
Chứng kiến những thất bại đau đớn của các vị yêu nước tiền bối, cảnh nhân dân sống lầm than, cực khổ dưới ách thực dân Pháp tàn bạo, người thanh niên ưu tú Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 5/6/1911. Với hành trang ban đầu là lòng yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, khát vọng độc lập tự do, Người đã chọn con đường không giống với con đường mà các bậc cách mạng đàn anh đã đi.
Suốt nhiều năm xông pha, Người đã có mặt ở nhiều nước, tiếp xúc với nhiều lớp người, thuộc nhiều dân tộc khác nhau. Khi đến các nước tư bản phát triển ở châu Âu và Bắc Mỹ, Người nhìn thấy cảnh giai cấp công nhân bị áp bức, bóc lột thậm tệ. Khi sang các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh, Người lại tận mắt thấy nhiều dân tộc bị thực dân thống trị hết sức hà khắc, dã man. Người đi đến một kết luận quan trọng: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”(1). Từ lòng yêu nước, thương dân, Người đến một cách rất tự nhiên, như một tất yếu lịch sử, được chủ nghĩa Mác-Lênin soi sáng, Nguyễn Ái Quốc “vụt lớn lên, ngang tầm của con người làm nên lịch sử”.
Khát vọng dân tộc được độc lập, Nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc đã đưa Người đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và trở thành người Việt Nam đầu tiên vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng nước ta, sáng lập, tổ chức, rèn luyện và lãnh đạo Ðảng ta. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả dân tộc nhất tề vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”(2). Ðáp lời kêu gọi của Người, cả dân tộc, triệu người như một đã tiến hành các cuộc kháng chiến trường kỳ, làm nên chiến thắng Ðiện Biên Phủ 1954 và Ðại thắng mùa Xuân 1975, thu giang sơn về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Ngay từ khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, ánh sáng chân lý của thời đại, tấm lòng của Người luôn hướng về Nhân dân các dân tộc bị áp bức, chiến đấu không mệt mỏi vì một thế giới hòa bình, các dân tộc được tự do và bình đẳng, con người được sống hạnh phúc.
Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”, Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động; lãnh đạo thành công đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử; tạo ra tiềm lực mới, uy tín mới, niềm tin mới, khát vọng mới, mang đến cơ hội lịch sử đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
96 năm qua, càng tự hào vì mỗi chiến công, mỗi thành tựu mà Ðảng ta và nhân dân ta giành được đều bắt nguồn từ công lao trời biển và gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Trước mỗi khó khăn, thách thức, Ðảng ta, Nhân dân ta lại tìm thấy trong di sản tinh thần vô giá do Người để lại, đó là những giá trị văn hóa vừa dân tộc, vừa hiện đại. Văn thơ chữ Hán của Người đạt đến trình độ của bậc Hán học. Người tiếp thu tinh hoa của Nho giáo, Phật giáo,… kế thừa truyền thống văn hóa phương Đông. Hồ Chí Minh nhận rõ ý nghĩa lớn lao và vị trí đặc biệt quan trọng của văn hóa. Người chỉ rõ “Văn hóa soi đường quốc dân đi”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành văn hóa dân tộc Việt Nam. Sự đóng góp của Hồ Chí Minh về văn hóa không chỉ ở phương diện lý luận mà còn thắm đượm trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Người, tỏa sáng trong mỗi việc làm, từng cử chỉ, từng mối quan hệ với đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế. Cái cốt lõi trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là lòng yêu nước, thương dân, thương yêu con người, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Hồ Chí Minh đã coi văn hóa vừa là mục đích, vừa là phương tiện của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Người là tác giả của hàng trăm bài báo, thơ, tranh đả kích trên các trang báo Người cùng khổ, báo Nhân đạo,… lên tiếng tố cáo tội ác dã man của chủ nghĩa thực dân đối với Nhân dân Việt Nam, Nhân dân ở các nước thuộc địa, cũng như nhân dân lao động ở chính quốc. Người đã sử dụng ngòi bút để thức tỉnh, kêu gọi những con người đang bị đè nén, bị bóc lột đứng lên đấu tranh giành lấy quyền con người. Hồ Chí Minh đã đưa ánh sáng văn hóa đến với những người cần lao, để họ đến với cách mạng, giúp họ hiểu và thực hiện có hiệu quả việc tự giải phóng bản thân. Trong hội thảo quốc tế, kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội, Tổng Giám đốc UNESCO đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và Nhân dân bị đô hộ, mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đấu tranh không khoan nhượng, để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”.
Đặc biệt, khi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tinh hoa của văn hóa nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng tạo ra một nền văn hóa mới - nền văn hóa cách mạng trong lịch sử dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã là người sáng lập ra nhiều tờ báo cách mạng đầu tiên ở Việt Nam, là người đặt nền móng cho nền giáo dục văn học, thơ ca cách mạng nước ta. Sáng tạo văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh có mặt ở nhiều thể loại từ tiểu thuyết tới truyện ngắn, từ thơ tới kịch, từ văn chính luận tới bút ký,… Và ở lĩnh vực nào, sự sáng tạo đó cũng đạt tới trình độ bậc thầy với tầm nhìn thời đại, vì thế luôn mang tính thời sự và giá trị thực tiễn sâu sắc.
Ở Bác, nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà báo, người chiến sĩ, nhà chính trị - gắn kết chặt chẽ trong nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh. Bác Hồ là người mở đường cho báo chí, thơ văn cách mạng Việt Nam. Là một nhà thơ lớn, Bác Hồ đồng thời còn là một nhà văn giàu tính chiến đấu. Người đã đem lại cho văn chương cách mạng nước ta những yếu tố mới mẻ và hiện đại. Chúng ta có thể tìm thấy trong tấm gương sáng tạo của Người những kinh nghiệm, bài học về nội dung và hình thức, tư tưởng và nghệ thuật, phương pháp và phong cách, ngôn ngữ và thể loại của một tài năng lớn. Tất cả những gì Người viết ra đều là sự phản ánh trung thực, hồn nhiên vẻ đẹp cao quý trong đạo đức, trí tuệ và tâm hồn của một nhân cách lỗi lạc, vì vậy, tất cả đều hiện ra chân thực, giản dị, tự nhiên, vốn là những chuẩn mực tiêu biểu cho cái đẹp - cái hoàn thiện của con người.
Với những cống hiến xuất sắc cho dân tộc và nhân loại tiến bộ, năm 1990, nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp quốc (UNESCO) đã công nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”.
57 năm về trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta bản Di chúc với muôn vàn tình thương yêu cùng những lời căn dặn rất đỗi ân tình và sâu sắc: “Ðảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.
Phát huy những thành tựu nổi bật của đất nước, mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Người: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, hơn 100 triệu con cháu Lạc Hồng hãy tận dụng, nắm bắt thời cơ ngay trong khó khăn, thách thức, tạo thống nhất “ý Ðảng, lòng dân”, phát huy sức mạnh đại đoàn kết, khát vọng đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, văn minh, hùng cường, thịnh vượng.
_________________________
(1) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 1, trang 266.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.534.
NGUYỄN THANH HOÀNG
Nguồn: Tạp chí VHNT số 643, tháng 5-2026