Từ khóa: định hướng; kinh tế di sản; người Ê đê; Đắk Lắk.
Abstract: Over the past few decades, the cultural values of the Ê đê people have been leveraged to pro mote tourism development, leading to the initial formation of signature products that help define the local brand. Nevertheless, in the face of profound socio-economic transformations and the impact of administrative reform policies, the orientation for heritage economy development needs to be evaluated and restructured to be more contemporary. In terms of heritage economics, the article focuses on identifying the economic value of heritage and its current state of development, while pointing out existing limitations in the process of transforming cultural resources into economic products. Based on this analysis, the paper proposes several strategic directions for the Ê đê people heritage economy to achieve the dual objectives of generating surplus value and diversifying livelihoods for the local community, while ensuring a sustainable balance between commercial exploitation and heritage protection.
Keywords: orientation; heritage economy; the Ê đê people; Đắk Lắk.

1. Đặt vấn đề
Hiện nay, sức mạnh nội sinh của di sản văn hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia và khu vực. Theo Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam (Bộ Chính trị, 2026, tr.10): “Di sản văn hóa là trung tâm và tài nguyên văn hóa số là thế mạnh, hướng đến việc bảo tồn, phát huy, phát triển bền vững các giá trị văn hóa. Tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia sản xuất, tiêu dùng, phản biện và chia sẻ lợi ích từ tài nguyên văn hóa. Đầu tư bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị di sản văn hóa lồng ghép vào mục tiêu phát triển bền vững về môi trường, văn hóa, kinh tế, xã hội gắn với sinh kế cộng đồng, hình thành một số đô thị di sản, phát triển kinh tế di sản, góp phần hoàn thiện hệ sinh thái văn hóa”. Thực tế đã chứng minh các phương diện của di sản văn hóa không chỉ là tài sản đặc biệt quý giá ở lĩnh vực văn hóa, giáo dục, chính trị, mà đó còn là nguồn lực to lớn trong phương diện phát triển kinh tế. Quan điểm kinh tế di sản ra đời xuất phát từ những nhận thức rằng “Di sản văn hóa và thiên nhiên có thể khai thác và tạo ra giá trị kinh tế, đồng thời đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa” (Phạm Duy Đức, 2024, tr.48). Trong đó, vai trò lớn nhất của kinh tế di sản là gắn kết bảo tồn di sản với bảo vệ môi trường, đảm bảo các hoạt động kinh tế được phát triển bền vững, cân bằng tăng trưởng hài hòa giữa hoạt động bảo tồn và phát triển di sản. “Việc phát triển kinh tế di sản không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là con đường cụ thể để hiện thực hóa chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực phát triển đất nước nhanh và bền vững” (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025).
Bối cảnh xã hội và môi trường mới hậu sáp nhập đòi hỏi một cách tiếp cận mới trong việc bảo tồn di sản người Ê đê tại Đắk Lắk. Theo Nghị quyết số 60-NQ/TW, ngày 12/4/2025, Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII quyết định hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Phú Yên (trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Đắk Lắk). Bối cảnh này không chỉ là sự thay đổi hành chính, mà là sự thay đổi về cấu trúc thị trường và quy mô tiếp cận di sản, về những cơ hội phát triển mới, trở thành nguồn lực di sản chủ đạo của trục hành lang kinh tế Đông - Tây trên nhiều phương diện. Do đó, việc lồng ghép các yếu tố kinh tế di sản không chỉ đáp ứng yêu cầu thực tiễn mà còn tối ưu hóa công tác quản lý đối với những di sản đặc thù tại Đắk Lắk.
