ đây, với truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tri ân những người đã có công hy sinh vì dân vì nước, cộng đồng người dân ở hầu khắp mọi miền đất nước đã mang tâm thế hướng tâm, lập đền thờ, tôn vinh, tri ân các bậc tiền nhân có công với dân với nước, thường niên thực hành hàng nghìn lễ hội truyền thống cùng các thực hành tín ngưỡng mang bản sắc dân tộc. Trong không gian của những hoạt động văn hóa đặc biệt đó, thường có sự hiện diện của những hình ảnh ngựa chiến, biểu tượng cho hiện thân của chính những chiến binh được ngợi ca và tri ân, tôn vinh như những chủ điện thờ bất tử, muôn đời được cộng đồng ghi nhớ, tưởng niệm và hương khói phụng thờ, tái hiện sự nghiệp qua các kỳ lễ hội. Không khó để trực diện chiêm ngưỡng những bức tượng ngựa mang màu sắc khác nhau, kèm theo những tên gọi gắn với các chủ điện thờ, được an tọa trong những không gian văn hóa thiêng, được tôn vinh không khác gì nhân vật được phụng thờ tại chính không gian thiêng đó. Và có trường hợp, biểu tượng ngựa được đẩy lên vị trí tối thượng của thần Mặt Trời, biểu thị cho sức mạnh hoặc chiến công mang tầm quốc gia, với ý nghĩa thiêng liêng in dấu vào lịch sử văn hóa dân tộc. Đến với một trong “tứ trấn” của kinh thành Thăng Long, nơi đang hiện diện hình ảnh một bức tượng ngựa chiến màu trắng biểu thị cho vị thế của thần chủ trong điện thờ, án ngữ ngay Tiền đường ngôi đền mang tên Bạch Mã (số 78 phố Hàng Buồm), đồng thời được tiếp cận một văn bản ghi lại huyền thoại nổi tiếng đất Thăng Long: Vào thời khắc Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, ông cùng quan quân bắt tay xây thành Đại La, nhưng đã mấy tháng ròng vẫn không xây nổi. Một đêm vua nằm mộng thấy một con ngựa trắng nói tiếng người: “Mạch đất Long Biên rất thiêng, nay đắp thành, mạch sẽ tắc... nên cho đào một cái cừ thông sang sông Thiên Phù và Tô Lịch để mạch lưu thông, nếu không chỉ phí công”. Tỉnh giấc, vua bèn làm như lời ngựa trắng đã gieo. Chẳng bao lâu, thành xây xong. Vào đúng ngày khánh thành, có con ngựa trắng bỗng hiện ra cạnh thành. Quân sĩ xua đi, ngựa chạy đến đền thờ Long Đỗ thì mất dấu. Vua cho đó là hiện thân của thần Long Đỗ liền xuống chiếu phong là Bạch Mã đại vương. Và theo Đại Việt sử ký toàn thư lại có con “Bạch Long thần mã” biết trước lúc nào vua ra đi. Dấu ấn Bạch Mã trở nên rất sâu sắc đối với văn hóa Đại Việt đời Lý, thậm chí ông vua Phật tử này đặt tên con trai mình là Lý Phật Mã (tức Lý Thái Tông). Cũng từ đấy, Đức vua cho xây ngôi đền để phụng thờ thần Long Đỗ và thần Bạch Mã và trong tâm thức người dân, thần Bạch Mã chính là biểu tượng thần Mặt Trời, luôn phù trợ, mang lại cuộc sống bình an cho vùng đất Thăng Long trên tiến trình lịch sử.

Với các dân tộc thiểu số, ngựa đi vào tín ngưỡng dân gian và được các thế hệ thày Tào, thày Mo, thày Pựt lựa chọn để sáng tạo nên các hình tượng ngựa thông qua các diễn xướng đưa, tiễn các linh hồn lên thượng giới hoặc là vật thiêng đón, đưa các thần linh ngược xuôi cõi trần để chữa bệnh, phù trợ cho các chúng sinh, để lại những di sản văn hóa diễn xướng dân gian hấp dẫn, mang bản sắc văn hóa tộc người với nhiều ý nghĩa nghệ thuật có giá trị cho cộng đồng.

