Từ khóa: Tết Khu Cù Tê; người La Chí; di sản văn hóa phi vật thể; bảo tồn; chuyển đổi số.

Abstract: This article analyzes the value and current state of preservation of the Khu Cu Te festival Heritage - a unique traditional ritual of the La Chi people in Xin Man, Tuyen Quang province. This ritual deeply reflects the community’s religious life, indigenous knowledge, and ethnic cultural identity. In the context of globalization and social change, the practice of the Khu Cu Te festival is facing numerous challenges including the risk of the ritual becoming obsolete, a decline in the number of participants, and limitations in the work of archiving and transmission. Based on fieldwork data and practical surveys, combined with the orientation toward applying digital technology, the author proposes solutions for preserving Khu Cu Te festival in the digital age. These solutions aim to safeguard the traditional value and disseminate the heritage’s significance through modern methods.

Keywords: Khu Cu Te Festival; La Chi people; intangible cultural heritage; preservation; digital transformation.

Untitledyt.jpg
Âm vang trống chiêng rộn rã giữa ngày hội Khu Cù Tê của người La Chí - Ảnh: baotuyenquang.com.vn

1. Đặt vấn đề

Trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tết Khu Cù Tê của người La Chí (xã Xín Mần, tỉnh Tuyên Quang) nổi bật như một minh chứng sống động cho mối quan hệ gắn bó giữa con người và tự nhiên, giữa tín ngưỡng và lao động sản xuất. Đây là dịp để cộng đồng bày tỏ lòng biết ơn tổ tiên, cầu mùa màng bội thu, đồng thời khẳng định những giá trị cốt lõi về văn hóa, nghệ thuật và bản sắc tộc người. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, đô thị hóa và biến đổi kinh tế, xã hội, Tết Khu Cù Tê đang đứng trước nhiều thách thức: số lượng người tham gia giảm dần, nhiều nghi thức bị giản lược, người cao tuổi nắm giữ nghi lễ ngày càng ít đi và việc truyền dạy cho thế hệ trẻ còn hạn chế. Những thách thức này đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo tồn, không chỉ theo hướng truyền thống mà còn bằng các phương thức hiện đại, phù hợp với thời đại số.

Việc ứng dụng công nghệ số vào bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể đã trở thành xu thế tất yếu, giúp lưu trữ, tái hiện và phổ biến những giá trị văn hóa độc đáo tới công chúng rộng rãi hơn. Tuy đã có một số công trình đề cập đến người La Chí và Tết Khu Cù Tê, song các nghiên cứu hiện nay chủ yếu dừng ở việc mô tả lịch sử - nghi lễ, chưa đi sâu vào vấn đề bảo tồn Tết Khu Cù Tê trong bối cảnh chuyển đổi số, cũng như chưa có dữ liệu định lượng, định tính đủ lớn phản ánh nhận thức và mức độ tham gia của chính cộng đồng La Chí đối với quá trình này.

Mục tiêu của nghiên cứu này là phân tích giá trị và thực trạng bảo tồn di sản Tết Khu Cù Tê - nghi lễ truyền thống đặc sắc của người La Chí ở Xín Mần, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo tồn Tết Khu Cù Tê trong thời đại số nhằm giữ gìn giá trị truyền thống và lan tỏa giá trị di sản bằng phương thức hiện đại, dựa trên tư liệu điền dã, khảo sát thực tế và định hướng ứng dụng công nghệ số. Trên cơ sở thực tiễn, bài viết tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu: (i) Những giá trị văn hóa - tín ngưỡng cốt lõi nào của Tết Khu Cù Tê đang bị thách thức trong bối cảnh hiện nay?; (ii) Cộng đồng La Chí hiện nhìn nhận và tham gia như thế nào vào quá trình số hóa, chuyển đổi số di sản Tết Khu Cù Tê?; (iii) Có thể xây dựng mô hình bảo tồn Tết Khu Cù Tê dựa trên công nghệ số với vai trò chủ thể của cộng đồng ra sao? Về mặt đóng góp, bài viết cung cấp bộ dữ liệu khảo sát mới gồm 250 phiếu khảo sát bằng bảng hỏi định lượng và 150 phiếu khảo sát bằng bảng hỏi định tính về nhận thức, thái độ và mức độ tham gia của người La Chí; đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn gắn với chuyển đổi số trên cơ sở ý kiến của cộng đồng chủ thể và trình bày thử nghiệm ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR) trong tái hiện không gian Tết Khu Cù Tê như một minh chứng thực nghiệm cho khả năng bảo tồn di sản trong thời đại số.

