
Củng cố định hướng tư tưởng, nâng cao cảnh giác
Như đã phân tích, “cách mạng màu” thực chất là một dạng “diễn biến hòa bình” được nâng cấp, thủ đoạn chính là khai thác những điểm yếu nội tại của xã hội, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận và tận dụng sức mạnh của truyền thông mạng để “mềm hóa” quá trình chuyển hóa thể chế từ bên trong. Vì vậy, phòng ngừa “cách mạng màu” - trước hết phải bắt đầu từ công tác tư tưởng, lý luận và nhận thức xã hội.
Đầu tiên, cần đưa nội dung nhận diện âm mưu, phương thức “cách mạng màu” vào chương trình giáo dục chính trị trong Đảng, trong nhà trường, đoàn thể và các tổ chức chính trị - xã hội. Việc nâng cao nhận thức không chỉ là truyền đạt thông tin mà phải hướng tới xây dựng “đề kháng tư tưởng” - để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân đều có khả năng tự phân tích, tự nhận diện, tự phản biện trước những luận điệu xuyên tạc. Bên cạnh đó, phải đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận lý luận và tư tưởng, coi đây là “tiền tuyến” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Các cơ quan báo chí, học viện, trường đại học, nhà nghiên cứu… cần tích cực viết bài, xuất bản công trình, tổ chức diễn đàn khoa học để phản bác có cơ sở khoa học những luận điệu mị dân, xuyên tạc bản chất của chế độ ta.
Trong bối cảnh không gian thông tin đã trở thành một “mặt trận” trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và ổn định chính trị - xã hội, việc tăng cường quản lý không gian mạng cần xem là nhiệm vụ mang tính chiến lược, gắn trực tiếp với an ninh tư tưởng và an ninh quốc gia. Cần chủ động thiết lập cơ chế giám sát, phân tích và cảnh báo sớm các chiến dịch truyền thông có dấu hiệu phá hoại, đặc biệt là những nội dung được tổ chức bài bản, lặp đi lặp lại, có chủ đích gây nhiễu loạn dư luận. Việc phát hiện sớm không chỉ giúp ngăn chặn tác động tiêu cực mà còn cho phép các cơ quan chức năng chủ động đưa ra thông tin phản hồi, định hướng đúng đắn trước khi nhận thức xã hội bị dẫn dắt. Trong không gian thông tin hiện đại, “phản ứng chậm” đồng nghĩa với “thất bại sớm”, khi “tin giả”, “tin xấu” chiếm ưu thế, việc lấy lại niềm tin công chúng sẽ rất khó khăn.
Cần coi việc cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, minh bạch cho Nhân dân là một trách nhiệm chính trị đặc biệt quan trọng, là biểu hiện của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân”. Bên cạnh đó, việc chủ động truyền thông trước (tức không chờ khủng hoảng truyền thông mới lên tiếng) cần được xem là “nguyên tắc vàng” trong quản lý thông tin hiện đại. Các cơ quan truyền thông chính thống phải trở thành lực lượng tiên phong trên “mặt trận tư tưởng”. Nói cách khác, sự chủ động, kịp thời, minh bạch trong quản lý, cung cấp thông tin không chỉ là biện pháp kỹ thuật mà là “lá chắn mềm” - vững chắc và hiệu quả để bảo vệ niềm tin của nhân dân, củng cố bản lĩnh chính trị của xã hội, giữ vững sự ổn định tư tưởng trong mọi hoàn cảnh.
Hoàn thiện thể chế - xây dựng cơ chế phòng ngừa
Một giải pháp khác, quan trọng không kém là cần thể chế hóa bằng hành lang pháp lý và cơ chế quản lý hiện đại. Như chúng ta đã biết, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh mạng, báo chí, thông tin truyền thông, sẽ tạo căn cứ để xử lý nghiêm các hành vi giả mạo, xuyên tạc, kích động biểu tình, gây rối trật tự công cộng dưới danh nghĩa “tự do ngôn luận”. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, việc xây dựng pháp luật về an ninh mạng không đồng nghĩa với độc quyền thông tin, hạn chế phản biện; Nhà nước phải luôn bảo đảm quyền tự do biểu đạt hợp pháp của công dân, để Nhân dân được nói lên tiếng nói của mình trong khuôn khổ pháp luật. Thực tế đã chứng minh, nơi nào có dân chủ thực chất thì “cách mạng màu” không thể bén rễ.