Hiện nay, giá trị kinh tế di sản của người Ê đê được nhận diện như thế nào, cách thức nào phù hợp để phát triển kinh tế di sản dựa trên giá trị nguồn lực đó, nhằm chuyển hóa những giá trị biểu tượng trở thành những sản phẩm hàng hóa đặc thù, hướng đến mục tiêu cao hơn trong bảo tồn di sản, đảm bảo hài hòa mục tiêu giữa phát triển và bảo tồn. Giải quyết những vấn đề cấp thiết này không chỉ có ý nghĩa đối với bảo vệ di sản của tộc người Ê đê trước nguy cơ đứt gãy và mai một các loại hình di sản, mà còn góp phần phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Đắk Lắk. Bài viết đặt mục tiêu nghiên cứu chính nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển kinh tế di sản dựa trên di sản phi vật thể tộc người, nhận diện giá trị kinh tế di sản, chuyển hóa - khai thác, phát triển, đồng thời góp phần đề xuất định hướng phát triển kinh tế di sản của người Ê đê bền vững.
2. Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của bài viết là hệ thống giá trị di sản văn hóa phi vật thể của người Ê đê trong phát triển kinh tế di sản. Không gian nghiên cứu cụ thể được tác giả lựa chọn tại các buôn làng người Ê đê ở Đắk Lắk, bao gồm buôn Akŏ Dhong, buôn Tơng Jŭ, buôn Trí, buôn Kuốp. Đây là những buôn có đông người Ê đê tập trung cư trú, có vị trí địa lý tiếp cận thuận lợi, có buôn nằm ở Buôn Ma Thuột, có buôn nằm ở khu vực ngoại vi, do đó mức độ phát triển kinh tế di sản được biểu hiện ở những mức độ khác nhau. Nghiên cứu được thực hiện chủ yếu thông qua tiếp cận định tính, cụ thể bằng phương pháp điền dã, phương pháp so sánh - đối chiếu và các kỹ thuật nghiên cứu như thu thập và xử lý tài liệu, phân tích - tổng hợp tài liệu theo hướng tiếp cận liên ngành. Trong đó, đối với phương pháp thực địa, tiếp cận phỏng vấn sâu nghệ nhân, chủ thể di sản, những cá nhân và gia đình tại các buôn tham gia cung cấp dịch vụ du lịch cũng như các hoạt động phát triển kinh tế di sản nhằm thu thập thông tin mức độ tham gia (các dịch vụ cung cấp), phân chia lợi ích, nguồn thu nhập…
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả
Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế di sản của người Ê đê
Kinh tế di sản là một lĩnh vực nghiên cứu tập trung vào nội dung sử dụng và khai thác các giá trị di sản văn hóa và tự nhiên để tạo ra giá trị kinh tế trong mối quan hệ hai chiều giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản, sử dụng tài nguyên di sản nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế và bảo tồn văn hóa. Các nhà khoa học chứng minh hoạt động kinh tế di sản đã tồn tại từ lâu, tuy nhiên thuật ngữ kinh tế di sản chỉ mới ra đời trong những năm gần đây. “Di sản là nguồn tài nguyên vô giá không chỉ về mặt ý nghĩa tinh thần mà còn là nguồn tài nguyên kinh tế to lớn với những đặc điểm không thể thay thế” (Bùi Đại Dũng, Nguyễn Thị Vĩnh Hà, Nguyễn Thị Hoa Hạnh, 2020, tr.180). “Kinh tế di sản là một lĩnh vực kinh tế đặc biệt, dựa trên các giá trị của di sản văn hóa, thiên nhiên để phát triển kinh tế, vậy nên phải nhận thức nó trên phương diện kinh tế học, nghĩa là có đầu tư, doanh thu và lợi ích kinh tế”, (Nguyễn Hồng Diên, 2024, tr.13-14). Theo đó, kinh tế di sản được xem là một lĩnh vực kinh tế đặc biệt, xuất phát từ những giá trị mang tính biểu tượng để tạo ra giá trị kinh tế, có sự chuyển đổi trong các dịch vụ hàng hóa, để đưa ra thị trường. “Ngay cả khi một số tài sản di sản văn hóa được sử dụng để khai thác kinh tế chủ yếu thông qua du lịch, thì cách tiếp cận chung để đánh giá giá trị kinh tế của chúng vẫn khác với các hàng hóa hoặc dịch vụ khác” (Alexandrakis, G., Manasakis, C., & Kampanis, N. A, 2019, tr.279).
