Từ khóa: ca khúc trường ca; Việt Nam.

Abstract: The Vietnamese song-poem emerged during the early years of the nation’s resistance war against French colonialism. It is not the same as the Western ballad genre; rather, the Vietnamese song-poem possesses its own distinctive characteristics in terms of form, structure, and reflected content, particularly its inter-song and inter-section organization. These unique characteristics have created the distinctive identity of the Vietnamese song-poem, differentiating it from many other vocal music genres in the world. More importantly, the emergence of the Vietnamese song-poem not only contributed to the diversity of revolutionary songs but also responded to historical demands while embodying significant cultural and artistic values.

Keywords: epic song; Vietnam.

 

anh ca khuc cách mang.jpg
Khán giả, nghệ sĩ đồng loạt đứng lên, hòa giọng hát vang ca khúc Tiến quân ca trong concert Tổ quốc trong tim - Ảnh tư liệu minh họa: Nguyễn Hà Nam

 

1. Đặt vấn đề

Vào ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thế nhưng, sau đó không lâu, vào ngày 19/12/1946, dưới Lời kêu gọi Toàn quốc Kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta lại tiếp tục bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ đầy khó khăn, gian khổ chống thực dân Pháp. Với lĩnh vực văn hóa nói chung, âm nhạc nói riêng, dẫu vẫn nằm trong giai đoạn giao lưu với văn hóa Pháp, nhưng các nhạc sĩ Việt Nam đã biết lựa chọn, tiếp nhận, biến đổi, để sáng tạo nên một thể loại âm nhạc mới, phục vụ cho công cuộc kháng chiến của dân tộc ta, thể loại đó là: ca khúc trường ca. Trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, việc ra đời của thể loại ca khúc trường ca đã đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ cả về hình thức, đề tài, nội dung, phương thức phản ánh trong âm nhạc nói riêng, văn hóa nói chung.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết, thông qua việc sưu tầm tư liệu, đồng thời kết hợp phân tích, đánh giá và so sánh để làm rõ giá trị nghệ thuật, giá trị văn hóa cùng giá trị lịch sử đặc trưng của thể loại ca khúc trường ca Việt Nam. Bên cạnh đó, bài viết còn áp dụng phương pháp lịch sử học để làm rõ bối cảnh vô cùng đặc biệt của thời kỳ này. Khi đó, đất nước vừa phải gồng mình chống lại thực dân Pháp xâm lược, vừa chịu ảnh hưởng từ sự giao lưu và tiếp biến văn hóa phức tạp. Dù vậy, các nhạc sĩ vẫn thể hiện được bản lĩnh cùng sự khôn khéo, nhạy bén trong việc lựa chọn cách thức và góc độ tiếp cận nghệ thuật. Nhờ đó, họ đã tạo ra những sản phẩm mới đáp ứng kịp thời nhu cầu cùng tiếng gọi của lịch sử dân tộc.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Kết quả

Khái quát quá trình hình thành của thể loại ca khúc trường ca

 Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), báo hiệu một cuộc xâm lược thực sự đối với nước ta. Từ đó cho tới những năm đầu thế thế kỷ XX, bằng sức mạnh quân sự, thực dân Pháp mới cơ bản hoàn thành cuộc xâm lược và bình định ở Việt Nam. Bước tiếp theo, thực dân Pháp thực hiện chính sách khai khoáng ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam, để đưa về chính quốc nhằm phục hồi lại nền kinh tế đang bị khủng hoảng trầm trọng. Chính sách khai hóa này đã làm cho xã hội Việt Nam có sự phân chia giai tầng sâu sắc. Mỗi giai cấp, tầng lớp có cuộc sống, quyền lợi hay quan điểm khác nhau trong xã hội lúc bấy giờ.

Song song với việc khai thác về kinh tế, thực dân Pháp còn tăng cường áp đặt thêm các biện pháp, chính sách về chính trị, văn hóa, giáo dục, nhằm thâu tóm quyền lực và đồng hóa dân ta triệt để. Quá trình đó đã tạo cơ hội cho văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp, hiện hữu trên đất nước ta với nhiều dáng vẻ khác nhau. Âm nhạc phương Tây đã du nhập vào Việt Nam theo nhiều con đường: theo bước chân những người truyền đạo; theo con đường quân sự; theo con đường nhà trường, phong trào hướng đạo sinh; theo con đường điện ảnh; theo con đường phương tiện thông tin, kỹ thuật truyền thanh. Trước sự cưỡng bức về văn hóa như vậy, “Người Việt Nam đành phải chấp nhận khi chấp nhận theo một cách rất Việt Nam. Sống chung, biết dung hòa và luôn biết biến cái bất lợi thành cái có lợi để phục vụ trong cuộc sống.  Đó là một trong những bản chất vốn có của người Việt Nam” (Nguyễn Đăng Nghị, 2011, tr.34). Một cuộc tiếp biến văn hóa âm nhạc có chọn lọc đã diễn ra. Phong trào lời ta điệu Tây, có thể ví như một cuộc “tổng diễn tập” ở đầu thế kỷ XX về âm nhạc, đây là tiền đề cho âm nhạc mới Việt Nam ra đời. Nhìn từ phương diện văn hóa thì: “Từ khi âm nhạc phương Tây ồ ạt xâm lấn vào nước ta, nó không chỉ diễn ra một chiều êm chèo, mát mái, mà mọi lúc mọi nơi luôn có một dòng chảy theo chiều ngược lại. Dòng chảy đó là sự cộng hợp của nhiều yếu tố: tình yêu nước, truyền thống văn hóa, sự cầu thị, tính sáng tạo của con người Việt Nam để giữ gìn và xây dựng cái bản ngã dân tộc” (Nguyễn Đăng Nghị, 2011, tr.36).

Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt trọng đại của lịch sử cách mạng Việt Nam. Nhu cầu cần thưởng thức cái mới của nhân dân lúc bấy giờ, cũng như nhu cầu để phục vụ cách mạng, tất cả những yếu tố chủ quan, khách quan dẫn đến sự ra đời của âm nhạc mới Việt Nam được đánh dấu bằng ca khúc Cùng nhau đi hồng binh của nhạc sĩ Đinh Nhu vào năm 1930.

Ngay từ khi mới ra đời, âm nhạc mới Việt Nam đã chia thành ba dòng, đó là: dòng ca khúc cách mạng; dòng ca khúc tiến bộ yêu nước; dòng ca khúc trữ tình lãng mạn. Riêng với dòng ca khúc cách mạng chịu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, được xác định là dòng chủ lưu của âm nhạc Việt Nam. Từ năm 1930 đến năm 1945, do sự tác động của bối cảnh lịch sử, nên đa phần ca khúc mới chỉ dừng lại ở khẩu hiệu đấu tranh và tính cổ động, cũng như những đề tài lịch sử dân tộc mang tính chính luận. Ngày 2/9/1945, đất nước ta bước sang một trang mới. Con người Việt Nam từ cuộc đời nô lệ, đứng lên đạp đổ chế độ cũ, giành chủ quyền dân tộc, sau đó lại tiếp tục chiến đấu bảo vệ chủ quyền vừa giành được. Nói cách khác, tâm thế của con người Việt Nam đã khác, có ý thức về nghĩa vụ, quyền lợi chính trị, con người làm chủ đất nước. Ở giai đoạn này, âm nhạc đã trở thành tiếng kèn xung trận để động viên, khích lệ mọi người tham gia vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Hiện thực cách mạng đòi hỏi các nhạc sĩ phải xây dựng những tác phẩm âm nhạc có hình thức lớn hơn, cũng như nội dung phản ánh cần đa dạng hơn so với ca khúc quần chúng và ca khúc trữ tình đã có ở giai đoạn trước. Những đòi hỏi của lịch sử đã đánh trúng tâm lý muốn cống hiến, thể hiện của các nhạc sĩ. Vậy, để có thể phản ánh được tầm vóc lớn lao cả về chiều sâu lẫn chiều rộng của cuộc sống hiện thực trong bối cảnh lịch sử - xã hội lúc đó, một thể loại mới thuộc dòng ca khúc cách mạng Việt Nam đã ra đời: ca khúc trường ca.

Một số đặc điểm của thể loại ca khúc trường ca

Như đã được khái quát ở trên, nếu nhìn về hình thức bề ngoài, thì các ca khúc trường ca Việt Nam được hiểu như là một bài hát dài, nhưng thực chất không phải như vậy. Ca khúc trường ca có những kết cấu và khả năng phản ánh, cũng như tính chất âm nhạc hoàn toàn khác với một ca khúc bình thường. Có thể nhận diện ca khúc trường ca thông qua một số điểm tiêu biểu. Thứ nhất, là tính liên khúc, liên đoạn, nghĩa là một đề tài, một nội dung được thể hiện, diễn giải qua nhiều chặng, nhiều khúc, nhiều đoạn khác nhau. Thứ hai, xét về mặt nội dung đề tài, thì những khía cạnh khác nhau của trường ca được thể hiện qua mỗi đoạn, hoặc sự tiến triển của nội dung đề tài được bộc lộ qua từng chặng. Thứ ba, về bố cục và ngôn ngữ âm nhạc, thì: “mỗi khúc mỗi đoạn có một chủ đề, điệu tính riêng, đôi khi kèm theo cả về nhịp điệu nhịp phách. Tính độc lập tương đối của mỗi đoạn, mỗi khúc biểu hiện đậm nét hơn do nội dung đề tài phản ánh phức tạp hơn” (Tú Ngọc, Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên, 2000, tr.243).

Số lượng của ca khúc trường ca khá khiêm tốn so với các thể loại khác, nó chỉ tập trung nhiều nhất vào những năm thuộc giai đoạn kháng chiến chống Pháp xâm lược. Tuy vậy, nội dung phản ánh của ca khúc trường ca lại khá đa dạng. Các tác giả của cuốn Âm nhạc mới Việt Nam tiến trình và thành tựu (2000) đã chia trường ca trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp thành các dạng: sử thi; ký sự; chính luận; trần thuật. Cụ thể “dạng sử thi: Người Hà Nội của Nguyễn Đình Thi; dạng ký sự: Sông Lô của Văn Cao; dạng chính luận: Bình ca của Nguyễn Đình Phúc; dạng trần thuật: Em bé Mường La của Trần Ngọc Xương” (Nguyễn Đăng Nghị, 2011, tr.134).

Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, dù số lượng của ca khúc trường ca đã giảm đi nhiều, chỉ tập trung ở một, hai nhạc sĩ, nhưng diện mạo của nó lại ở cấp độ cao hơn, hoàn thiện hơn về các phương diện. Hoàng Vân là một nhạc sĩ tiêu biểu viết trường ca ở giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Có thể kể đến vài tác phẩm tiêu biểu do ông sáng tác như: Hà Nội - Huế - Sài Gòn, Bài thơ gửi Thái Nguyên (lời viết chung cùng Lê Nguyên). Đặc biệt, ca khúc Tôi là người thợ lò đã để lại một dấu ấn quan trọng đối với dòng ca khúc cách mạng Việt Nam.