
Trong tiến trình ấy, thời gian qua, Bộ VHTTDL đã nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý về quyền tác giả, quyền liên quan; tham mưu và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tại Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025.
Xác lập cấu trúc ngành công nghiệp văn hóa trong giai đoạn mới
Nhìn lại Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, được Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 8/9/2016, có thể thấy văn hóa không chỉ là lĩnh vực thụ hưởng mà có thể trở thành ngành tạo giá trị, có thị trường, có doanh thu, có việc làm. Từ nền tảng ấy, khung pháp luật liên quan tiếp tục được củng cố và mở rộng. Các ngành công nghiệp văn hóa trong năm 2022 ước đạt 4,04% GDP; giá trị sản xuất giai đoạn 2018-2022 ước bình quân đạt 1,059 triệu tỷ đồng/năm (tương đương khoảng 44 tỷ USD). Cùng giai đoạn này, số cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành công nghiệp văn hóa tăng bình quân 7,2%/năm, hiện có trên 70 nghìn cơ sở; lực lượng lao động tăng bình quân 7,4%/năm, hiện thu hút khoảng 2,3 triệu lao động, chiếm 4,42% tổng lực lượng lao động của toàn nền kinh tế.
Những con số ấy phản ánh một thực tế: công nghiệp văn hóa đã đóng góp vào nền kinh tế của đất nước, đồng thời, ngày càng nhiều doanh nghiệp, người lao động tham gia phát triển công nghiệp văn hóa. Mối liên kết giữa Nhà nước - nhà sáng tạo - doanh nghiệp từng bước được thiết lập theo hướng đồng hành, cùng tạo ra giá trị và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, công nghiệp văn hóa chưa phát triển tương xứng với tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của đất nước.
Chính vì vậy, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Chiến lược CNVH) được ban hành ngày 14/11/2025 đã tạo lập khung thể chế theo hướng đồng bộ, hiện đại hơn, bám sát yêu cầu chuyển đổi số; qua đó tạo điều kiện để đội ngũ sáng tạo phát huy năng lực, được bảo vệ quyền tác giả, quyền liên quan và gia tăng giá trị từ tác phẩm. Từ đó có thể khẳng định, xây dựng và hoàn thiện thể chế chính là khâu then chốt, mang tính quyết định đối với phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng bền vững và hội nhập.
Chiến lược CNVH xác định rõ 10 ngành công nghiệp văn hóa, bao gồm: (1) du lịch văn hóa; (2) điện ảnh; (3) mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; (4) nghệ thuật biểu diễn; (5) phần mềm và các trò chơi giải trí; (6) quảng cáo; (7) thiết kế; (8) thủ công mỹ nghệ; (9) truyền hình, phát thanh; (10) xuất bản. Việc xác định cụ thể các ngành có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển công nghiệp văn hóa từ khái niệm định hướng sang một cấu trúc ngành có thể quản trị, thu hút đầu tư và tổ chức phát triển.
Mục tiêu của Chiến lược cũng được lượng hóa cụ thể: đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP; lực lượng lao động bình quân tăng 10%/năm và chiếm 6% tổng lao động; số cơ sở kinh tế tăng bình quân 10%/năm; tăng trưởng giá trị xuất khẩu bình quân 7%/năm. Đến năm 2045, phấn đấu đóng góp 9% GDP, chiếm tỷ trọng 8% trong tổng lực lượng lao động của nền kinh tế, trong đó quy mô các sản phẩm công nghiệp văn hóa số chiếm tỉ trọng trên 80% sản phẩm công nghiệp văn hóa, tăng trưởng về giá trị xuất khẩu của các ngành công nghiệp văn hóa đạt 9%/năm và trở thành quốc gia phát triển về công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí trong khu vực châu Á và khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ công nghiệp văn hóa thế giới.
Chiến lược cũng xác định 6 ngành ưu tiên, trọng tâm, trọng điểm gồm: điện ảnh; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và các trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa. Việc lựa chọn này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định vai trò trung tâm kết nối, góp phần gia tăng giá trị sản phẩm của các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí.