Ngoài ra, Đảng và Nhà nước cần đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường minh bạch trong quản lý. Khiếu kiện kéo dài, tham nhũng, quan liêu hay những bất công xã hội là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch lợi dụng. Vì vậy, giải quyết thỏa đáng lợi ích của Nhân dân, xử lý nghiêm sai phạm của cán bộ và làm cho “chính quyền gần dân, hiểu dân, vì dân” chính là biện pháp phòng ngừa từ gốc rễ.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy thể chế dân chủ xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ Đảng lãnh đạo, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và Nhân dân. Mọi chính sách, khi được xây dựng trên nền dân chủ thực chất và sự đồng thuận xã hội, sẽ trở thành “lá chắn tự nhiên” chống lại mọi âm mưu phá hoại. Một yêu cầu khác đồng thời đặt ra là quản lý chặt chẽ hoạt động của các tổ chức phi chính phủ (NGO), quỹ quốc tế, viện nghiên cứu nước ngoài. Việt Nam cần có quy định rõ ràng về phạm vi, trách nhiệm và giám sát nguồn tài trợ, đảm bảo mọi hợp tác quốc tế đều minh bạch, đúng mục tiêu, không đi ngược lại lợi ích quốc gia - dân tộc.
Quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp Nhân dân
Với mục tiêu đến năm 2030 đất nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD, đương nhiên chúng ta phải quan tâm nâng cao đời sống vật chất của các tầng lớp Nhân dân. Khi đời sống vật chất không ngừng được cải thiện, rõ ràng các tầng lớp Nhân dân sẽ thấy được những mặt tích cực, ưu việt của đất nước, chế độ để cùng chung tay bảo vệ Tổ quốc trước mọi biến động, thách thức.
Song hành với nâng cao đời sống vật chất cũng như chăm lo đời sống tinh thần là công cuộc nâng cao dân trí, nhận thức cho các tầng lớp Nhân dân. Trong các tầng lớp Nhân dân, cần quan tâm hơn đến học sinh, sinh viên, thanh niên bởi họ là chủ nhân tương lai của đất nước; là đối tượng thường xuyên nằm trong tầm ngắm của các thế lực thù địch với những thủ đoạn khó lường để chèo kéo, lung lạc, biến thành lực lượng tiên phong của những biến động xã hội. Đừng quên một số cuộc “cách mạng màu” tại Bangladesh, Nepal… gần đây là do những người trẻ tiến hành.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, mọi kịch bản “cách mạng màu” đều chỉ có thể xâm nhập và gây tổn hại khi “phòng tuyến bên trong” - tức là bản lĩnh, niềm tin và sự thống nhất trong đội ngũ cán bộ, đảng viên - bị suy yếu. Do đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị không chỉ là yêu cầu thường xuyên mà còn là nhiệm vụ chiến lược, gắn liền với sự tồn vong của chế độ.
Trong công tác này, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị, trung thành với lý tưởng cách mạng, có khả năng giữ vững lập trường, nhận diện và hóa giải những tác động tư tưởng tinh vi từ bên ngoài. Mỗi cán bộ, đảng viên cần được trang bị “sức đề kháng chính trị” và tự bảo vệ mình trước những luận điệu sai trái, phản động. Đồng thời kiên quyết phát hiện, xử lý và ngăn chặn từ sớm các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là nguy cơ tiềm ẩn, âm thầm nhưng vô cùng nguy hiểm, có thể làm suy yếu sức chiến đấu của Đảng từ bên trong. Công tác tự phê bình và phê bình cần được thực hiện một cách thực chất, gắn với kiểm tra, giám sát thường xuyên; kết hợp với việc đề cao đạo đức công vụ, tinh thần liêm chính và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu. Một tổ chức Đảng chỉ có thể vững mạnh khi mỗi cá nhân trong đó biết tự soi, tự sửa, tự rèn luyện.
Đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là thế hệ trẻ - những người sẽ kế thừa trọng trách trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chuyển đổi số và hội nhập toàn cầu. Cán bộ trẻ phải được rèn luyện để vừa là người lãnh đạo có tâm - có tầm, vừa là “chiến sĩ tư tưởng” để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.
Tóm lại, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần trở thành “lá chắn thép” của chế độ, vững vàng trước cám dỗ vật chất, kiên định trước các chiêu bài tuyên truyền, xúi giục và đủ năng lực để triển khai các giải pháp sáng tạo trong công tác tư tưởng. Họ phải biết sử dụng “sức mạnh mềm” của tri thức, lý luận và văn hóa chính trị để củng cố niềm tin của Nhân dân, đồng thời có khả năng tự miễn dịch trước các luồng tư tưởng ngoại lai. Ngoài ra, vai trò của Nhân dân và các đoàn thể chính trị - xã hội cần được phát huy như một “lực lượng đồng hành” trong công cuộc phòng, chống “cách mạng màu”. Cần khơi dậy tinh thần “mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”. Khi Nhân dân có niềm tin vững chắc vào Đảng, được bảo đảm quyền tiếp cận thông tin đúng đắn và được tham gia giám sát, phản biện xã hội một cách thực chất thì mọi âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ thất bại.