2. Phương pháp nghiên cứu

Điền dã: tham dự trực tiếp các nghi lễ, quan sát và ghi chép chi tiết các hoạt động trong Tết Khu Cù Tê.

Điều tra khảo sát: sử dụng bảng hỏi định tính, định lượng, khảo sát thông tin từ già làng, nghệ nhân, người tham gia lễ tết để thu thập tri thức bản địa và cảm nhận cộng đồng.

Nghiên cứu lý thuyết, phân tích tư liệu: đối chiếu với các nghiên cứu trước đây về người La Chí, các công trình về Tết Khu Cù Tê.

Ứng dụng số hóa thử nghiệm: ghi hình, thu âm, chụp ảnh, xử lý dữ liệu bằng công nghệ nhằm minh chứng cho tính khả thi của việc xây dựng tài nguyên số về di sản Tết Khu Cù Tê.

3. Kết quả và thảo luận

Tết Khu Cù Tê và giá trị văn hóa bản địa

Tết Khu Cù Tê là nghi lễ lớn nhất của người dân La Chí, nơi hội tụ tín ngưỡng, văn hóa và tâm linh của đồng bào. Khu Cù Tê theo tiếng La Chí được hiểu là nhà cộng đồng - hay còn gọi là nhà thờ cúng tổ tiên, gắn với truyền thuyết về Hoàng Dìn Thùng (hay còn gọi là Hoàng Vần Thùng) - ông tổ của người La Chí.

“Trong truyền thuyết dân gian của người La Chí còn lưu truyền câu chuyện kể rằng: Hoàng Dìn Thùng là tổ tiên của người La Chí, thân thể của ông được biểu tượng là các dãy núi trùng điệp, trên đó có các bản làng của người La Chí sinh sống. Trong đó, người Bản Díu được coi là anh cả vì được sinh ra từ đầu của ông, người bản Phùng là anh thứ hai được sinh ra từ bụng và người em út là Bản Máy được sinh ra từ đôi chân. Tuy nhiên, truyền thuyết này còn có một dị bản khác kể rằng: Ngày xưa, có nạn lụt lớn xảy ra, nước ngập mênh mông khắp núi rừng. Thấy vậy, Hoàng Dìn Thùng đã bế 3 người con trai của mình chạy lên núi và sau đó cơ thể ông biến thành dãy núi. Từ đó, các con của ông sinh sống trên thân thể ông và trở thành tổ tiên của người La Chí” (Lê Duy Đại - Triệu Đức Thanh, 2004, tr.210).

Những truyền thuyết trên được truyền tụng đến ngày nay trong cộng đồng người La Chí, giải thích họ có chung nguồn gốc và là anh em một nhà, có trách nhiệm phải thờ cúng tổ tiên, cùng giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Người La Chí chủ yếu sinh sống trên núi cao, phát nương làm rẫy, trồng lúa trên những bậc thang, thửa ruộng mà mình khai phá. “Tháng 7 âm lịch, những dải ruộng bậc thang ở Hoàng Su Phì, Xín Mần như khoác tấm áo vàng óng ả, trải dài từ chân núi lên tận những bản làng chênh vênh lưng trời. Trong không gian thơm nồng hương lúa mới, tiếng trống, tiếng chiêng vọng ra từ nhà sàn, rộn rã gọi bước chân người. Ấy là lúc người La Chí bước vào Khu Cù Tê - cái Tết lớn nhất trong năm, hội tụ đủ sắc màu lễ nghi, âm nhạc, ẩm thực và niềm tin thiêng liêng dành cho tổ tiên” (Đức Quý, (2025-13 tháng 8). Trong Tết Khu Cù Tê, bản làng, các dòng họ, gia đình dâng lễ vật để tạ ơn tổ tiên, thần linh, mong mùa màng bội thu, con cháu khoẻ mạnh. Nghi lễ này phản ánh tri thức bản địa về canh tác, tín ngưỡng phồn thực và quan niệm ứng xử hài hòa với tự nhiên - những giá trị cần được bảo tồn trong bối cảnh hiện đại.

