Di sản đứng trước nguy cơ “đứt gãy truyền nghề”

Việt Nam sở hữu một hệ thống phong phú các môn thể thao dân tộc và trò chơi dân gian được hình thành trong quá trình lao động, sinh hoạt, tín ngưỡng và giao lưu văn hóa của cộng đồng. Từ đẩy gậy, bắn nỏ, kéo co, tung còn, đi cà kheo, tu lu, ném pao, đánh yến ở miền núi phía Bắc đến bơi chải, vật dân tộc, đua thuyền ở vùng trung du và Bắc Trung Bộ; từ các trò chơi vận động của cộng đồng Tây Nguyên đến đua ghe Ngo của đồng bào Khmer Nam Bộ, mỗi môn, mỗi trò chơi đều chứa đựng những lớp tri thức về con người và cộng đồng.

Ðiều đáng nói là những di sản ấy không chỉ có giá trị vận động. Ðằng sau mỗi quả còn là câu chuyện về nghi lễ, mùa màng và giao tiếp cộng đồng; phía sau một cuộc đua ghe Ngo là lịch sử, tín ngưỡng và đời sống văn hóa Khmer; trong kỹ thuật bắn nỏ hay đẩy gậy có cả kinh nghiệm lao động, kỹ năng sinh tồn và quan niệm về sức mạnh của cộng đồng.

Cả rừng ống kính nhưng không chiếc nào làm nhiệm vụ cho công tác chuyển đổi số tại giải đua ghe Ngo.jpg
Các phóng viên tác nghiệp tại sự kiện đua ghe ngo

Nhưng di sản chỉ thực sự tồn tại khi có người thực hành. Ðây chính là một trong những thách thức lớn nhất hiện nay. Quá trình đô thị hóa, thay đổi phương thức sinh hoạt, sự phát triển của các loại hình giải trí hiện đại và sự thu hẹp không gian cộng đồng đang khiến nhiều trò chơi dân gian ngày càng ít xuất hiện trong đời sống thường nhật. Không ít trò chơi chủ yếu được tái hiện trong các ngày hội văn hóa, lễ hội hoặc những cuộc thi được tổ chức theo mùa.

Một nguy cơ khác ít được nhìn thấy hơn là sự đứt gãy truyền nghề. Khi nghệ nhân cao tuổi qua đời, nếu kỹ thuật, luật chơi, câu chuyện và phương thức thực hành chưa được ghi lại đầy đủ thì một phần tri thức vận động cũng có thể mất theo. Thực tế ở nhiều địa phương cho thấy, bảo tồn đã được quan tâm nhưng cách làm còn phân tán. Có nơi mạnh về lễ hội, nơi mạnh về thi đấu, nơi chú trọng sưu tầm, nhưng chưa phải nơi nào cũng hình thành được một chuỗi hoàn chỉnh từ kiểm kê – tư liệu hóa – truyền dạy – thực hành – thi đấu – trải nghiệm – phát triển kinh tế.

Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không phải một lựa chọn mang tính thời thượng hay hình thức, mà đang trở thành công cụ quan trọng để thay đổi phương thức bảo tồn.

Số hóa để giữ lại “tri thức vận động”

Một trong những thách thức lớn nhất trong bảo tồn các môn thể thao dân tộc và trò chơi dân gian là phần tri thức quan trọng nhất lại thường không nằm trong văn bản. Ðó có thể là cách cầm gậy, tư thế đứng, nhịp bước, lực đánh, kỹ thuật né tránh, cách phối hợp giữa các thành viên hay những quy ước chỉ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng phương thức “người trước làm, người sau học”. Khi người thực hành cao tuổi dần vắng bóng, nguy cơ thất truyền không chỉ là tên gọi hay luật chơi, mà còn là cả một hệ thống “tri thức vận động” được tích lũy qua nhiều thế hệ.