Như vậy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên không chỉ dừng ở phạm vi tổ chức cán bộ mà là quá trình củng cố nội lực chính trị - tinh thần của toàn hệ thống. Đó là quá trình vừa giáo dục, vừa sàng lọc, vừa tạo môi trường phát triển cho những người đủ tâm, đủ tầm và đủ bản lĩnh để gánh vác sứ mệnh lịch sử mà Đảng và các tầng lớp Nhân dân giao phó.
Chủ động và bản lĩnh trong bối cảnh hội nhập
Trong bối cảnh trật tự thế giới đang tái định hình dưới tác động của cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, xung đột lợi ích, chiến tranh thông tin và các hình thức can thiệp phi truyền thống ngày càng gia tăng, việc giữ vững độc lập, tự chủ trong đường lối đối ngoại đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trở thành yêu cầu có tính chiến lược đối với Việt Nam.

Trong xu thế toàn cầu hóa, các giá trị như dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận thường bị một số thế lực chính trị lợi dụng như những công cụ gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia có hệ thống chính trị khác biệt. Do đó, Việt Nam cần tiếp tục chủ động tham gia, đối thoại và bảo vệ quan điểm của mình tại các diễn đàn quốc tế, đặc biệt là trong các vấn đề liên quan đến quyền con người, tự do tôn giáo, bình đẳng dân tộc, dân chủ và pháp quyền. Việc tham gia không chỉ thể hiện trách nhiệm của Việt Nam với cộng đồng quốc tế mà còn là dịp đấu tranh bảo vệ chính nghĩa, khẳng định con đường phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn.
Các cuộc đối thoại, tranh luận cần được tiến hành trên tinh thần xây dựng, thẳng thắn, tôn trọng lẫn nhau, tránh rơi vào thế bị động hoặc đối đầu cực đoan. Bằng lý lẽ khoa học, lập luận chặt chẽ và minh chứng thực tiễn, Việt Nam có thể giải thích rõ ràng quan điểm, chính sách và những thành tựu cụ thể trong việc bảo đảm quyền con người, đồng thời phản bác có cơ sở các luận điệu xuyên tạc, áp đặt tiêu chuẩn kép của một số quốc gia hoặc tổ chức quốc tế.
Song song với đấu tranh chính trị - ngoại giao, cần đặc biệt chú trọng phát huy sức mạnh của ngoại giao văn hóa và truyền thông quốc tế. Trong thời đại số, nơi mà thông tin trở thành “mặt trận mềm” có sức ảnh hưởng toàn cầu, việc chủ động định vị hình ảnh Việt Nam hòa bình, phát triển, tôn trọng quyền con người là yếu tố then chốt để củng cố niềm tin và tạo sự đồng thuận quốc tế. Chúng ta cần chủ động “kể câu chuyện Việt Nam” bằng ngôn ngữ và văn hóa của chính mình, để đập tan âm mưu diễn biến hòa bình và các thông tin phản động, sai lệch của các thế lực thù địch. Đây chính là hình thức “ngoại giao mềm” mang tính chiến lược, góp phần vô hiệu hóa từ gốc các luận điệu sai trái, phản động.
Bản lĩnh, kiên định về chính trị - tư tưởng và tư duy linh hoạt trong hội nhập quốc tế sẽ tạo nên “lá chắn” hiệu quả bảo vệ độc lập, chủ quyền, cũng như khẳng định vai trò, vị thế của Việt Nam trong một thế giới đầy biến động như hiện tại.
Nhận diện và phòng ngừa “cách mạng màu” không chỉ là nhiệm vụ của ngành an ninh mà còn là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị. Khi niềm tin của Nhân dân được củng cố, khi lý tưởng xã hội chủ nghĩa được soi sáng bằng hành động thiết thực thì mọi âm mưu “cách mạng màu” sẽ tự bị hóa giải bằng sức mạnh nội sinh của dân tộc. Tin tưởng rằng, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta sẽ tiếp tục vững bước đi lên con đường phát triển độc lập, tự cường và bền vững!.
(Tiếp theo các số 634 +637 và hết)
PHẠM VÕ THANH HÀ - TS QUÁCH THỊ THƯƠNG
Nguồn: Tạp chí VHNT số 640, tháng 4-2026