3. Biểu tượng ngựa hiển thị cho sức mạnh và khát vọng trong đời sống xã hội

Nếu như trong huyền thoại, bóng dáng của con ngựa sắt cùng Đức thánh Gióng đã “xuất hiện” từ đời Hùng Vương thứ sáu, đánh thắng giặc ngoại xâm bảo vệ vẹn toàn đất nước, đánh dấu sự hiện diện của biểu tượng ngựa trong tâm thức người dân thì tư liệu khảo cổ học đồng thời cho thấy, hình tượng ngựa của Việt Nam cổ nhất có thể tìm thấy qua những nét vẽ còn để lại trong những viên gạch (vẽ để làm khuôn đúc) thuộc mỹ thuật Đại La, được phát triển trong thời Bắc thuộc (từ khoảng thế kỷ II TCN, tương đương với khoảng thời gian hiện diện của thời đại các Vua Hùng). Trong mỹ thuật Đại La, giới khảo cổ học cũng tìm thấy nhiều di tích vẽ ngựa khác hoặc in trên những mảnh gốm, hoặc đúc thành những mảnh trang trí nhỏ gắn vào các kiến trúc trong khoảng thời gian lịch sử vẻ vang này của dân tộc. Trên nền cảnh của tiến trình lịch sử văn hóa đó, con ngựa đã sớm đi vào tiềm thức con người như một biểu tượng góp phần phản ánh đời sống thường nhật của người dân và xã hội thông qua các phương thức và tình thái biểu hiện khác nhau. Thực tiễn cho thấy, đã từ hàng trăm năm qua, ngựa là một trong số những loài vật được mô tả khá sinh động trên tranh, tượng dân gian Việt Nam. Ngựa có mặt trên các phù điêu gỗ, đá ở các đền miếu và trên tranh làng Hồ và Hà thành từ xa xưa, đặc biệt là trong các đồ thủ công mỹ nghệ. Tranh, tượng về ngựa rất phong phú, đa dạng, không chỉ giới hạn ở nơi thờ tự, trong cung đình mà còn phổ biến ra ngoài dân gian. Xuất phát từ tình cảm của con người đối với con ngựa không khác gì đối tượng gần gũi, tâm giao, nơi gửi gắm những tâm tư, ý nghĩ của con người về nhân tình thế thái mà qua bàn tay điêu luyện của các thế hệ nghệ nhân, hình tượng con ngựa hiện lên trong các bức tranh với nhiều diện mạo khác nhau, vừa như phản ánh nhận thức của con người về xã hội, vũ trụ, nhân sinh, vừa như thỏa mãn những mong ước, tâm tư của chính các nghệ nhân về thời cuộc, về đời sống sinh hoạt thường nhật, kèm theo những đánh giá thẩm mỹ được cộng đồng đón nhận với thái độ đồng thuận và tri ân. Chính vì thế, như một nét đẹp văn hóa truyền thống, vào mỗi dịp Tết đến, người dân thường sắm tranh Tết về trang trí trong nhà để đón xuân, trong đó có tranh con ngựa được hiện hình khi là dáng vẻ của những con tuấn mã, khi lại gắn với chân dung của các nhân vật huyền thoại hay lịch sử đích thực, trong vai rước quan vinh quy bái tổ, hay giúp sức cho con người cùng vượt qua những thử thách trong cuộc sống nói chung. Cũng từ tâm thế như vậy, dưới con mắt của dân gian, ngựa mang những trọng trách và dáng vẻ khác nhau để tham gia vào cuộc sống xã hội của con người, khi thì trong hiện thân của một con ngựa hồng vui vẻ đang nhịp bước trong tác phẩm Đám cưới chuột của dòng tranh Đông Hồ; lúc khác lại ở tư thế hùng dũng của một chú ngựa chiến được khắc họa hết sức oai vệ đưa Phù Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân hay đón Vua Quang Trung vào Thăng Long mở tiệc mừng cùng quan quân vui Nguyên Đán trong nhiều tranh dân gian khác, như tranh làng Sình (Phú Vang, Huế), tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng (Hà Nội) những trăm năm qua!

