Tham dự, chia sẻ tại tọa đàm có: PGS, TS, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Thị Huệ, nguyên Trưởng khoa Bảo tàng (nay là khoa Di sản văn hóa), Trường Đại học Văn hóa Hà Nội – nguyên sinh viên Hà Nội từng đi sơ tán trong những năm chiến tranh, giai đoạn 1965-1968; ông Bùi Dương Hòa – nguyên giáo viên từng tham gia giảng dạy tại khu vực sơ tán năm 1972; ông Nguyễn Ngọc Long – nguyên học sinh trường Cát Linh từng đi sơ tán năm 1972.

Qua những câu chuyện cụ thể, ký ức của các thầy giáo, cô giáo, cựu học sinh và người dân từng sống tại các vùng sơ tán ở khu vực ngoại thành Hà Nội , tái hiện một giai đoạn đặc biệt của giáo dục Thủ đô, khi trường lớp phải sơ tán nhưng việc dạy và học vẫn được duy trì trong điều kiện chiến tranh. Các nhân chứng cùng nhau chia sẻ về việc tổ chức lớp học, sinh hoạt, ăn ở và những khó khăn mà thầy trò phải đối mặt trong thời gian sơ tán.

pgs nguyen thi hue.jpg
PGS, TS, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Thị Huệ (bên trái) chia sẻ tại tọa đàm

Khi trường lớp rời khỏi nội thành Hà Nội

Trong những năm chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, chủ trương đưa các trường học ra khỏi khu vực đô thị đông dân cư để bảo đảm an toàn cho người dân và duy trì việc dạy – học, việc sơ tán dân cư, cơ quan và các trường học ra khỏi khu vực nội thành đã trở thành một yêu cầu cấp thiết.

Chia sẻ tại buổi tọa đàm hôm 8/10, PGS, TS Nguyễn Thị Huệ đã giúp công chúng hình dung rõ hơn về hai đợt sơ tán lớn của Hà Nội. Đợt thứ nhất diễn ra từ năm 1965 đến 1968, khi miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa làm nhiệm vụ hậu phương cho miền Nam. Đợt sơ tán thứ hai diễn ra vào đầu năm 1972, khi chiến tranh leo thang ác liệt và đế quốc Mỹ huy động lực lượng máy bay B-52 tập trung đánh phá Thủ đô nhằm đưa Hà Nội trở về “thời kỳ đồ đá”.

Ở đợt sơ tán thứ nhất, bà Nguyễn Thị Huệ khi đó mới 16-17 tuổi, vừa nhập học tại Trường Lý luận nghiệp vụ Văn hóa được 3 ngày thì nhận tin trường phải đi sơ tán đến Yên Dũng, Hà Bắc (nay thuộc Bắc Ninh). “Mọi người sẵn sàng đi sơ tán trong một không khí rất khẩn trương, đi bằng nhiều cách khác nhau miễn sao đảm bảo an toàn vì đi sơ tán cũng là một nhiệm vụ chính trị,” bà Huệ nhớ lại. Hành trang mang theo rất đơn giản; học sinh, sinh viên di chuyển bằng xe đạp hoặc đi bộ theo từng nhóm nhỏ.

Tại Yên Dũng, lớp học được nhà trường dựng tạm đơn sơ trên các quả đồi bằng tranh, tre, nứa, lá. Mỗi khoa nằm trên một quả đồi. Lớp học của bà Huệ gồm 24 người (trong đó có 7 bạn nữ), điều kiện ăn ở vô cùng thiếu thốn. Không có điện nên lớp chủ yếu học ban ngày; sách vở thiếu đến mức thầy trò phải dùng cành rào làm bút viết xuống đất để học chữ Hán – Nôm. Mỗi tuần, lớp cử một bạn lên Phòng Giáo dục nhận một hộp phấn và phải dùng rất tiết kiệm, hầu như chỉ dành cho thầy cô viết bảng. Ngoài giờ học, sinh viên tăng gia trồng rau và luân phiên đi nhận lương thực. Những đêm mùa đông rét mướt nơi vùng đồi, các bạn nữ phải nằm chung giường tre để sưởi ấm cho nhau. Chính những ngày tháng thiếu thốn ấy đã gắn kết tình thầy trò, tình bạn sâu đậm.

bui duong hoa.jpg
Thầy giáo Bùi Dương Hòa (giữa) và ông Nguyễn Ngọc Long (bên trái) trao đổi tại tọa đàm

Lớp học trong lòng đồi và những bài học đặc biệt

Bước sang giai đoạn 1969–1972, đặc biệt là năm 1972, cuộc chiến tranh phá hoại đạt đến đỉnh điểm, những ngày cuối tháng 12/1972, khi Thủ đô trở thành một trong những trọng điểm của cuộc tập kích đường không chiến lược. Trong hoàn cảnh ấy, bảo đảm an toàn cho người dân, đặc biệt là trẻ em, học sinh và duy trì việc dạy – học tiếp tục là một yêu cầu hết sức quan trọng. Ở đó, ngọn lửa tri thức vẫn được duy trì mạnh mẽ nhờ nhiệt huyết của những người thầy và sự kiên cường của các thế hệ học trò.

