Nguyễn Tư Nghiêm, Gióng, 1990, sơn mài.jpg
Nguyễn Tư Nghiêm, Gióng, 1990, sơn mài

Trước hết, con ngựa gắn với tên tuổi người anh hùng làng Gióng, một trong “tứ bất tử” của thần điện nước ta. Người Việt Nam, ai không biết đến câu chuyện về một đứa trẻ lên ba không nói không cười nhưng tiếng nói đầu tiên cậu cất lên lại là tiếng nói yêu nước “Cưỡi lưng ngựa sắt bay phun lửa/ Nhổ bụi tre làng đuổi giặc Ân”? Hình tượng Thánh Gióng ra trận cùng ngựa sắt, nón sát, giáp sắt… rồi khi “khải hoàn ca vang, đã sạch bóng thù” vút bay về trời quả là kỳ vĩ, lớn lao. Hình tượng ấy đã giúp danh sĩ Cao Bá Quát thời Nguyễn có đôi câu đối bất hủ: “Đánh giặc lên ba hiềm đã muộn/ Lên chín tầng mây hận chưa cao”. Ngựa còn là linh hồn của đền Bạch Mã, một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long. Chuyện xưa kể rằng Đền Bạch Mã được xây dựng từ thế kỷ 9 để thờ thần Long Đỗ (Rốn Rồng) - vị thần gốc của Hà Nội cổ. Năm 1010, khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, định đắp thành nhưng nhiều lần thành đắp lên lại bị sụp đổ. Vua cho người cầu khấn ở đền thờ thần Long Đỗ thì thấy một con ngựa trắng từ đền đi ra. Vua lần theo vết chân ngựa, vẽ đồ án xây thành, thành mới đứng vững. Thần được vua Lý Thái Tổ phong làm Thành hoàng của kinh thành Thăng Long.

Trong đời sống người Việt, ngựa tuy quen thuộc, phổ biến nhưng không thật sự gần gũi với người nông dân. Một phần do chúng ta gắn bó với nền văn minh nông nghiệp lúa nước trong khi ngựa gắn với nền văn minh du mục, cần những thảo nguyên mênh mông. Dẫu vậy, từ hình ảnh ngựa, cổ nhân cũng đúc kết được nhiều triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc.

Ngựa, Tranh Kim Hoàng, Hà Nội.jpg
Ngựa, Tranh Kim Hoàng, Hà Nội

Nếu câu Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ hay Ngựa chạy có bầy, chim bay có bạn mượn hình ảnh ngựa để nói về tinh thần cộng đồng thì Chiêu binh mãi mã (mộ lính, mua ngựa) là hành động cần thiết đầu tiên của bất cứ ai muốn dấy binh, khởi sự. Mã đáo thành công là lời chúc phổ biến cho bất cứ ai mỗi khi năm ngựa về theo vòng quay của mười hai con giáp. Ngựa non háu đá là hình ảnh sinh động để chỉ những người trẻ tuổi có thừa nhiệt tình, sự hung hăng nhưng lại thiếu chín chắn. Cưỡi ngựa xem hoa nói về người làm việc một cách qua loa, đại khái, không tìm hiểu kỹ càng. Ngựa quen đường cũ chỉ kẻ xấu quen thói làm bậy. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã nói những người có thói quen, sở thích, tâm địa giống nhau thế nào cũng “bắt sóng”, tìm đến nhau. Đầu trâu, mặt ngựa là hình ảnh dành cho phường vô lại, kẻ bất lương. Ai đó có tính cách thẳng thắn, không úp mở, quanh co được gọi là người Thẳng như ruột ngựa. Ngựa xe như nước, áo quần như nêm là hình ảnh chỉ nơi phồn hoa, đô hội. Người phải một mình đương đầu với những thách thức, khó khăn mà không nhận được sự trợ giúp của bất kỳ ai là đang ở trong tình thế Đơn thương độc mã. Chỉ sự đua đòi một cách kệch cỡm, lố lăng…, người xưa có câu Ngựa lồng, cóc cũng lồng. Chỉ sự không thể nào đồng thời làm hai việc lớn, cổ nhân nhắc nhở Ngựa nào gác được hai yên. Nói về sức mạnh của một đạo quân, người xưa thường dùng hình ảnh Thiên binh vạn mã. Nếu Đường dài mới hay sức ngựa/ Đường dài mới biết ngựa hay nói lên điều thật ý nghĩa: chỉ trải qua quá trình thử thách gian nan, chúng ta mới nhận ra bản chất thật sự, phẩm chất tốt đẹp của con người cũng như sự vật. Nói cách khác, không thể đánh giá vội vàng qua những biểu hiện ban đầu. Ngựa hay thường là ngựa chứng nói những người có tài thường có tật, quan trọng phải biết “dụng nhân như dụng mộc”, không thể vì một vài chỗ mất thẩm mỹ mà vứt đi cả một cây to. Nhất ngôn ký xuất tứ mã nan truy nhắc nhở bất kỳ ai cũng phải cẩn trọng khi phát ngôn bởi một lời nói ra không thể lấy lại được. Tái ông thất mã (hay Tái ông mất ngựa) chỉ trong cuộc sống những điều may rủi thất thường vẫn đi liền nhau. Bóng câu qua cửa chỉ sự trôi chảy rất nhanh của thời gian như bóng của một con ngựa non (câu) lướt nhanh qua khung cửa sổ. Voi giày, ngựa xé là một trong những hình phạt ghê sợ nhất với những người có tội thời quân chủ. Nếu Thay ngựa giữa dòng là câu thành ngữ gốc Anh (Change horses in midstream) du nhập kho tàng văn hóa Việt nhắc nhở không nên thay đổi phương pháp, chiến lược, người lãnh đạo hay kế hoạch giữa chừng khi công việc đã và đang diễn ra, bởi nó có thể gây ra sự bối rối, bất an và thất bại thì hình ảnh Ngựa về ngược lại dùng để nói những người vốn không được kỳ vọng cao lúc đầu nhưng tạo nên kết quả tốt, đem lại sự bất ngờ, thú vị.