Nhìn chung, cho đến nay, giới cầm cọ ở mọi vùng đất đều đồng thuận cho rằng, trong các loài thú bốn chân thì loài vật đẹp nhất vẫn là con ngựa, cả về dáng, thế, hình. Ngắm nhìn các bức tranh hiện hình vóc dáng ngựa, rất dễ nhận ra sự đa dạng về hình thức màu sắc bắt mắt (ngựa lông trắng mang tên ngựa bạch, ngựa lông đen tuyền mang tên ngựa ô, ngựa lông trắng sọc đen mang tên ngựa vằn, ngựa lông tím đỏ pha đen mang tên ngựa tía) đến dáng vẻ vừa uy nghi dũng mãnh vừa thể hiện các tư thế mang tính thẩm mỹ hấp dẫn (ngựa phi nước kiệu, ngựa phi nước đại...). Cũng vì thế, đã và đang có những họa sĩ, điêu khắc gia tài hoa đam mê gắn tên tuổi của mình với những bức họa ngựa danh tiếng trong, ngoài nước.

Để biểu thị cho sức mạnh và khát vọng trong đời sống văn hóa xã hội của con người, biểu tượng ngựa còn được khắc họa khá phổ biến trong nghệ thuật tạo hình tại các di tích lịch sử văn hóa tâm linh hay các không gian thờ phụng tại gia của các gia đình tại các làng bản ở hầu khắp các vùng miền trên phạm vi cả nước. Đã có hàng trăm bài báo mô tả, ca ngợi vẻ đẹp của con ngựa thông qua các bức tạo hình dân gian được chạm khắc trong kiến trúc chùa Phật Tích (Bắc Ninh) thế kỷ XI, con ngựa có cánh trên lưng được dân chúng coi là vật thiêng ở kiến trúc đình Tây Đằng (Hà Nội) thế kỷ XVI, trên các bức chạm trổ hương án chùa Bút Tháp thế kỷ XVII, hoặc bản khắc trên ván in tại chùa Tây Mỗ (Hà Nội) thế kỷ XIX… Đấy là chưa kể đến hàng loạt biểu tượng ngựa được chạm khắc thành hình ảnh Long Mã mang đầu rồng, thân ngựa, chân hươu, đuôi bò trên kiến trúc chùa Trà Phương (Hải Phòng) thế kỷ XVI, ngựa mang dáng hình một tuấn mã để các tướng lĩnh cưỡi khi đấu võ trên kiến trúc đình Nội (Bắc Ninh)… Thực tiễn của ký ức thông qua hội họa tạo hình và điêu khắc dân gian từ các không gian thiêng tại các làng quê đã là những minh chứng cho hình ảnh con ngựa đã in sâu vào tâm trí của nghệ sĩ dân gian, chứng tỏ họ rất yêu thích, quý mến loài ngựa, muốn biến hình ảnh con ngựa thành một hình tượng nghệ thuật có tầm vóc ngang hàng với những linh vật khác được tôn thờ, nơi gửi gắm tâm tư, ý nghĩ, tình cảm, thậm chí cả thái độ của cộng đồng đối với thực tại xã hội hoặc tình cảm đối với quê hương đất nước trên tiến trình lịch sử làm ăn và tồn tại.