2 VAPA GOLD MEDAL Hội vật truyền thống vùng kinh bắc bắc ninh Nguyễn Công Hưng VIET NAM.jpg
Hội vật truyền thống vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh) - Ảnh: Nguyễn Công Hưng

Nếu trước đây bảo tồn thường được hiểu là ghi chép, sưu tầm hiện vật, lưu trữ tư liệu hoặc tổ chức trình diễn thì trong môi trường số, quá trình này có thể tiến thêm một bước: số hóa chính hành động vận động của con người. Một bài quyền, kỹ thuật đấu vật, cách chèo thuyền, đánh đu, đẩy gậy, kéo co hay những động tác trong các trò chơi dân gian hoàn toàn có thể được ghi nhận bằng video độ phân giải cao, quay đa góc, dữ liệu chuyển động, âm thanh và thậm chí mô hình 3D. Khi đó, dữ liệu số không còn đơn thuần là một đoạn phim để “xem lại”. Nó trở thành một dạng cơ sở dữ liệu về tri thức vận động, giúp thế hệ sau có thể quan sát, phân tích và tái hiện kỹ thuật một cách chính xác hơn.

Chẳng hạn, với một môn thể thao dân tộc, việc ghi hình một vận động viên thực hiện động tác ở tốc độ thông thường mới chỉ cho thấy “động tác diễn ra như thế nào”. Nếu kết hợp công nghệ quay chậm, nhiều góc máy, phân tích chuyển động hoặc công nghệ motion capture, dữ liệu có thể cho biết sâu hơn: trọng tâm cơ thể dịch chuyển ra sao, chân trụ đặt ở vị trí nào, góc tay thay đổi thế nào, lực tác động được tạo ra ở thời điểm nào và chuỗi động tác được phối hợp ra sao. Ðó chính là sự khác biệt giữa lưu giữ hình ảnh và lưu giữ tri thức.

TS. Phan Thanh Hải, Giám đốc Báo và PTTH Huế, từng nhấn mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản là một “xu hướng tất yếu”, đồng thời cho rằng công nghệ số có thể trở thành cầu nối đưa giá trị di sản đến gần hơn với người dân và du khách. Số hóa không thể chỉ dừng ở việc chụp ảnh, quay phim hay tạo lập một kho dữ liệu. Muốn chuyển đổi số thực chất phải có kiểm kê, cơ sở dữ liệu, hạ tầng lưu trữ, khả năng tích hợp và đội ngũ nhân lực phù hợp.

Nếu chỉ chụp một chiếc nỏ, chúng ta mới lưu giữ được vật dụng. Nếu quay một nghệ nhân bắn nỏ, chúng ta bắt đầu lưu giữ được kỹ thuật. Nếu ghi lại từng động tác bằng công nghệ bắt chuyển động, chúng ta có thể lưu giữ tri thức vận động. Và nếu cùng lúc ghi lại lịch sử, luật chơi, tiếng địa phương, câu chuyện của nghệ nhân, không gian thực hành, lễ hội và cộng đồng sở hữu di sản, chúng ta mới bắt đầu tạo ra một hồ sơ số tương đối đầy đủ về một môn thể thao dân tộc. Ðây chính là bước chuyển từ số hóa hiện vật sang số hóa di sản sống.

Một cơ sở dữ liệu về thể thao dân tộc trong tương lai vì thế có thể bao gồm thông tin về nguồn gốc, địa bàn phân bố, cộng đồng thực hành, nghệ nhân, dụng cụ, luật chơi, kỹ thuật, video, hình ảnh, mô hình 3D và bản đồ không gian văn hóa.

Đua ghe Ngo của đồng bào Khmer Nam Bộ.jpg
Đua ghe Ngo của đồng bào Khmer Nam Bộ 

Từ dữ liệu đến trải nghiệm để bảo tồn và phát triển

Một địa phương có thể sở hữu hàng nghìn hình ảnh, hàng trăm video dữ liệu, nhưng nếu trẻ em không biết trò chơi ấy là gì, không có không gian để chơi và không có người truyền dạy thì di sản vẫn đứng trước nguy cơ mai một. Số hóa sẽ không mang giá trị bảo tồn thật sự nếu dữ liệu không được đưa trở lại đời sống. Do đó, bước tiếp theo sau số hóa phải là tạo ra trải nghiệm, trong đó trường học là một trong những không gian quan trọng nhất.