Thầy giáo Bùi Dương Hòa – một trong những giáo viên đầu tiên được đào tạo hệ 4 năm tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội – đã chia sẻ lý do xung phong lên vùng cao giảng dạy. Tốt nghiệp loại ưu và có gia đình ở Hà Nội, thầy vẫn chọn đến vùng đất Yên Thế (Hà Bắc – nay là tỉnh Bắc Ninh) theo tiếng gọi “3 sẵn sàng” của thanh niên lúc bấy giờ. Thầy chia sẻ: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, thì gian khổ sẽ dành phần ai?”. Thầy Hòa đã gắn bó với sự nghiệp gieo chữ ở miền núi Yên Thế hơn 40 năm (từ năm 1972 đến 1993 dạy tại Trường Cấp 3 Yên Thế, sau đó chuyển về Trường Dân tộc nội trú tỉnh Bắc Giang).

Nhớ về lớp học năm 1972, thầy Bùi Dương Hòa kể lại hình ảnh những lớp học được đào sâu vào lòng đồi, xung quanh là rừng dẻ, lợp mái hình chữ A bằng cây nứa và nối với nhau bằng hệ thống đường giao thông hào. Để giúp học sinh vượt qua rào cản của môn Hóa học – vốn nổi tiếng khó nhớ với câu nói dân gian “băn khoăn như Hóa”, thầy Hòa đã sáng tác và dạy học trò “Bài ca hóa trị” lục bát độc đáo cùng những vần thơ về đồng đẳng, đồng phân giúp các em tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng, hứng thú.

trung bay anh.jpg
Triển lãm ảnh tư liệu tại chương trình

Ở góc nhìn của một cậu học trò tiểu học, ông Nguyễn Ngọc Long (nguyên học sinh Trường Tiểu học Cát Linh) mang đến những ký ức vừa ngây thơ vừa ám ảnh. Năm 1972, khi mới 8-9 tuổi, đang chơi ở khu phố Hàng Bột, ông nghe loa thông báo lệnh sơ tán khẩn cấp và được bố mẹ gửi về quê ngoại ở vùng Chương Mỹ – Chùa Trăm Gian.

Lớp học thời chiến của cậu bé Long khi đó được tổ chức ngay trong chùa làng, xung quanh bờ tre phủ kín hầm trú ẩn. Khi Mỹ ném bom ác liệt, lớp học được chuyển hẳn xuống hầm. Học sinh cùng thầy cô và dân làng trực tiếp tham gia đào hào, đào hầm. Trong một lần đào hầm, ông Long không may bị cuốc trúng gót chân, suýt đứt gân và được các chiến sĩ quân y thuộc đơn vị bộ đội phòng không gần đó kịp thời khâu vết thương – vết sẹo ấy vẫn còn theo ông đến tận ngày nay.

Bên cạnh kiến thức văn hóa, các em học sinh thời chiến còn được thầy cô trang bị những kỹ năng sinh tồn đặc biệt: cách phân biệt hình dạng quả bom rơi từ trên trời để kịp thời chạy trốn hay nằm rọp xuống hầm hào; cách đan mũ rơm, sử dụng bông băng và thuốc đỏ khi chấn thương. Trong những ngày tháng sơ tán, các cậu học trò thành phố còn được bạn bè nông thôn hướng dẫn mò cua bắt ốc, làm súng bằng sống lá chuối, cuống đu đủ và dùng quả mây làm đạn.

Ký ức khắc sâu nhất đối với ông Long là những đêm cuối tháng 12/1972, khi ở vùng sơ tán, cùng ông bà ngoại và những người dân địa phương, ông lên đồi gần chùa Trăm Gian nhìn về Hà Nội. Trong đêm tối, cả Hà Nội sáng rực như một chảo lửa khổng lồ, tiếng bom, tiếng máy bay B52 gầm rú khắp bầu trời. Sau khi kết thúc 12 ngày đêm ác liệt đó, được bố mẹ đón về Hà Nội, nhìn thấy cả dãy phố Khâm Thiên nơi gia đình sinh sống tan hoang, đổ nát ông mới biết đêm ngày 26/12 là ngày Mỹ ném bom dữ dội nhất, gần như san phẳng cả khu phố. Cảnh tượng đó đã ám ảnh ông đến tận bây giờ…

trai nghiem lam mu rom.jpg
Trải nghiệm làm mũ rơm, khiên rơm tại chương trình

Điều đọng lại sâu sắc nhất qua lời kể của các nhân chứng chính là tình cưu mang, đùm bọc của người dân địa phương. Trong hoàn cảnh bản thân còn nhiều thiếu thốn, bà con vùng nông thôn vẫn rộng mở cánh cửa đón giáo viên, học sinh và đồng bào Hà Nội. Họ nhường chỗ ở, chia sẻ từng bữa ăn, nguồn nước, cùng sửa sang lớp học và đào hầm trú ẩn. Nhờ tình cảm mộc mạc, chân tình ấy, khoảng cách giữa người thành thị và nông thôn, giữa những người xa lạ nhanh chóng biến mất, trở thành tình thân gắn bó suốt nhiều năm sau chiến tranh.

Bên cạnh chương trình Tọa đàm, giao lưu với nhân chứng, còn diễn ra các sự kiện triển lãm ảnh tư liệu; trình chiếu hình ảnh, phim tư liệu; không gian “Lớp học thời chiến”; trải nghiệm làm mũ rơm, khiên rơm; trải nghiệm hầm trú ẩn chữ A; giao lưu, hỏi - đáp giữa nhân chứng với học sinh, sinh viên và công chúng; ghi âm, ghi hình lời kể nhân chứng phục vụ công tác lưu trữ, nghiên cứu và phát huy giá trị tại Bảo tàng Hà Nội.