Tết Khu Cù Tê còn là không gian diễn xướng nghệ thuật phong phú. Âm nhạc với tiếng trống, chiêng, kèn lá tạo nên bầu không khí linh thiêng và sôi động. Các điệu múa dân gian thể hiện niềm vui, sức mạnh cộng đồng và ước vọng về sự sinh sôi nảy nở. Những bài hát giao duyên, lời khấn bằng tiếng La Chí lưu giữ vốn ngôn ngữ, âm nhạc và thi ca dân gian đặc sắc. Đây là những yếu tố nghệ thuật sống động, góp phần làm phong phú kho tàng văn hóa Việt Nam. Bên cạnh tín ngưỡng và nghệ thuật, Tết Khu Cù Tê còn mang ý nghĩa gắn kết cộng đồng. Người La Chí xem đây là dịp quan trọng để sum họp, củng cố quan hệ họ hàng, chia sẻ niềm vui lao động. Trẻ em được tham gia vào các nghi lễ và trò chơi dân gian, qua đó học hỏi về lịch sử, văn hóa và truyền thống của dân tộc mình. Lễ hội trở thành một “trường học cộng đồng” - nơi giáo dục giá trị đạo đức, tri thức bản địa và lòng tự hào dân tộc. Tết Khu Cù Tê không chỉ khẳng định bản sắc văn hóa của người La Chí mà còn góp phần làm đa dạng bức tranh văn hóa Việt Nam.

Ngày 25/8/2014, Bộ VHTTDL ban hành quyết định công bố Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trong đó có Tết Khu Cù Tê của người La Chí. Về bản Díu, xã Xín Mần dự Tết Khu Cù Tê của người La Chí, lắng nghe nhịp chiêng hòa cùng tiếng hát, ngắm nhìn sắc màu thổ cẩm và điệu nhảy rộn ràng, cảm nhận được sợi dây kết nối giữa quá khứ với hiện tại, chúng ta mới cảm nhận được Tết Khu Cù Tê chính là linh hồn của văn hóa La Chí. Mỗi mùa lễ hội là một lần người dân được sống trọn vẹn cùng di sản. Bởi vậy, việc bảo tồn phát huy di sản văn hóa Tết Khu Cù Tê là việc làm cần thiết, để văn hóa của đồng bào La Chí luôn sống động như dòng suối không bao giờ vơi cạn.

Thực trạng bảo tồn di sản Tết Khu Cù Tê trong thời đại số

Tết Khu Cù Tê hiện nay được tổ chức chủ yếu tại xã Xín Mần, nơi cộng đồng người La Chí sinh sống lâu đời và gìn giữ những lớp văn hóa đặc trưng nhất. Người dân vẫn bảo tồn được những nghi thức quan trọng như lễ cúng tổ tiên, uống rượu sừng trâu, đánh trống, hát đối đáp, các trò chơi truyền thống, tạo nên một tổng hòa sinh hoạt mang đậm dấu ấn nông nghiệp và tâm linh bản địa. Sự quan tâm của Nhà nước và cộng đồng đã góp phần củng cố sức sống của di sản: Tết Khu Cù Tê được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia từ năm 2014, đồng thời nhiều chương trình văn hóa - du lịch được triển khai nhằm quảng bá, bảo tồn và phát huy giá trị lễ hội.