Mã đáo thành công, tranh dân gian Đông Hồ.jpg
Mã đáo thành công, tranh dân gian Đông Hồ

Ra sức khuyển mã là cách bày tỏ sự hết lòng hết sức của ai đó với người có ơn với mình. Công lao hãn mã nói về chiến công của những người chiến đấu trên lưng ngựa. Ngựa Hồ, gió Bắc chỉ sự nhớ nhung quê hương xứ sở, trông về cảnh cũ, người xưa. Lên xe, xuống ngựa là cuộc sống giàu sang, phú quý được trọng vọng. Được đầu voi đòi đầu ngựa/ Được ngựa đòi xe chỉ người có lòng tham không đáy. Hàm chó, vó ngựa, cựa gà, ngà voi chỉ những nơi nguy hiểm. Bò đất, ngựa gỗ là những thứ vô dụng, không được việc. Buộc đuôi cho ngựa đá nhau chỉ những kẻ xui nguyên giục bị, gây mâu thuẫn để người nọ, người kia đấu đá nhau. Nếu Da ngựa bọc thây là câu thành ngữ (theo quan niệm xưa) chỉ cái chết vinh quang của người tráng sĩ/ chiến binh nơi chiến trường, hy sinh tính mạng vì nghĩa lớn, lấy da ngựa bọc thây trước khi an táng thì Thân trâu ngựa chỉ sự hầu hạ, cung phụng, làm nô lệ cho người khác.

Ngựa trong đám rước, đình Đại Phùng, Hà Nội, thế kỷ XVII .jpg
Ngựa, đình Đại Phùng, Hà Nội

Ngựa bước vào dân ca với bài Lý ngựa ô bất hủ. Ngựa đi về trong ca dao: Ngựa kia ăn cỏ ven đê/ Người kia đi lính biết khi nào về; xuất hiện trong thơ Trần Nhân Tông sau hai lần đại thắng quân xâm lược Nguyên Mông: Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu (Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/ Non sông nghìn thuở vững âu vàng). Hình ảnh ngựa gợi lên “lòng dằng dặc buồn”, một nỗi sầu mênh mang vô tận của người vợ tiễn chồng đi chinh chiến trong bài Chinh phụ ngâm qua bản dịch của Đoàn Thị Điểm: Đưa chàng lòng dằng dặc buồn/ Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền; gắn với nỗi u hoài luyến tiếc một thời đại đã qua trong thơ Bà Huyện Thanh Quan: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương… Đặc biệt, đại thi hào Nguyễn Du có rất nhiều câu thơ thật hay, thật đáng nhớ về con ngựa trong kiệt tác Truyện Kiều. Đây là con ngựa đẹp đẽ, nên thơ của Kim Trọng trong buổi đầu gặp gỡ Kim - Kiều: Tuyết in sắc ngựa câu giòn/ Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời. Đây là con ngựa gắn liền với sự lừa lọc của Sở Khanh dẫn đến bị kịch đầu đời của Kiều: Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào. Có con ngựa cho thấy sự trắc trở, đoạn trường: Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh. Có con ngựa đầy sức mạnh, quyền uy của Từ Hải: Kéo cờ lũy, phát súng thành/ Từ công cưỡi ngựa thân nghênh cửa ngoài; Trông vời trời biển mênh mang/ Thanh gươm yên ngựa lên đường thẳng dong... Cảnh chia ly - tiễn biệt đẹp nhất trong Truyện Kiều, cũng như trong văn học Việt Nam xưa nay là cảnh chia ly Kiều - Thúc Sinh đương nhiên không thể thiếu hình bóng ngựa: Người lên ngựa, kẻ chia bào/ Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san/ Dặm hồng bụi cuốn chinh an/ Trông người đã khuất mấy ngàn dâu xanh/ Người về chiếc bóng năm canh/ Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi/ Vầng trăng ai xẻ làm đôi/ Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

Nguyễn Minh Quân, Xuân Mã Song Hành.jpg
Nguyễn Minh Quân, Xuân mã song hành

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chúng ta có những con ngựa thật bền bỉ, dẻo dai, giàu sức sống và tinh thần cách mạng trong các bức thi họa của Sóng Hồng (Trường Chinh): Vút ngựa vượt qua đèo/ Rì rầm tiếng suối reo/ Xuống đèo trời mới tối/ Vằng vặc mảnh trăng treo/ Ngựa mỏi đi bước một/ Người suy nghĩ vấn vương/ Nhiều khi ý nghĩ lớn/ Vụt đến lúc đi đường… (bài thơ Đi họp); thi họa của Tố Hữu: Nhớ Người những sáng tinh sương/ Ung dung yên ngựa trên đường suối reo/ Nhớ chân Người bước lên đèo/ Người đi rừng núi trông theo bóng Người (bài Việt Bắc)… lời thơ - nét bút thật thần tình, khắc họa chân dung vị lãnh tụ tối cao của cuộc kháng chiến: thân dân, không ngại khó khăn gian khổ, luôn lạc quan cách mạng, sống mãi trong tình thương nỗi nhớ của bà con các dân tộc anh em vùng thủ đô gió ngàn.

Mai Xuân Oanh, Song mã thơ họa, sơn dầu. 2025.jpg
Mai Xuân Oanh, Song mã thơ họa, sơn dầu, 2025

THANH HÀ - HÀ ĐAN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 632, tháng 1-2026