Nhà thơ Trần đăng Khoa.jpg

Nhà thơ Trần Đăng Khoa tâm sự: “Trường Sa theo nghĩa thông thường thì đó là khu vực đảo có bãi cát dài. Nhưng khi tôi có mặt ở đấy, thì hòn đảo tôi kể trong cuốn sách này còn chưa có cả cát. Nghĩa là chưa có gì cả. Nó đang là một vỉa san hô ngầm còn chìm sâu dưới nước, như một cái bào thai. Bởi thế, những người lính biển của chúng ta đã phải dựng chòi bạt giữa sóng gió hoang vu để canh giữ, bảo vệ.” Đấy là thời điểm năm 1978. Sau này, có lần anh nhớ lại: “Nhiều đêm ngồi trên cái chòi bạt hoang lạnh này, giữa một bầu mây nước hỗn mang, tôi cứ ngỡ mình đang trôi dạt về thời tiền sử, đang chứng kiến cái giây phút sinh thành của trái đất. Hòn đảo vẫn réo gầm dưới sóng. Nó như đang giãy giụa, quẫy đạp, muốn xé toang cái bầu nước âm u vây bọc kia để ra đời. Nhưng theo cách tính của các nhà khoa học, thì phải hơn một trăm năm nữa, nó mới nhô lên kia. Nghĩa là phải hơn một trăm năm nữa, nó mới chính thức ra đời. Vậy mà bao nhiêu kẻ thù đã nhòm ngó, rình rập. Máu đã đổ ở Trường Sa, Hoàng Sa và Gạc Ma rồi đấy.”

Trần Đăng Khoa là một thần đồng thơ với Góc sân khong tri được hàng triu độc gi đón nhn, vượt qua biên gii và được bn đọc và các nhà phê bình văn hc trên thế gii chú ý t thu còn thơ. Vậy mà, vừa tốt nghiệp PTTH anh liền nhập ngũ, rồi vào biên giới Tây Nam, rồi ra tận Trường Sa trong những ngày gian khổ nhất. Từ những trải nghiệm sâu sắc của mình, anh đã viết mt tiu thuyết dài đến c 300 trang, nhưng cảm thấy chưa vừa ý nên sau đó, năm 1980 anh đã viết lại, rút ngắn chỉ còn chưa đến 100 trang và anh gọi đó là tiểu thuyết mini, trở thành một tác phẩm độc đáo vào loại hiếm có trong văn học Việt Nam hiện đại.

Nhà văn Lê Lựu đã gọi tiểu thuyết mini này là thần bút. Nghĩa là, theo Lê Lựu nó có thể so sánh với những tác phẩm ưu tú nhất từ xưa của văn học Việt Nam. Nhiều nhà văn nổi tiếng khác cũng coi Đảo Chìm là một dấu ấn không thể phai nhòa trong đời cầm bút của Trần Đăng Khoa và tác phẩm ấy trở thành một tuyệt tác văn học về người lính trong văn học Việt Nam hiện đại.

Tác phm này, được viết ra sau nhng năm sống cùng với người lính đảo, nếm trải mọi khó khăn, gian khổ, gắn bó với người lính và cảm nhận một cách sâu sắc về trách nhiệm của những người canh giữ vùng biển thiêng liêng của tổ quốc.

sách Đảo Chìm.jpg

Cấu trúc của tiểu thuyết Đảo Chìm chia thành 16 tiết đoạn (Mỗi tiết đoạn có tên riêng như một truyện ngắn). Chẳng hạn như: Vị tướng già và chàng lính trẻ, Hòn đảo kỳ lạ, Chim biển, Một xứ sở tự do, Nhà thơ của đảo…  Như vậy, Đảo Chìm có kết cu truyn lng trong truyn. Nhưng đừng tưởng đó là những cái truyện ngắn nối tiếp nhau một cách giản đơn. Không! Thoạt xem, thấy kết cấu có phần lỏng lẻo, phóng túng. Nhưng ngẫm lại, chỉ cần đảo lộn một chút trật tự thì cái logic độc đáo của tác phẩm sẽ bị phá vỡ. Đảo Chìm vì thế, vừa phóng túng, nhưng lại cũng chặt chẽ. Đấy là ch đặc bit ca quyn sách này. Phóng túng giúp mở ra một tư duy tự do, khoáng đạt, giúp nhà văn tạo nên những lối liên tưởng mới lạ, bất ngờ và thú vị; phóng túng giúp nhà văn đưa vào tác phm nhng hình ảnh độc đáo, những trữ tình ngoại đề gợi cảm và sâu sắc, tạo nên sự xoay trở của các chi tiết, các màu sắc thẩm mĩ đa chiều sinh động. Còn sự chặt chẽ sẽ giúp cho cả hệ thống chi tiết và hình tượng được vận hành hợp lý, mạch lạc. Tất cả các phần, các đoạn gắn kết một cách hữu cơ và hoàn mĩ.