Ngoài việc tiếp cận như một loại hình kinh tế đặc biệt, các nhà nghiên cứu về kinh tế di sản còn nhấn mạnh đến việc bảo vệ và gìn giữ di sản thông qua phát triển kinh tế, cân bằng hài hòa lợi ích giữa bảo tồn và phát triển. “Di sản văn hóa và thiên nhiên có thể được khai thác để tạo ra giá trị kinh tế, đồng thời đóng góp vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa” (Hoàng Đạo Cương, 2024, tr.31-32). Trong các hoạt động phát triển kinh tế di sản, du lịch được xem là một trong những công cụ có tác động mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế địa phương thông qua xây dựng các sản phẩm du lịch. Đồng thời, việc khai thác nguồn lực, lợi thế, tiềm năng của các loại hình di sản còn thúc đẩy sự phát triển của các yếu tố khác như kết cấu hạ tầng, dịch vụ, thúc đẩy các hoạt động giao thương, buôn bán và nguồn lao động. Theo tác giả Nguyễn Hồng Diên (2024, tr.13-14) nội dung phát triển kinh tế di sản gồm: “Giá trị kinh tế của di sản - Bảo tồn và khai thác, phát triển bền vững di sản - Nâng cao tính cộng đồng trong kinh tế di sản”. Đây là ba trụ cột cốt lõi khi khai thác kinh tế di sản hướng đến bảo tồn bền vững giá trị của di sản, từ tập trung khai thác giá trị kinh tế của di sản, đến bảo tồn và lan tỏa giá trị di sản trong sự phát triển bền vững và nâng cao tính cộng đồng - chủ thể chính của di sản, bảo vệ di sản sống trong môi trường hiện nay.
Giá trị kinh tế di sản văn hóa phi vật thể của người Ê đê hiện nay
Về hình thức nghệ thuật diễn xướng dân gian và nhạc cụ truyền thống
Diễn xướng dân gian của người Ê đê là một trong những loại hình nghệ thuật độc đáo trong các bình diện văn hóa nghệ thuật của dân tộc này. Trong đó, diễn xướng cồng chiêng, sử thi (khan - aghan), lời nói vần (klei duê)… là những loại hình đặc trưng hơn cả. Ngoài ra, người Ê đê còn biết sử dụng các chất liệu tự nhiên để sáng tạo ra nhiều loại nhạc cụ độc đáo như đing tut, ky pah, đing năm, đing pâng - k’tuut, đing tăk tar, b’rôh… thực hành trong các hình thức diễn xướng dân gian, cùng hàng trăm bài dân ca, điệu múa cổ… Trong bối cảnh phát triển kinh tế di sản, diễn xướng không còn chỉ diễn ra trong phạm vi buôn làng mà trở thành một sản phẩm du lịch đặc thù. Thông qua các buổi trình diễn tại các buôn, khu du lịch, điểm du lịch, bảo tàng, trung tâm văn hóa… diễn xướng trở thành yếu tố kéo dài thời gian lưu trú của du khách. Một đêm trải nghiệm tham gia giao lưu biểu diễn cồng chiêng bên bếp lửa nhà dài có thể làm tăng giá trị của gói dịch vụ lưu trú so với việc chỉ thuê phòng đơn thuần. Bên cạnh đó, các nghệ nhân không chỉ chế tác nhạc cụ để sử dụng mà còn để bán làm quà lưu niệm hoặc cung cấp cho các đoàn nghệ thuật, tạo ra giá trị gia tăng nhờ vào những kỹ thuật đặc biệt. Xét riêng về diễn xướng cồng chiêng: “Tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức các chương trình biểu diễn định kỳ phục vụ nhân dân và du khách kể từ giai đoạn 2017 đến nay, với 121 kỳ biểu diễn, thu hút hơn 153.500 lượt khách và nhân dân địa phương” (Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk, 2025, tr.93).