Có thể hình dung một mô hình “mỗi trường – một trò chơi dân gian”, trong đó học sinh không chỉ được nghe giới thiệu mà trực tiếp thực hành. Một trường ở Tây Bắc có thể tổ chức câu lạc bộ tung còn, kéo co, đẩy gậy; một trường ở vùng đồng bằng sông nước có thể tìm hiểu đua thuyền truyền thống; học sinh vùng có đông đồng bào Khmer có thể tìm hiểu văn hóa ghe Ngo. Ðiều quan trọng là biến trò chơi thành một hoạt động vận động thực sự, thay vì một bài học lý thuyết.

Sơn La là một ví dụ đáng chú ý. Các môn đẩy gậy, bắn nỏ, kéo co, tung còn, tu lu, tó má lẹ được duy trì trong hoạt động văn hóa – thể thao và từng bước gắn với Ðại hội TDTT các cấp. Mô hình này tạo ra một chuỗi tương đối rõ: bảo tồn – thực hành – thi đấu – phát hiện VÐV.

Phú Thọ cũng cho thấy khả năng kết hợp giữa thể thao dân tộc với lễ hội. Tại Lễ hội Ðền Hùng năm 2026, 437 VÐV thuộc 82 đơn vị tham gia các môn đẩy gậy, bắn nỏ, tung còn và cờ tướng. Những con số ấy cho thấy thể thao dân tộc hoàn toàn có thể trở thành một bộ phận sinh động của các sự kiện văn hóa quy mô lớn. Hay ở Bình Liêu (Quảng Ninh), các môn thể thao dân tộc và trò chơi dân gian được đưa vào nhiều lễ hội thường niên. Cách làm này cho thấy một hướng phát triển khác: không tách thể thao khỏi văn hóa mà đặt thể thao vào đúng không gian văn hóa của nó.

Trên nền tảng đó, công nghệ có thể mở rộng không gian tiếp cận. Mỗi môn thể thao truyền thống hoặc trò chơi dân gian có thể được xây dựng như một “hồ sơ di sản số”, bao gồm nguồn gốc, địa bàn phân bố, cộng đồng thực hành, luật chơi, kỹ thuật, dụng cụ, trang phục, nghi lễ, video hướng dẫn, dữ liệu chuyển động, lời kể của nghệ nhân và những biến thể theo từng địa phương.

Ðặc biệt, cần coi nghệ nhân, vận động viên và những người thực hành lâu năm là những “kho dữ liệu sống”. Công nghệ có thể lưu lại hình ảnh và chuyển động, nhưng không thể tự mình giải thích vì sao một động tác được thực hiện theo cách đó, tại sao một quy ước tồn tại hay một trò chơi lại có ý nghĩa đặc biệt đối với cộng đồng. Những câu chuyện, kinh nghiệm và ký ức của người thực hành vì thế cần được số hóa song song với kỹ thuật vận động.

Một hệ thống bảo tồn hiện đại có thể hình thành ba lớp dữ liệu: dữ liệu về vật thể, dữ liệu về hành động và dữ liệu về tri thức. Dữ liệu về vật thể lưu giữ dụng cụ, trang phục, sân bãi và các hiện vật liên quan; dữ liệu về hành động ghi nhận kỹ thuật, động tác, luật chơi và phương thức thực hành; còn dữ liệu về tri thức lưu giữ ký ức, câu chuyện, kinh nghiệm, nghi lễ và ý nghĩa văn hóa của cộng đồng. Ba lớp dữ liệu bổ trợ cho nhau để tạo thành một “bản đồ tri thức” tương đối hoàn chỉnh về di sản vận động.

Đẩy gậy là môn thể thao truyền thống được yêu thích ở các tỉnh miền núi phía Bắc.jpg
Đẩy gậy là môn thể thao truyền thống được yêu thích ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Từ bảo tồn các môn thể thao dân tộc đến kinh tế thể thao

Một hướng quan trọng khác là từng bước đưa các môn thể thao dân tộc vào chuỗi giá trị của du lịch văn hóa và kinh tế thể thao. Khách du lịch đến vùng Tây Bắc có thể không chỉ ngắm cảnh mà còn tham gia các hoạt động trải nghiệm như chơi ném còn, thử đi cà kheo, tìm hiểu đẩy gậy, xem nghệ nhân biểu diễn và nghe kể câu chuyện về nguồn gốc trò chơi.

