3D Mapping mở ra cách tiếp cận mới với di sản Hoàng thành Thăng Long, đưa lịch sử từ không gian vật thể vào trải nghiệm số.
Ảnh: Hoàng thành Thăng Long
3D Mapping mở ra cách tiếp cận mới với di sản Hoàng thành Thăng Long, đưa lịch sử từ không gian vật thể vào trải nghiệm số. - Ảnh: Hoàng thành Thăng Long

Thực tiễn bối cảnh hội nhập quốc tế cho thấy, quốc gia nào làm chủ được nền tảng công nghệ và tài nguyên dữ liệu văn hóa, quốc gia đó sẽ nắm giữ lợi thế cạnh tranh về “sức mạnh mềm”. Đối với Việt Nam, quá trình chuyển đổi số trong công nghiệp văn hóa đang đặt ra cả những cơ hội chưa từng có và những thách thức to lớn về năng lực quản trị, thể chế kiến tạo và sự đồng bộ hạ tầng.

Để hiện thực hóa khát vọng đưa công nghiệp văn hóa trở thành trụ cột kinh tế bền vững, bài toán đặt ra cần được giải quyết đồng bộ xoay quanh ba trụ cột cốt lõi: số hóa toàn diện di sản, phát triển hạ tầng dữ liệu lớn và ứng dụng công nghệ mới vào chuỗi giá trị sáng tạo.

Số hóa di sản: Khởi tạo “tài nguyên dữ liệu gốc”

Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là kết tinh chiều dài lịch sử của dân tộc, là nguồn tài nguyên vô giá. Tuy nhiên, nếu chỉ lưu giữ theo phương thức truyền thống, di sản sẽ bị giới hạn bởi không gian, thời gian và đối mặt với nguy cơ mai một. Số hóa toàn diện di sản chính là bước đi đầu tiên, mang tính sống còn để tạo lập nguồn “tài nguyên dữ liệu gốc” phục vụ cho mọi khâu tiếp theo của chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.

Theo Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 4/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ (do Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí Dũng ký ban hành) về việc phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu 100% các loại hình di sản văn hóa đã số hóa được chuẩn hóa dữ liệu theo khung chuẩn quốc gia. Đặc biệt, mục tiêu 80% di sản văn hóa số công có mã định danh số là một bước tiến đột phá về tư duy quản lý. Việc gắn mã định danh không chỉ giúp xác lập quyền sở hữu, minh bạch hóa nguồn gốc dữ liệu mà còn tạo tiền đề pháp lý vững chắc cho thị trường giao dịch tài sản số trên không gian mạng. Khi một họa tiết hoa văn cổ, một làn điệu dân ca hay một kiến trúc đình làng được số hóa định dạng 3D có bản quyền, chúng sẽ trở thành nguyên liệu đầu vào vô tận cho điện ảnh, thời trang, thiết kế, game hay mỹ thuật ứng dụng.

Bên cạnh giá trị kinh tế, số hóa di sản còn gánh vác sứ mệnh xã hội to lớn. Mục tiêu lan tỏa tri thức văn hóa số đến ít nhất 75% người dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và lưu trữ 80% di sản văn hóa phi vật thể của đồng bào dân tộc thiểu số là minh chứng cho định hướng phát triển bao trùm. Công nghệ số lúc này đóng vai trò như một “cây cầu” san lấp khoảng cách thụ hưởng văn hóa, đồng thời bảo tồn đa dạng bản sắc tộc người trước làn sóng đồng hóa của toàn cầu hóa.

Hạ tầng số đồng bộ: Nền tảng của tự chủ văn hóa

Tài nguyên dữ liệu gốc dù có phong phú đến đâu cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu vắng một hạ tầng số đồng bộ để lưu trữ, xử lý và phân phối. Xây dựng hệ sinh thái dữ liệu văn hóa số bản địa là yêu cầu bắt buộc và cấp thiết nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào các nền tảng xuyên biên giới, qua đó bảo vệ vững chắc chủ quyền số quốc gia.

Thực tế hiện nay, phần lớn dữ liệu người dùng và nội dung văn hóa của Việt Nam đang được phân phối, khai thác qua các nền tảng mạng xã hội và dịch vụ lưu trữ nước ngoài. Điều này không chỉ gây thất thoát nguồn thu từ quảng cáo, thương mại điện tử mà còn đặt văn hóa quốc gia trước nguy cơ bị kiểm duyệt, định hướng bởi các thuật toán ngoại lai.

Vì vậy, mục tiêu đến năm 2030 có 100% lĩnh vực văn hóa sở hữu nền tảng số dùng chung là một mục tiêu chiến lược. Hệ thống này cần được thiết kế thống nhất, kết nối trực tiếp các khâu từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu thụ. Một hạ tầng đồng bộ cho phép các thư viện quốc gia, bảo tàng công lập, nhà hát, đoàn nghệ thuật và doanh nghiệp nội dung số chia sẻ dữ liệu liên thông. Khi hạ tầng được thông suốt, một tác phẩm nghệ thuật có thể dễ dàng đi từ phác thảo kỹ thuật số của nghệ sĩ đến thẳng thiết bị thông minh của công chúng thông qua một hệ sinh thái phân phối do chính Việt Nam làm chủ, tối ưu hóa lợi nhuận cho người sáng tạo và giữ lại giá trị thặng dư cho nền kinh tế trong nước.