Đồng thời, hiện nay, nhạc cụ âm nhạc, tạo hình điêu khắc gỗ, thổ cẩm Ê đê đã trở thành những sản phẩm trang trí tại các không gian như khách sạn, nhà hàng, khu du lịch… từ đó, góp phần hình thành hệ sinh thái thị giác, một mặt, du khách có thể tiếp cận và tìm hiểu về di sản của người Ê đê, mặt khác giúp cơ sở kinh doanh định vị thương hiệu điểm đến. Từ đó, chuyển hóa các giá trị biểu tượng trở thành các hàng hóa đặc thù trong lĩnh vực kinh tế di sản. Đồng thời, theo khảo sát của tác giả, các buôn làng đang tổ chức khai thác du lịch dựa trên tài nguyên di sản văn hóa (biểu diễn cồng chiêng) như buôn Akŏ Dhông, buôn Trí, buôn Tơng Jŭ, buôn Kuốp… đã góp phần nâng cao thu nhập cho cộng đồng địa phương. Theo bà H’ Lệ Niê ở buôn Kuốp: “Chi phí ăn uống thì tùy theo thực đơn, nhưng mà anh chị tổ chức giao lưu các nghệ nhân cồng chiêng như vậy thì trong một chương trình 7 triệu đồng. Vì mỗi đội giao lưu thì tới 15 người biểu diễn, 1 người làm dẫn chương trình, thì sẽ trả chi phí cho các nghệ nhân rồi tính toán các chi phí khác trong khoảng tiền đó”.
Về tập quán xã hội, tín ngưỡng, các hoạt động cầu cúng và lễ hội
Trong kinh tế di sản, các tập quán xã hội, tín ngưỡng và lễ hội của người Ê đê được xem là những tài sản đặc biệt, là những thành tố khó định giá nhất nhưng lại là động lực tạo ra sức hút độc cho các sản phẩm kinh tế khác (như du lịch, ẩm thực, lưu trú). Các lễ hội như lễ cúng bến nước, lễ cúng sức khỏe cho Voi, lễ mừng lúa mới hiện nay đang vận hành như những sự kiện văn hóa, kinh tế lớn, tạo ra doanh thu cho hệ thống dịch vụ tại địa phương, là nguồn lực chiều sâu cốt lõi trong việc phát triển kinh tế di sản. Thay vì chỉ là những biểu tượng văn hóa thuần túy, các thành tố vận hành như một dạng vốn văn hóa chiến lược, tạo ra giá trị khác biệt và năng lực cạnh tranh bền vững thông qua việc vốn hóa “câu chuyện di sản” và tạo ra giá trị thặng dư cao. Một mặt, các lễ hội hình thành thương hiệu điểm đến, mặt khác, góp phần xây dựng câu chuyện di sản, từ đó, gia tăng chiều sâu của các hoạt động trải nghiệm, giáo dục đối với các sản phẩm du lịch. Các hoạt động lễ hội đồng thời góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch tại các buôn làng, ông Khăm Bun Hua Hwing, buôn Trí chia sẻ về các hoạt động du lịch cung cấp cho du khách khi tham gia du lịch cộng đồng: “…giao lưu cồng chiêng, đi xem tắm Voi, cho Voi ăn, tham gia lễ cúng sức khỏe cho Voi, đi thuyền độc mộc, đi vào rừng, lên nương, lên rẫy… đi xuống sông Serepok thả lưới, câu cá… đi tìm hiểu về văn hóa truyền thống của người Ê đê, Mnông, Lào…”.