Truyền thông báo chí cùng các nền tảng số cũng bước đầu mang hình ảnh Tết Khu Cù Tê đến với công chúng trong và ngoài nước; những phóng sự, clip giới thiệu trên YouTube, Facebook, TikTok thu hút sự quan tâm lớn, đặc biệt từ giới trẻ - những người tiếp nhận di sản bằng tinh thần cởi mở và năng lượng sáng tạo. Kết quả khảo sát 250 người dân La Chí bằng bảng hỏi định lượng cho thấy dấu hiệu tích cực về sự hiện diện của công nghệ số trong bảo tồn di sản. Có 229/250 người (chiếm 91,6%) đồng thuận rằng các hoạt động bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương đã có ứng dụng công nghệ số, thông qua những hình thức quen thuộc như số hóa hình ảnh, video hay chia sẻ tư liệu trên các nền tảng số phổ biến như YouTube. Điều này phản ánh nhận thức ngày càng tăng của cộng đồng La Chí về vai trò của công nghệ trong gìn giữ văn hóa bằng những hoạt động số hóa bước đầu. Bên cạnh đó, 225/250 người (90%) khẳng định chuyển đổi số giữ vai trò quan trọng trong bảo tồn Tết Khu Cù Tê, cho thấy sự thống nhất cao về nhu cầu và kỳ vọng của cộng đồng đối với việc đưa công nghệ vào lưu giữ và lan tỏa di sản.

Tuy nhiên, Tết Khu Cù Tê của người La Chí đang phải đối diện với nhiều thách thức trong bối cảnh hiện đại, đặc biệt khi quá trình hội nhập và thương mại hóa ngày càng tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa cộng đồng.

Kết quả khảo sát 150 người bằng bảng hỏi định tính cho thấy khoảng cách rõ rệt giữa nhận thức và thực tiễn. Khi được hỏi về hình thức lưu giữ, truyền dạy Tết Khu Cù Tê hiện nay, 125 ý kiến nhấn mạnh rằng lễ hội vẫn chủ yếu được truyền dạy bằng truyền miệng (người La Chí không có chữ viết), thông qua sự hướng dẫn trực tiếp của người cao niên trong các nghi lễ cộng đồng. Điều này phản ánh đặc trưng “sống động” của di sản văn hóa phi vật thể nhưng đồng thời cũng chỉ ra rằng di sản vẫn đang phụ thuộc nhiều vào tri thức cá nhân, dễ đối mặt với nguy cơ mai một khi những người cao tuổi mất đi hoặc thế hệ trẻ rời bản, không còn gắn bó với lễ hội. Ở câu hỏi liên quan đến việc số hóa di sản, đa số ý kiến đề cập đến những hình thức ứng dụng công nghệ đã từng được triển khai tại địa phương, như quay video nghi lễ, ghi âm lời khấn, sản xuất phim tài liệu, chụp ảnh, hoặc livestream các hoạt động chính của lễ hội. Mặc dù những hoạt động này cho thấy sự chủ động đáng ghi nhận, nhưng nhìn chung vẫn mang tính nhỏ lẻ, tự phát và chưa hình thành một chiến lược số hóa tổng thể.

Từ 2 nhóm số liệu, có thể thấy một bức tranh 2 chiều: nhận thức của cộng đồng đã đi trước, nhưng hành động vẫn cần được hỗ trợ mạnh mẽ hơn bởi các chính sách, nguồn lực kỹ thuật và những mô hình số hóa bài bản. Đây cũng chính là cơ sở để đề xuất các giải pháp phù hợp trong phần tiếp theo của nghiên cứu.