Ở Nam Bộ, trải nghiệm ghe Ngo có thể được mở rộng từ xem đua thành tìm hiểu lịch sử đội ghe, kỹ thuật chèo, văn hóa Khmer và không gian lễ hội. Ở miền Trung, những trò chơi gắn với lễ hội làng có thể trở thành một phần của sản phẩm du lịch cộng đồng.

Công nghệ số giúp mở rộng thị trường cho những sản phẩm này thông qua phim ngắn, nền tảng du lịch, bản đồ số, livestream, nội dung mạng xã hội và trải nghiệm thực tế ảo. Khi đó, một chuỗi giá trị mới có thể dần hình thành: di sản – trải nghiệm – sự kiện – truyền thông – du lịch – doanh thu – tái đầu tư cho bảo tồn.

Ðiều quan trọng là quá trình khai thác giá trị kinh tế không được tách khỏi cộng đồng sở hữu di sản. Nghệ nhân và người thực hành không chỉ là đối tượng được ghi hình hay trình diễn, mà cần trở thành chủ thể tham gia và hưởng lợi. Phát huy giá trị di sản, xét đến cùng, phải giúp giá trị cốt lõi của di sản tiếp tục tồn tại trong một hình thức phù hợp với đời sống mới.

Từ thực tiễn của các địa phương có thể thấy Việt Nam đang sở hữu một “kho tài nguyên” rất lớn nhưng dữ liệu còn phân tán. Vì vậy, cần tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu về các môn thể thao dân tộc và trò chơi dân gian, kết nối giữa ngành thể thao, văn hóa, giáo dục, du lịch và chính quyền địa phương.

Trên nền tảng đó, có thể xây dựng bản đồ số quốc gia về thể thao dân tộc, xác định những môn có nguy cơ mai một cao, những nghệ nhân cần được ưu tiên tư liệu hóa và những địa phương có khả năng phát triển thành trung tâm bảo tồn – đào tạo – trải nghiệm.

Quá trình này có thể bắt đầu từ việc kiểm kê, phân loại các môn và trò chơi theo mức độ nguy cơ mai một; từng bước xây dựng chuẩn dữ liệu chung; ưu tiên tư liệu hóa những nghệ nhân và người thực hành cao tuổi; đồng thời lựa chọn một số môn, địa phương để thí điểm mô hình kết nối từ số hóa – truyền dạy – thực hành – trải nghiệm – phát triển sản phẩm.

Tuy nhiên, phải xác định số hóa không phải để cất giữ quá khứ, mà để mở đường cho tương lai. Cơ sở dữ liệu về các môn thể thao dân tộc và trò chơi dân gian phải trở thành công cụ học tập, trải nghiệm, truyền dạy, thi đấu và sáng tạo. Mục tiêu cuối cùng của số hóa không phải để có thêm một kho dữ liệu lớn, mà để một thế hệ mới vẫn có thể học, hiểu và thực hành những gì thế hệ trước đã làm.

Nếu một động tác có thể được nhìn thấy, phân tích và học lại; một trò chơi có thể được tái hiện đúng không gian và luật lệ; một câu chuyện của nghệ nhân có thể tiếp tục được lắng nghe sau nhiều thập niên, thì khi đó công nghệ đã thực sự làm được điều quan trọng nhất: biến ký ức thành dữ liệu, biến dữ liệu thành tri thức và biến tri thức thành khả năng tiếp nối.

Ðó cũng là lúc chuyển đổi số không chỉ giúp lưu giữ di sản, mà giúp di sản tiếp tục vận động trong đời sống đương đại. Và đó mới là thước đo quan trọng nhất của chuyển đổi số trong bảo tồn và phát huy các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian.   

Bài và ảnh: THÁI DƯƠNG

Nguồn: Đặc san Thể thao & Đời sống, số 3, tháng 8/2026