Nghề thủ công truyền thống
Nghề thủ công của người Ê đê chủ yếu là dệt thổ cẩm, tạo hình điêu khắc gỗ, đan lát mây tre, ủ rượu cần, rèn sắt... Hiện nay, một số sản phẩm thủ công truyền thống đã trở thành hàng hóa như thổ cẩm, rượu cần, thuốc thảo mộc Ama Kông và một số sản phẩm tạo hình dân gian, tạo hình điêu khắc gỗ, được du khách đón nhận, từ quà lưu niệm du lịch, phụ kiện thời trang, đồ gia dụng đến trang phục biểu diễn, mở ra nhiều cơ hội cho phụ nữ Ê đê, cho các bà, các mẹ có thêm nguồn thu nhập. Một số dữ liệu tác giả thu thập được thông qua quá trình điền dã tại các buôn làng, một chiếc gùi Ê đê truyền thống được bán ra từ 120.000-300.000 đồng tùy kích cỡ, một chiếc nia từ 50.000-150.000 đồng. Đối với các sản phẩm thổ cẩm, có giá từ 300.000 đồng đến vài triệu đồng, các sản phẩm phụ kiện như túi thổ cẩm có giá từ 70.000-150.000 đồng. Chị H’Min Niê, buôn Akŏ Dhong chia sẻ: “Và khách cũng ưa chuộng các sản phẩm dệt thủ công của chị nhiều, hồi xưa khách Tây là chủ yếu. Nhưng bây giờ là khách Việt mình cũng nhiều lắm. Ví dụ các sản phẩm này, cũng cỡ 600.000-900.000 đồng, một số sản phẩm dài hơn và to hơn để may trang phục thì từ 1.000.000-3.000.000 đồng, hoặc cao hơn”. Bằng cách thúc đẩy hợp tác giữa nghệ nhân - doanh nghiệp và thiết lập các kênh tiếp thị hiệu quả, các sản phẩm này có thể vượt ra khỏi thị trường ngách để trở thành nguồn thu nhập bền vững, đồng thời bảo tồn cả kỹ năng và câu chuyện trong từng sản phẩm thủ công của người Ê đê.
Ẩm thực truyền thống
Ẩm thực truyền thống của người Ê đê hiện nay đã thoát khỏi phạm vi gian bếp gia đình để trở thành sản phẩm du lịch đặc thù, đây là dòng doanh thu lớn nhất. Tại các buôn du lịch cộng đồng như buôn Akŏ Dhong, ẩm thực đóng góp từ 40% - 60% tổng chi tiêu của du khách. Theo chia sẻ của bà Y.N.N tại buôn Akŏ Dhong: “Du khách đến với buôn có mức độ rất hài lòng với ẩm thực truyền thống của buôn làng, không chỉ thưởng thức các món ăn, chúng tôi cùng du khách sẽ thực hiện các món ăn truyền thống… và thưởng thức cà phê do chúng tôi tự trồng rang xay… ngoài công việc chăm sóc cà phê ở rẫy, hiện nay nhiều chị em phụ nữ đã cùng nhau chuẩn bị nguyên liệu, cung cấp các món ăn truyền thống đến với du khách, nên chúng tôi có thêm nguồn thu nhập…”. Một bữa ăn của người Ê đê được phục vụ trên sàn nhà dài, kết hợp với những câu chuyện về nguồn gốc món ăn, sẽ góp phần tạo ra giá trị kinh tế cao hơn. Đồng thời, di sản của người Ê đê còn đóng vai trò là yếu tố khác biệt hóa sản phẩm. Khi các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Tây Nguyên như cà phê, hồ tiêu, ca cao được gắn liền với không gian văn hóa cồng chiêng, tri thức canh tác nương rẫy hay các huyền thoại từ sử thi, lời nói vần, luật tục, những sản phẩm này vượt ra khỏi những sản phẩm nông sản thông thường. Tính độc đáo, câu chuyện của người Ê đê trở thành một “chỉ dẫn địa lý văn hóa”, bảo chứng cho sự độc đáo và nguồn gốc xuất xứ, giúp nông sản thiết lập một phân khúc thị trường mới với biên độ lợi nhuận lớn hơn. Từ đó, tạo sinh kế tại chỗ, hình thành nghề nghiệp mới cho cộng đồng (hướng dẫn viên, nghệ nhân biểu diễn, thợ thủ công, nhà cung cấp ẩm thực, lưu trú homestay…).
3.2. Thảo luận
Từ những kết quả trên cho thấy, thực tế phát triển kinh tế di sản của người Ê đê đã có nhiều hoạt động tích cực từ việc khai thác các loại hình di sản đặc thù của tộc người, thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế, mang lại nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, soi chiếu với lý thuyết kinh tế di sản, có thể thấy, hai mục tiêu chính là phát triển kinh tế và bảo tồn di sản vẫn chưa đáp ứng trong tiến trình phát triển tại địa phương.