Một trong những điểm mạnh nổi bật của cộng đồng La Chí là sự tham gia mạnh mẽ của thế hệ trẻ người La Chí. Họ tham gia tổ chức lễ hội, tự hào khoác lên mình trang phục truyền thống và trở thành cầu nối giúp Tết Khu Cù Tê tiếp tục lan tỏa trong đời sống đương đại. Tuy nhiên, dữ liệu khảo sát lại cho thấy một nghịch lý đáng suy ngẫm: phần lớn người trẻ chưa thực sự trở thành chủ thể trong hoạt động chuyển đổi số - yếu tố then chốt của công tác bảo tồn di sản trong thời đại mới. Ở câu hỏi: “Thế hệ trẻ tại địa phương anh/ chị đã từng tham gia hoạt động ghi chép, quay phim, dựng tư liệu số về Tết Khu Cù Tê chưa?”, đa số câu trả lời mà chúng tôi nhận được đều là: “không”, “tôi không rõ”, “tôi chưa từng tham gia”. Điều này cho thấy: dù họ gắn bó với lễ hội trong thực hành văn hóa nhưng lại chưa được trao đủ cơ hội, kỹ năng hoặc không được huy động vào các hoạt động số hóa - vốn là không gian mà chính họ có lợi thế vượt trội. Thực trạng này cho thấy khoảng cách giữa người trẻ như “chủ thể di sản” trong thực hành lễ hội và người trẻ như chủ thể trong “số hóa tham gia”, nơi họ có thể đảm nhiệm vai trò “người kể chuyện số” về Tết Khu Cù Tê. Khoảng cách này chỉ ra tiềm năng của thế hệ trẻ chưa được khai mở đúng mức, người trẻ tuy yêu nghi lễ, phong tục nhưng chưa thực sự đóng vai trò chủ thể để lan tỏa Tết Khu Cù Tê trên không gian mạng - nơi họ hiểu rõ nhất.

Thời đại số vừa mở ra cơ hội, lại vừa đặt ra thách thức mới cho việc bảo tồn Tết Khu Cù Tê. Dù mạng xã hội, báo chí và các nền tảng số giúp lan tỏa hình ảnh lễ Tết đến công chúng rộng hơn, nhưng hoạt động số hóa hiện nay vẫn còn rời rạc, thiếu định hướng và ít được kiểm chứng. Kết quả khảo sát cho thấy người dân La Chí ý thức rất rõ về những mặt trái của việc ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn di sản. Khi được hỏi: “Theo anh/ chị, việc ứng dụng công nghệ số hiện nay đã có những tác động tiêu cực nào đến hoạt động bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể khu vực miền núi biên giới Đông Bắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế?”, nhiều ý kiến đã nhắc đến các nguy cơ đáng lo ngại: nguy cơ thương mại hóa, chênh lệch hạ tầng số ở vùng biên, tình trạng thiếu nhân lực am hiểu công nghệ, khó kiểm soát nội dung số hóa… Trước câu hỏi về khả năng tài chính và nhân lực cho việc ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn di sản, phần lớn người dân La Chí cho rằng nguồn lực hiện có còn rất hạn chế. Điều này khiến cộng đồng khó triển khai các hoạt động số hóa một cách bài bản, đồng thời gia tăng sự phụ thuộc vào các dự án hỗ trợ từ bên ngoài.

Trên thực tế, các nghi lễ, lễ hội quy mô lớn, giàu tính thương mại thường dễ chiếm ưu thế trên truyền thông, khiến nghi lễ, lễ hội của các cộng đồng dân tộc thiểu số nhỏ như người La Chí dễ rơi vào tình trạng mờ nhạt hoặc bị lấn át. Sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các sản phẩm văn hóa đại chúng đặt Tết Khu Cù Tê trước nguy cơ bị hòa tan, không còn giữ được vị thế xứng đáng trong đời sống tinh thần của cộng đồng và trong nhận thức của công chúng.

Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị Tết Khu Cù Tê trong thời đại số

Trong bối cảnh Tết Khu Cù Tê đang đứng trước cả thời cơ lẫn thách thức của thời đại số, việc xây dựng một hệ thống giải pháp toàn diện trở nên đặc biệt cần thiết. Những hạn chế về nguồn lực, về năng lực số và về sự đứt gãy trong truyền dạy tri thức truyền thống cho thấy cộng đồng La Chí rất cần một hướng đi vừa tôn trọng giá trị gốc vừa thích ứng với sự vận động của đời sống hiện đại. Bởi lẽ, chỉ khi di sản được bảo tồn trên chính nền tảng văn hóa của cộng đồng và được hỗ trợ bởi công nghệ một cách đúng đắn, nó mới có thể tiếp tục “sống”, lan tỏa và trở thành nguồn lực tinh thần vững bền cho thế hệ hôm nay và mai sau. Dựa trên kết quả khảo sát, các giải pháp dưới đây được đề xuất nhằm hài hòa hai mục tiêu: gìn giữ bản sắc nguyên bản của Tết Khu Cù Tê và phát huy sức mạnh của chuyển đổi số trong bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể.