Số hóa di sản phù điêu tại chùa Tam Chúc bằng công nghệ 3D. Hiện vật di sản được số hóa 3D, tạo nguồn dữ liệu có thể phục vụ bảo tồn, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa. Ảnh: 3D MAST
Số hóa di sản phù điêu tại chùa Tam Chúc bằng công nghệ 3D. Hiện vật di sản được số hóa 3D, tạo nguồn dữ liệu có thể phục vụ bảo tồn, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm công nghiệp văn hóa. - Ảnh: 3D MAST

Công nghệ mới: Lõi vận hành chuỗi giá trị sáng tạo

Việc tích hợp sâu các công nghệ lõi của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư như Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và thực tế ảo/thực tế tăng cường (VR/AR) đang tái định hình hoàn toàn khái niệm về chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Công nghệ không còn đơn thuần là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành môi trường, thậm chí là đồng tác giả trong quá trình sáng tạo.

Sự hiện diện của Big Data cho phép các nhà sản xuất phim, các đơn vị xuất bản phân tích chính xác thị hiếu, hành vi và xu hướng tiêu dùng của công chúng để đưa ra các quyết định đầu tư tác phẩm “trúng” đích. VR và AR biến các bảo tàng, di tích lịch sử thành những không gian tương tác đa chiều, nơi du khách có thể “xuyên không” về quá khứ, chạm vào hiện vật mà không làm tổn hại đến di tích gốc.

Đặc biệt, trong lĩnh vực báo chí, truyền thông và xuất bản – những cấu phần quan trọng của công nghiệp văn hóa – việc ứng dụng các mô hình AI ngôn ngữ lớn (như ChatGPT, Gemini, NotebookLM, Claude hay Z AI Chat) vào quy trình quản trị tòa soạn đang tạo ra những thay đổi mang tính cách mạng. Không chỉ dừng lại ở việc tự động hóa các tác vụ lặp đi lặp lại, AI đang được ứng dụng sâu vào nghiệp vụ biên tập, rà soát dữ liệu đối chứng (fact-checking) để ngăn chặn tin giả, và thiết kế trực quan hóa thông tin (infographic). Các công cụ này giúp các nhà báo, biên tập viên tối ưu hóa hiệu suất, rút ngắn thời gian sản xuất và nâng cao chất lượng trải nghiệm của độc giả. Việc làm chủ AI giúp báo chí truyền thông thích ứng nhanh nhạy với kỷ nguyên tin tức số, giữ vững vai trò định hướng dòng chảy văn hóa - tư tưởng.

Du khách tham quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám trải nghiệm ứng dụng Việt Nam Diệu Sử - Ứng dụng AR và AI mở ra cách tiếp cận mới với di sản, biến trải nghiệm văn hóa từ “xem” sang tương tác. 
Ảnh: Thương Nguyễn
Du khách tham quan Văn Miếu – Quốc Tử Giám trải nghiệm ứng dụng Việt Nam Diệu Sử - Ứng dụng AR và AI mở ra cách tiếp cận mới với di sản, biến trải nghiệm văn hóa từ “xem” sang tương tác. - Ảnh: Thương Nguyễn

Những rào cản thực tiễn và giải pháp kiến tạo

Dù định hướng chiến lược đã rõ ràng, song thực tiễn triển khai xây dựng hệ sinh thái số cho công nghiệp văn hóa vẫn đang đối mặt với không ít “nút thắt”.

Trước hết, đang tồn tại một khoảng cách không nhỏ giữa tốc độ biến đổi chóng mặt của môi trường sáng tạo số với năng lực thích ứng của hệ thống quản trị truyền thống. Tư duy quản lý ở nhiều nơi vẫn nặng tính “hành chính - sự nghiệp”, lúng túng trước các mô hình kinh doanh văn hóa mới trên không gian mạng. Các cơ quan quản lý thường đi sau thực tiễn, dẫn đến tình trạng lọt lưới các sản phẩm văn hóa độc hại, hoặc ngược lại, vô tình kìm hãm sức sáng tạo của giới văn nghệ sĩ và các nhà phát triển nội dung số do những quy định cứng nhắc.

Thứ hai là nút thắt về pháp lý và nguồn lực. Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành vẫn còn phân tán, thiếu sự đồng bộ, đan xen giữa nhiều lĩnh vực quản lý khác nhau như đầu tư, viễn thông, sở hữu trí tuệ, bản quyền số và an toàn dữ liệu. Việc thiếu vắng một đạo luật chuyên ngành đủ mạnh khiến các doanh nghiệp ngần ngại đầu tư sâu vào nội dung số. Bên cạnh đó, thị trường tài chính cho công nghiệp văn hóa chưa thực sự hình thành; sự thiếu hụt các quỹ đầu tư mạo hiểm, các cơ chế tài chính đặc thù hỗ trợ các Start-up và dự án nghệ thuật trên không gian số khiến nhiều ý tưởng sáng tạo tiềm năng bị “chết yểu” ngay từ trong trứng nước.