Thứ nhất, về phương diện phát triển kinh tế: việc phát triển kinh tế di sản tại các buôn làng người Ê đê hiện nay dù đã đạt được những kết quả bước đầu về mặt quảng bá, gia tăng thu nhập, sinh kế địa phương, song trên thực tế, lợi ích kinh tế mang lại cho cộng đồng chưa cao. Cộng đồng thường đóng vai trò là cung cấp dịch vụ thô (như biểu diễn cồng chiêng, phục vụ ăn uống) với mức thù lao thấp, chưa tương xứng với giá trị văn hóa họ đang nắm giữ. Nếu kinh tế di sản không mang lại thu nhập cao và ổn định hơn việc làm nông hoặc làm công nhân tại các khu công nghiệp, thế hệ trẻ người Ê đê sẽ rời bỏ buôn làng. Sự đứt gãy trong truyền dạy di sản sẽ dẫn đến việc mất đi nguồn vốn văn hóa, tài nguyên và nguồn lực di sản trong phát triển kinh tế.
Thứ hai, về phương diện bảo tồn và truyền nối di sản: việc phát triển kinh tế di sản tại các buôn làng người Ê đê, dù đã tạo ra những chuyển biến về sinh kế, song thực tế vẫn tồn tại những nghịch lý khiến mục tiêu bảo tồn và truyền nối di sản chưa đạt được hiệu quả như kỳ vọng. Hiện nay, chưa có sự cân bằng trong việc bảo tồn giữa các loại hình di sản, các chính sách bảo tồn, phát huy di sản chỉ mới quan tâm đến cồng chiêng, phục dựng diễn xướng cồng chiêng, truyền dạy cồng chiêng. Đối với các hình thức diễn xướng khác của người Ê đê như sử thi, lời nói vần, các loại nhạc cụ âm nhạc dân gian… chưa được quan tâm bảo tồn, lưu trữ, phục dựng trong cộng đồng. Theo lời chia sẻ của nhà nghiên cứu Linh Nga Niê Kdam: “Các chương trình bảo tồn hiện nay chỉ chú trọng đến các nhạc cụ cải tiến, mà chưa quan tâm đến các nhạc cụ dân gian. Chỉ tập huấn các nhạc cụ cải tiến mà bỏ qua phát huy các loại nhạc cụ khác…”.
Dựa trên cơ sở kết quả và thảo luận trên, tác giả rút ra một số định hướng nhằm phát triển kinh tế di sản của người Ê đê trong thời gian tới như sau:
Thứ nhất, định hướng khai thác giá trị của kinh tế di sản: phát triển kinh tế của di sản với mục đích tăng trưởng kép trên cả hai phương diện kinh tế và bảo tồn di sản, trong đó chú trọng phát triển du lịch cộng đồng, du lịch di sản, du lịch sáng tạo, du lịch bền vững trong môi trường “sống” của di sản. Theo tác giả Dương Văn Sáu (2023, tr.46): “Chu trình biến văn hóa thành hàng hóa qua con đường du lịch, bao gồm: Giá trị của tài nguyên văn hóa bản địa => Dịch vụ du lịch thích hợp => Sản phẩm du lịch đặc trưng => Hàng hóa văn hóa đặc thù”. Như vậy, phát triển kinh tế di sản của người Ê đê bắt đầu từ việc nhận diện giá trị tài nguyên làm nguồn vốn đầu vào. Tiếp nối là giai đoạn xây dựng dịch vụ thích hợp, nơi các tài nguyên tĩnh được chuyển hóa thành các hoạt động trải nghiệm chuyên sâu. Tại đây, nhà dài không chỉ là kiến trúc mà trở thành dịch vụ lưu trú di sản; các phong tục, tập quán, hành động và ngôn ngữ của nghệ nhân được chuyển hóa thành dịch vụ trình diễn nghệ thuật diễn xướng và ẩm thực truyền thống trở thành dịch vụ thưởng thức trong không gian đặc thù. Khi các dịch vụ này được kết hợp chặt chẽ, hình thành các sản phẩm du lịch đặc trưng và những sản phẩm đặc trưng trở thành hàng hóa văn hóa đặc thù.