Kết quả khảo sát về giải pháp bảo tồn di sản Tết Khu Cù Tê trong thời đại số

Hoàn thiện chính sách hỗ trợ bảo tồn di sản

Kết quả khảo sát cho thấy cộng đồng La Chí nhận thức rất rõ vai trò của chính sách đối với việc gìn giữ di sản văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số. Có 241/250 (96,4%) người dân đồng thuận cao về việc cần có hệ thống chính sách và cơ chế hỗ trợ nhất quán từ Trung ương đến địa phương; đồng thời 246/250 (98,4%) ý kiến khẳng định sự cần thiết của cơ sở pháp lý bảo vệ bản quyền tài nguyên số. Những con số này cho thấy nhu cầu cấp bách phải hoàn thiện khung chính sách nhằm tránh tình trạng số hóa tự phát, thiếu kiểm chứng - điều cộng đồng lo ngại khi nói về nguy cơ thương mại hóa hoặc làm sai lệch bản sắc lễ hội. Vì vậy, các chính sách cần tập trung vào: hỗ trợ kinh phí và hạ tầng cho hoạt động số hóa; ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật đối với tư liệu số; bảo đảm quyền văn hóa và quyền sở hữu tri thức của người La Chí gắn với các thảo luận về sở hữu trí tuệ đối với tri thức bản địa trong môi trường số; xây dựng cơ chế lâu dài để di sản được bảo tồn bền vững. Một hệ thống chính sách rõ ràng, minh bạch sẽ trở thành bệ đỡ vững chắc để Tết Khu Cù Tê được gìn giữ đúng định hướng, có cơ sở và mang tính kế thừa.

Tăng cường hạ tầng và ứng dụng công nghệ số

Trong khi đa số người dân ghi nhận địa phương đã bước đầu ứng dụng công nghệ số vào bảo tồn Tết Khu Cù Tê thì khảo sát cũng chỉ ra những hạn chế lớn về hạ tầng và năng lực công nghệ. 244/250 (97,6%) người đồng ý rằng cần xây dựng cơ sở dữ liệu số tập trung, an toàn và cập nhật thường xuyên. Hiện nay, hoạt động số hóa chủ yếu dừng lại ở ghi hình, livestream, ghi âm hay làm phim tài liệu, nhưng thiếu hệ thống lưu trữ và quy chuẩn kiểm chứng. Điều này dẫn đến nguy cơ thất lạc tư liệu, hiểu sai bản sắc hoặc lan truyền thông tin không chính xác. Vì vậy, giải pháp công nghệ cần đi theo hướng lâu dài và chuyên nghiệp hơn: xây dựng nền tảng số chuyên biệt (thư viện số, bản đồ số văn hóa La Chí, kho lưu trữ nghi lễ); ứng dụng công nghệ VR/AR để tái hiện không gian nghi lễ, lễ hội; triển khai các chiến dịch truyền thông số có kiểm soát nhằm lan tỏa hình ảnh Tết Khu Cù Tê một cách sinh động mà vẫn bảo đảm tính xác thực. Việc củng cố hạ tầng và công nghệ sẽ khắc phục khoảng cách số ở vùng núi biên giới, mở ra những con đường mới cho giáo dục, du lịch và nghiên cứu.