Đảo Chìm viết về người thật việc thật. Có thể nói, hầu hết nhân vật được tái hiện trong tác phẩm đều là nhân vật nhà văn đã gp, đã cùng trò chuyn, đã chia s, đã có những kỷ niệm sâu sắc ở Trường Sa. Những nhân vật bình dị ấy, đôi khi ch qua vài nét phác của tác giả đã hiện lên với tất cả vẻ thần tình độc đáo, ám ảnh người đọc không th nào quên được. Đấy là Tư lnh Giáp Văn Cương nghiêm khắc, nhưng nhân hậu, thương lính đến hết lòng; đấy là anh lính Trn Văn Hai “một thi sĩ lừng danh của xứ đảo chìm” nhiệt thành, dí dỏm; rồi “cô tiên” Mộng Tương, con gái của chính trị viên Thuận được khắc họa trong hình dung của người lính trên đảo… Chỉ có mấy nhân vật ấy, nói năng, đi lại, sinh hoạt, đối mặt với thiếu thốn, với khắc nghiệt của thiên nhiên giông bão, với chim biển, với kẻ thù vô hình có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Nhưng qua ngòi bút của tác giả, tất cả đã hiện lên như từ một thế giới khác. Thế giới tưởng chừng như trong cổ tích. Cổ tích mà lại rất thật. Thật đến lạ lùng. Đấy cũng chính là điu l lùng mà Trn Đăng Khoa mang li cho người đọc trong tác phm này.

Những chi tiết về cuộc sống người lính đảo tưởng như ai đến Trường Sa cũng có thể bắt gặp, nhưng qua lối khắc dựng của Trần Đăng Khoa, chỉ qua một “bữa tiệc bất thành”, hay cảnh mong ngóng thư nhà, cảnh đối phó với cá mập, cảnh bão biển… Đã trở thành những chi tiết đầy chất thơ và vô cùng ám ảnh. Ảm ảnh đến mức, những ai đã đọc qua Đảo Chìm dù ch mt ln cũng s luôn nh mãi.

Một trong những đim đặc sc tạo nên thành công có một không hai của tác phẩm Đảo Chìm chính là giọng kể. Giọng kể tưng tửng, hài hước mà đầy sc gi. Đôi khi nói v cái khc nghit khng khiếp ca đời sng trên đảo mà cứ nhẹ như không, thậm chí còn khiến người ta tròn mắt ngạc nhiên; lại có khi nói một câu chuyện vui mà khiến người đọc ngậm ngùi xúc động. Cuốn Đảo Chìm mộc mạc và cũng có cht thơ là vì thế. Mộc mạc ở sự gợi tả cái bình dị thô sơ của những cảnh đời mà đẹp hơn mọi sự tô vẽ. Chất thơ là sự gợi mở những chiều sâu không cùng của suy tư và cảm thức. Đọc Đảo Chìm có khi ta cười không nhn được, có khi lại nước mắt cay xè.

Năm tháng đã đi qua. Trường Sa ngày nay đã khác. Nhà thơ Trần Đăng Khoa tâm sự về điu thôi thúc anh viết nên tác phm Đảo Chìm: “Biển đã xóa hết dấu vết những ngày tôi đã sống ở đây cùng các đồng đội của mình. Và như thế, mọi sự việc dù có chân thực và cảm động đến đâu, rồi cũng phai mờ qua những biến động của thời gian. Tôi nghĩ thế và tôi đã trân trọng ghi lại tất cả những gì mình thấy, làm một cái “bảo tàng” nho nhỏ theo kiểu của riêng tôi, để cho những người đến sau, được thấy lại những gì tôi đã thấy.”

THIÊN SƠN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 629, tháng 12-2025