Thứ hai, bảo tồn và khai thác, phát triển bền vững di sản: hoạt động bảo tồn, khai thác và phát triển bền vững di sản đã được thể hiện rõ trong quan điểm của UNESCO, của Đảng và Nhà nước, hướng đến mục tiêu cân bằng hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển. Dựa trên các nguyên tắc của Công ước 2003 (UNESCO) về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể và bối cảnh thực tế của người Ê đê, việc định hướng khai thác kinh tế di sản cần được phân tích qua lăng kính bảo tồn bền vững. Cộng đồng chủ thể Ê đê nên được đặt vào vị thế trung tâm của chuỗi giá trị, không chỉ là người sở hữu mà còn là bên trực tiếp quản trị, thực hành và thụ hưởng những lợi ích kinh tế và phân chia. Quyền tự quyết của cộng đồng trong việc phân định các ranh giới văn hóa, xác định rõ những giá trị có thể chia sẻ rộng rãi với công chúng, cũng như những loại hình di sản nào được thực hành, phát triển với mức độ nào. Đồng thời, cần khẳng định rằng giá trị kinh tế của di sản phi vật thể chỉ thực sự bền vững khi nó tồn tại dưới dạng “di sản sống”, gắn liền mật thiết với hệ sinh thái nhân văn và sự trao truyền liên tục trong chính cộng đồng. Trong đó vai trò lớn nằm ở các nhà quản lý văn hóa và du lịch tại địa phương, là đối tượng trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý, hoạch định để vừa khai thác, bổ sung và tái tạo di sản. “Sự tham gia, trình bày và giải thích của cộng đồng, quan hệ đối tác và bản sắc, hình ảnh và hồ sơ di sản và du lịch là những nguyên tắc khác cần thiết cho việc bảo vệ và tái sử dụng tài nguyên văn hóa” (Douglas, N. & Derrett, R, 2001, tr.154-158).
Thứ ba, nâng cao tính cộng đồng và vai trò chủ thể trongkinh tế di sản: là nguồn lực di sản, cũng là nguồn lực du lịch, chủ thể - người Ê đê trong buôn nên được khuyến khích và giữ vai trò quan trọng trong công tác tổ chức du lịch và cung cấp các sản phẩm du lịch. Đây là đối tượng có thể nhìn thấy những giá trị di sản có thể tiếp nối, phát triển, cũng là đối tượng có thể phát hiện ra những nguy cơ, tác động tiêu cực của du lịch đối với di sản. “Công ước của UNESCO cũng đã nâng cao vai trò của cộng đồng - những người là chủ sở hữu và đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tạo, duy trì và trao truyền di sản văn hóa” (Từ Thị Loan, 2019, tr.184). Do đó, để cộng đồng cùng thực hiện chức năng tự quản lý di sản và tham gia phát triển du lịch bền vững là định hướng quan trọng, dưới sự hướng dẫn của các cơ quan quản lý di sản, sự hướng dẫn của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, sự hỗ trợ, đồng thuận của khách du lịch và cả cộng đồng. Tiến trình tương tác này hướng tới hai mục tiêu chiến lược: củng cố năng lực của cộng đồng trong gìn giữ bản sắc và thích ứng chủ động trước sự phát triển của kinh tế di sản và kinh tế sáng tạo; thiết lập mô hình du lịch bền vững dựa trên nguyên tắc công bằng kinh tế (SDG 8) và công bằng xã hội (SDG 11) và nâng cao vai trò chủ thể của người Ê đê, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, cân bằng tăng trưởng, tiếp cận bảo vệ di sản Ê đê cần đặt cộng đồng vào vị trí trọng tâm của mọi hoạt động.