Trao quyền và tăng cường vai trò chủ thể của cộng đồng

Một trong những điểm nổi bật nhất của khảo sát là 246/250 (98,4%) người dân khẳng định cộng đồng phải là chủ thể của quá trình số hóa, bảo tồn và phát huy di sản đồng thời mong muốn có các chương trình hỗ trợ dài hạn để họ trực tiếp tham gia vào hoạt động này. Điều này phản ánh rõ mâu thuẫn hiện tại: dù thế hệ trẻ La Chí có tinh thần trở về nguồn cội, tích cực tham gia lễ hội, nhưng đa số họ chưa từng tham gia ghi chép, quay phim hay dựng tư liệu số - theo kết quả khảo sát định tính. Khoảng trống này cho thấy nhu cầu cần thiết của việc trao quyền. Giải pháp đặt trọng tâm vào: tổ chức các khóa tập huấn kỹ năng số (quay phim, chỉnh sửa, số hóa tư liệu); hình thành đội ngũ trí thức trẻ biết kết hợp tri thức bản địa với công nghệ; tạo cơ chế để cộng đồng quyết định cách thức lưu giữ và tổ chức lễ hội; tăng cường liên kết giữa cộng đồng - nhà trường - cơ quan văn hóa để người trẻ có cơ hội tham gia thực chất. Khi được trao quyền đúng nghĩa, người La Chí không chỉ gìn giữ di sản bằng kí ức cộng đồng mà còn bằng những bàn tay số giàu sáng tạo, giúp Tết Khu Cù Tê bước vào thời đại số với diện mạo mới nhưng vẫn tròn đầy bản sắc.

4. Kết luận

Tết Khu Cù Tê của người La Chí là một trong những di sản văn hóa phi vật thể độc đáo, mang trong mình giá trị tín ngưỡng, nghệ thuật và tri thức bản địa sâu sắc. Nghi lễ này không chỉ phản ánh mối quan hệ hài hòa giữa con người - tự nhiên - cộng đồng mà còn là không gian nuôi dưỡng bản sắc và giáo dục truyền thống cho nhiều thế hệ.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số hiện nay, việc bảo tồn Tết Khu Cù Tê đặt ra cả cơ hội và thách thức. Ứng dụng công nghệ số giúp nghi lễ được lưu giữ, quảng bá và lan toả rộng rãi hơn, song đồng thời cũng đòi hỏi giải pháp hài hòa để tránh thương mại hóa và làm phai nhạt bản sắc gốc. Bảo tồn thành công di sản này cần sự kết hợp giữa cộng đồng - chính quyền - nhà khoa học - công nghệ, trong đó người La Chí phải là chủ thể trung tâm. Bảo tồn và phát huy giá trị Tết Khu Cù Tê không chỉ góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc La Chí mà còn làm giàu thêm kho tàng văn hóa Việt Nam, đồng thời khẳng định sức sống bền bỉ của di sản trong dòng chảy hiện đại. Đây chính là cách để văn hóa truyền thống không bị đóng khung trong bảo tàng mà trở thành nguồn lực sống động, nuôi dưỡng tinh thần cộng đồng và góp phần vào phát triển bền vững di sản trong thời đại số. Những kết quả khảo sát định lượng, định tính cùng thử nghiệm VR không chỉ bổ sung tư liệu thực chứng về Tết Khu Cù Tê trong bối cảnh số, mà còn gợi mở một hướng tiếp cận bảo tồn di sản dựa trên vai trò trung tâm của cộng đồng kết hợp với công nghệ số (1).

______________________

1. Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted) thông qua đề tài nghiên cứu ứng dụng, mã số NCUD.05-2024.05.

Tài liệu tham khảo

1. UNESCO. (2003). Text of the Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage (Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể). https://ich.unesco.org

2. Quốc hội. (2024). Luật Di sản văn hóa. Luật số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024.

3. UNESCO. (2021). The UNESCO/PERSIST Guidelines for the Selection of Digital Heritage for LongTerm Preservation (Hướng dẫn việc lựa chọn di sản kỹ thuật số để bảo tồn lâu dài). https://repository.ifla.org

4. Lê Duy Đại - Triệu Đức Thanh. (2004). Các dân tộc ở Hà Giang. Nxb Thế giới.

5. Đức Quý. (2025, 13 tháng 8). Khu Cù Tê - Dấu ấn thiêng giữa mùa vàng của người La Chí. Báo Tuyên Quang. https://baotuyenquang.com.vn

6. Bộ VHTTDL. Quyết định về việc công bố Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 25/8/2014.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 10/11/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 20/12/2025; Ngày duyệt đăng: 30/12/2025.

TS NGÔ THU THỦY - TS TRẦN THỊ NGỌC ANH - PGS, TS NGÔ THỊ THANH QUÝ- NÔNG THỊ KIM THÚY

Nguồn: Tạp chí VHNT số 630, tháng 1-2026