Tại Hội nghị quốc tế về các ngành công nghiệp văn hóa - nền tảng phát triển du lịch bền vững được tổ chức tại thành phố Huế ngày 19/12/2025, Bộ trưởng Bộ VHTTDL Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh: Khi văn hóa được kết nối với kinh tế, khoa học - công nghệ và xã hội, văn hóa sẽ trở thành động lực thúc đẩy phát triển bền vững. Đồng thời, Bộ trưởng cũng khẳng định: Phát triển công nghiệp văn hóa phải dựa trên ba trụ cột Nhà nước - Nhà sáng tạo - Doanh nghiệp: Nhà nước xây thể chế, tạo hành lang pháp lý và môi trường phát triển; nhà sáng tạo là chủ thể trung tâm của sáng tạo; doanh nghiệp tổ chức thị trường và huy động nguồn lực xã hội.
Điều đó cho thấy, Chiến lược CNVH không chỉ nhằm phát triển từng ngành công nghiệp văn hóa riêng lẻ, mà hướng tới xây dựng một hệ sinh thái sáng tạo, trong đó văn hóa gắn chặt với du lịch, kinh tế sáng tạo và sức mạnh mềm quốc gia.
Để triển khai có hiệu quả Chiến lược, Bộ VHTTDL đã nghiên cứu, đề xuất một số cơ chế, chính sách đặc thù, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí, cụ thể: bổ sung danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi theo quy định của Luật Đầu tư và phạm vi áp dụng đối với một số đối tượng thuộc lĩnh vực ưu tiên phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí; đề xuất một số chính sách miễn thuế nhập khẩu, miễn giảm thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp dành cho doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư vào các ngành công nghiệp văn hóa, quy định mức thuế suất thuế giá trị gia tăng thích hợp đối với các loại hàng hóa, dịch vụ ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí; áp dụng mức thuế suất hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn và lĩnh vực cụ thể; liên kết các quỹ hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí và sáng tạo của các tổ chức, cá nhân; tạo điều kiện cho cá nhân, doanh nghiệp, kết nối với các quỹ đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp sáng tạo, ươm tạo công nghệ và chuyển đổi số.
Đồng thời, rà soát, bổ sung chức năng, nhiệm vụ của Quỹ phát triển du lịch hỗ trợ thực hiện phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam; bổ sung cơ chế, chính sách hỗ trợ đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân, người làm sáng tạo để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, công nghiệp giải trí; thực hiện thống kê đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa vào phát triển kinh tế - xã hội, vào GDP làm cơ sở đánh giá, tập trung đầu tư vào các ngành công nghiệp văn hóa còn nhiều dư địa phát triển.
Những nỗ lực này là nền tảng quan trọng để công nghiệp văn hóa bứt phá trong tương lai. Khi thể chế tiếp tục được hoàn thiện, bản quyền được bảo hộ hiệu quả và các ngành công nghiệp văn hóa phát triển trong một hệ sinh thái đồng bộ, văn hóa không chỉ được gìn giữ, phát huy mà còn trở thành nguồn lực nội sinh thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Quyền tác giả, quyền liên quan - nền móng của kinh tế sáng tạo
Trong cấu trúc thể chế của công nghiệp văn hóa, quyền tác giả và quyền liên quan giữ vai trò nền tảng. Tại Hội nghị tổng kết giai đoạn 2017-2025 thực hiện quyết định số 88/QĐ-TTG ngày 20-1-2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực quản lý và thực thi có hiệu quả pháp luật bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 được tổ chức vào ngày 20/12/2025, Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Trần Hoàng nhấn mạnh: Quyền tác giả, quyền liên quan là động lực của sáng tạo, là nền tảng phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đồng thời là nội dung quan trọng trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước. Trong bối cảnh các hình thức khai thác, sử dụng tác phẩm ngày càng đa dạng trên môi trường số và các nền tảng xuyên biên giới, việc bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo vệ người sáng tạo, khuyến khích đầu tư vào nội dung và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Thực hiện Quyết định số 88/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trong giai đoạn 2017-2025, Bộ VHTTDL đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm tăng cường năng lực quản lý và thực thi pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan. Theo Cục trưởng Trần Hoàng, quá trình này đã giúp Việt Nam xây dựng được một khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh, từng bước nội luật hóa các cam kết quốc tế, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước và tạo hành lang vững chắc cho việc bảo hộ và thực thi bản quyền.