4. Thay lời kết

Mặc dù Việt Nam không phải là quê hương nảy sinh hoặc thuần hóa nuôi dưỡng loài ngựa sớm như nhiều nước khác trên thế giới, nhưng qua văn hóa dân gian, dấu ấn hiện tồn của các biểu tượng ngựa thông qua các huyền thoại hay thực hành tín ngưỡng được trao truyền trong cộng đồng, các sản phẩm sáng tạo nghệ thuật qua các kiến trúc và đời sống xã hội của các dân tộc có cội nguồn hình thành từ một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, có thể thấy rằng, đã từ nhiều nghìn năm qua, ngựa là một trong những loài vật sớm gắn bó mật thiết với đời sống vật chất và tinh thần của người dân đất Việt. Không phải ngẫu nhiên mà từ thời Hùng Vương dựng nước cách ngày nay hàng nghìn năm, huyền thoại Thánh Gióng vươn mình uy dũng trên lưng con ngựa sắt, vung kiếm sắt và sau đó là những khúc tre đằng ngà lao ra trận tiền, cùng dân chúng hợp sức đánh thắng giặc Ân cứu nước và hóa thân vào bất tử, đã đưa hình tượng con ngựa sắt lên thành biểu tượng cho chủ nghĩa yêu nước và ý chí chống giặc ngoại xâm của cộng đồng quốc gia đa dân tộc Việt Nam trên tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước.

Cũng từ đây, trên hành trình cộng cư, cộng cảm, cộng sinh và cộng mệnh, các dân tộc trong cộng đồng quốc gia đa dân tộc đã qua đời sống xã hội của mình, cho phép nhận diện được mối quan hệ thân thiết giữa con người với con ngựa - một trong những loài gia súc ăn cỏ, trong đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở khắp mọi miền quê. Ngựa vừa là hiện thân biểu tượng cho một đấng linh thiêng, có quyền uy phù trợ cho cuộc sống sinh tồn của con người trong vị thế như các chủ điện thờ tại nhiều không gian văn hóa tâm linh, vừa là người bạn thân quen, nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm cùng những khát vọng của cộng đồng trong những điều kiện phát triển xã hội nhất định.

Có thể còn nhận diện được nhiều điều từ biểu tượng ngựa trong quan hệ giữa con người với con vật thân thiện trên tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc: đó là biểu tượng ngựa với võ công qua các triều đại trong lịch sử chống ngoại xâm; biểu tượng ngựa trong lời ăn, tiếng nói, thành ngữ, tục ngữ của người dân trong môi trường văn hóa sinh thái, môi trường văn hóa nhân văn và môi trường văn hóa xã hội; biểu tượng ngựa trong thế giới mỹ thuật đương đại; biểu tượng ngựa trong thực hành văn hóa tín ngưỡng các dân tộc, tộc người; biểu tượng ngựa trong kiến trúc và sáng tạo tạo hình đương đại… Đương nhiên, để thực hiện hoặc giải mã các vấn đề đang đặt ra, cần có sự cộng hưởng của công sức, trí tuệ và tình cảm của nhiều thế hệ, hiện tại và lâu dài.

________________________

Tài liệu tham khảo

1. Jean-Francois Froger & Jean-Pierre Durand, (Lê Thành dịch). (2014). Biểu tượng và ý nghĩa của các loài thú trong Thánh Kinh. Nhà xuất bản Hồng Đức.

2. Trần Lâm Biền - Trịnh Sinh. (2011). Thế giới biểu tượng trong di sản văn hóa Thăng Long Hà Nội. Nhà xuất bản Hà Nội.

3. Trần Quốc Vượng. (2003). Biểu tượng ngựa và năm con ngựa. In trong sách: Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm. Nhà xuất bản Văn học.

4. Trần Quốc Vượng. (2014). Trong cõi. Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 25/12/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 18/1/2026; Ngày duyệt bài: 30/1/2026.

GS, TS BÙI QUANG THANH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 633, tháng 2-2026