Để khơi thông những điểm nghẽn nêu trên, giải pháp đột phá và căn cơ nhất phải bắt đầu từ việc hoàn thiện thể chế và chính sách kiến tạo. Thể chế phải đi trước một bước, đóng vai trò “bệ phóng” thay vì rào cản.

Nhiệm vụ cấp bách hiện nay là khẩn trương đẩy nhanh quá trình, hoàn thiện và thông qua Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Đạo luật này cần cụ thể hóa tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW và Nghị quyết 28/2026/QH16, tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, định danh rõ ràng các ngành nghề, sản phẩm của công nghiệp văn hóa số, từ đó áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng đáp ứng yêu cầu phát triển.

 Bên cạnh đó, pháp luật cần sớm luật hóa và áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với các mô hình kinh doanh văn hóa số mới. Môi trường Sandbox cho phép các doanh nghiệp công nghệ, những nhà sáng tạo nội dung thử nghiệm các ý tưởng đột phá (ví dụ: phát hành tài sản số nghệ thuật, sàn giao dịch bản quyền ứng dụng blockchain) trong một không gian an toàn, có giới hạn. Điều này giúp cơ quan quản lý đánh giá thực tế rủi ro, bảo vệ lợi ích công cộng, đồng thời hỗ trợ sức sáng tạo ngay từ giai đoạn khởi phát.

Đặc biệt, bài toán bảo vệ bản quyền trên môi trường số phải được xem là điều kiện tiên quyết để nuôi dưỡng hệ sinh thái. Các khung quy định về tác quyền, đặc biệt là cơ chế định mức nhuận bút và phân chia doanh thu như tinh thần của Nghị định 287/2026/NĐ-CP (quy định về chế độ nhuận bút, thù lao), cần được cập nhật thường xuyên, mở rộng phạm vi áp dụng cho các nền tảng xuyên biên giới. Phải có công cụ pháp lý và chế tài đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà sáng tạo nội dung, nhà văn, nhà báo, nghệ sĩ trước vấn nạn sao chép lậu và sự can thiệp trái phép của trí tuệ nhân tạo (vi phạm dữ liệu huấn luyện). Sự minh bạch trong phân chia lợi ích kinh tế là động lực duy nhất giữ chân lực lượng tinh hoa gắn bó với hệ sinh thái sáng tạo trong nước.

Cuối cùng, cần khơi thông nguồn lực bằng cơ chế hợp tác công - tư (PPP). Trong một hệ sinh thái rộng lớn, Nhà nước không thể và không nên bao sân mọi việc. Vai trò của Nhà nước là kiến tạo, dẫn dắt hạ tầng cơ sở dữ liệu quốc gia và xây dựng hành lang pháp lý. Đồng thời, cần ban hành những cơ chế thông thoáng nhằm khuyến khích các tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ lớn của Việt Nam tham gia đầu tư, vận hành hạ tầng văn hóa số, hình thành các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo nghệ thuật.

Kiến tạo hệ sinh thái số cho công nghiệp văn hóa không chỉ là một dự án công nghệ, mà là một cuộc chuyển đổi sâu sắc về tư duy quản trị quốc gia: chuyển đổi từ tư duy tiếp cận “hành chính - sự nghiệp” sang “kinh tế sáng tạo - thị trường văn hóa”.

Nắm bắt tốt xu hướng này là chìa khóa để Việt Nam hướng tới tầm nhìn năm 2045: xây dựng một hệ sinh thái văn hóa số toàn diện, thông minh và tương tác cao. Khi đó, công nghiệp văn hóa sẽ thực sự trở thành trụ cột kinh tế bền vững, đóng góp 9% GDP quốc gia, với quy mô các sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm tỷ trọng áp đảo trên 80%. Quan trọng hơn, một hệ sinh thái số bản địa vững mạnh sẽ là đôi cánh để các giá trị văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc lan tỏa mạnh mẽ, gia tăng sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh cốt lõi của Việt Nam trên trường quốc tế. Tương lai của văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, định hình rõ nét qua chính những nền tảng số mà chúng ta đang kiến tạo ngày hôm nay.  

Không gian trải nghiệm số tại Hoàng thành Thăng Long cho thấy cách dữ liệu, công nghệ và di sản có thể kết nối thành một hệ sinh thái văn hóa mới.
Ảnh: Hoàng thành Thăng Long
Không gian trải nghiệm số tại Hoàng thành Thăng Long cho thấy cách dữ liệu, công nghệ và di sản có thể kết nối thành một hệ sinh thái văn hóa mới. - Ảnh: Hoàng thành Thăng Long

NGÔ HỒNG VÂN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 656, tháng 9/2026