Trong báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Quyết định số 88/QĐ-TTg ngày 20/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường năng lực quản lý và thực thi có hiệu quả pháp luật bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan đến năm 2020, định hướng đến năm 2025” do Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Phạm Thị Kim Oanh trình bày cho thấy, Đề án ra đời trong bối cảnh Việt Nam hội nhập sâu rộng, đồng thời phải đối mặt với những thách thức ngày càng phức tạp về xâm phạm bản quyền trên môi trường số. Sau nhiều năm triển khai, Đề án đã góp phần củng cố nền tảng pháp lý, nâng cao năng lực của đội ngũ quản lý và thực thi, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý quyền tác giả, quyền liên quan. Đặc biệt, Đề án đã lan tỏa mạnh mẽ văn hóa tôn trọng bản quyền trong đời sống xã hội và trên không gian mạng.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiện nay cũng đặt ra nhiều những thách thức mới, nhất là vi phạm bản quyền xuyên biên giới, trách nhiệm của các nền tảng trung gian và những vấn đề pháp lý mới nảy sinh từ sự phát triển của trí tuệ nhân tạo. Từ thực tiễn đó, Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả cho biết, Bộ VHTTDL xác định giai đoạn 2026-2030 là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách bảo vệ bản quyền trong kỷ nguyên số; tăng cường năng lực quản lý, thực thi và ứng dụng công nghệ số; phát triển nguồn nhân lực và cơ chế phối hợp liên ngành; đẩy mạnh hợp tác quốc tế và văn hóa tôn trọng bản quyền.
Qua đó, góp phần quan trọng trong việc củng cố, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, hiệu năng quản lý, thực thi bản quyền, đồng thời biến bản quyền trở thành nguồn lực cốt lõi của phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế số quốc gia.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhận định rằng, kết quả lớn nhất của quá trình triển khai Quyết định 88 không chỉ nằm ở số lượng văn bản hay vụ việc xử lý, mà ở sự thay đổi tư duy, từng bước chuyển từ cách tiếp cận “bản quyền là việc của riêng tác giả” sang “bản quyền là lợi ích chung của xã hội và là nền tảng của phát triển bền vững”. Sự thay đổi tư duy ấy là điều kiện quan trọng, nhất là trong bối cảnh nền tảng xuyên biên giới và trí tuệ nhân tạo tạo ra những thách thức pháp lý mới.
Một minh chứng rõ nét, trong năm 2025, đặc biệt vào các dịp kỷ niệm lớn của đất nước như: 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước (1975-2025), 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (1945-1975), nhiều chương trình nghệ thuật quy mô lớn đã được tổ chức tại các địa phương, thu hút đông đảo công chúng và tạo hiệu ứng xã hội tích cực. Trong số 10 ngành công nghiệp văn hóa được xác định, nghệ thuật biểu diễn mà cụ thể là âm nhạc đang cho thấy khả năng lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống xã hội.
Các sự kiện này không chỉ mang ý nghĩa chính trị - văn hóa, mà còn cho thấy năng lực tổ chức, sản xuất và vận hành sản phẩm công nghiệp văn hóa ngày càng chuyên nghiệp, từ khâu sáng tạo nội dung, tổ chức biểu diễn đến truyền thông và lan tỏa trên không gian số. Điều này phản ánh sự chuyển dịch từ tư duy tổ chức sự kiện sang tư duy sản xuất sản phẩm công nghiệp văn hóa, phù hợp với định hướng của Chiến lược CNVH.
Ở góc độ chính sách, những kết quả này cho thấy khi thể chế từng bước được hoàn thiện, đặc biệt trong lĩnh vực bản quyền, tổ chức biểu diễn và huy động nguồn lực xã hội, các ngành công nghiệp văn hóa hoàn toàn có khả năng tạo ra tác động kinh tế - xã hội tích cực, đồng thời góp phần gắn kết văn hóa với du lịch và dịch vụ.
Từ công tác tham mưu hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan đến việc tham mưu ban hành Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa theo Quyết định số 2486/QĐ-TTg, có thể thấy rõ một đường hướng nhất quán trong tư duy và hành động của Bộ VHTTDL: lấy thể chế làm nền tảng cho phát triển, coi pháp luật và chính sách là công cụ kiến tạo môi trường sáng tạo, nuôi dưỡng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.
AN NGỌC
Nguồn: Đặc san "Dấu ấn Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2025"