4. Kết luận
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng, di sản văn hóa không thể tách rời dòng chảy kinh tế. Việc đưa di sản văn hóa vào trong Nghị quyết số
80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam và đặt ở vị trí trọng tâm đã thể hiện một bước tiến rất quan trọng về nhận thức và tư duy hành động từ mặt quản lý. Từ đó, nhìn lại lý thuyết kinh tế di sản để thấy rằng việc định hướng phát triển di sản văn hóa cần một lý thuyết vững chắc làm điểm tựa cho sự phát triển. Lý thuyết kinh tế di sản cần đáp ứng được hai tiêu chí quan trọng: khai thác để phát triển kinh tế; trên nền tảng phát triển kinh tế để giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hóa. Giá trị kinh tế di sản văn hóa phi vật thể của tộc người Ê đê đã và đang được phát triển kinh tế thông qua nhiều cách thức khác nhau. Bài viết xây dựng một số định hướng dựa trên tính phù hợp và lý thuyết kinh tế di sản vào bối cảnh thực tiễn của tộc người Ê đê hiện nay, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ di sản tộc người.
_____________________________
Tài liệu tham khảo
1. Ban Chấp hành Trung ương. (2025). Nghị quyết số 60-NQ/TW về việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Phú Yên.
2. Ban Chấp hành Trung ương. (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam.
3. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2025). Đánh thức tiềm năng kinh tế từ di sản. https://bvhttdl.gov.vn/danh-thuc-tiem-nang-kinh-te-tu-di-san-0251105091457706.htm
4. Bùi Đại Dũng, Nguyễn Thị Vĩnh Hà, Nguyễn Thị Hoa Hạnh. (2020). Heritage economics and heritage benefit optimization (Kinh tế học di sản và tối ưu hóa lợi ích di sản). International Journal of Economics, Business and Management Research. 4(4).
5. Dương Văn Sáu. (2023). Những vấn đề lý luận về phát triển kinh tế di sản ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Khoa học, Đại học Hạ Long.
6. Douglas, N. & Derrett, R. (2001). Special Interest Tourism (Du lịch chuyên đề). John Wiley & Sons.
7. Alexandrakis, G., Manasakis, C., & Kampanis, N. A. (2019). Economic and societal impacts on cultural heritage sites, resulting from natural effects and climate change (Các tác động kinh tế và xã hội đối với các di tích di sản văn hóa, phát sinh từ các hiệu ứng tự nhiên và biến đổi khí hậu). Heritage. 2(1). https://doi.org/10.3390/heritage2010001
8. Hoàng Đạo Cương. (2024). Phát triển kinh tế di sản ở Việt Nam: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra. Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thúc đẩy động lực tăng trưởng mới - Góc nhìn từ thực tiễn phát triển kinh tế di sản của tỉnh Quảng Ninh. Tạp chí Cộng sản.
9. Nguyễn Hồng Diên. (2024). Kinh tế di sản trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay. Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thúc đẩy động lực tăng trưởng mới - Góc nhìn từ thực tiễn phát triển kinh tế di sản của tỉnh Quảng Ninh. Tạp chí Cộng sản.
10. Phạm Duy Đức. (2024). Đổi mới tư duy nhận thức về kinh tế di sản trong phát triển nhanh và bền vững đất nước. Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thúc đẩy động lực tăng trưởng mới - Góc nhìn từ thực tiễn phát triển kinh tế di sản của tỉnh Quảng Ninh. Tạp chí Cộng sản.
11. Tu Thi Loan. (2019). Cultural Heritage in Vietnam With the Requirements of Sustainable Development (Di sản văn hóa ở Việt Nam với các yêu cầu về phát triển bền vững). International Relations and Diplomacy. (7).
12. Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk. (2025). Báo cáo Tổng kết 20 năm thực hiện công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk (2005-2025), định hướng đến năm 2030.
13. UNESCO. (2003). Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể. https://ich.unesco.org/doc/src/00009-VI-PDF.pdf
Ngày Tòa soạn nhận bài: 18/3/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/4/2026; Ngày duyệt đăng: 28/4/2026.
Ths NGUYỄN THỊ KIM OANH - Ths NGUYỄN THỊ THẠCH NGỌC
Nguồn: Tạp chí VHNT số 642, tháng 5-2026