Văn hóa trách nhiệm: từ phẩm chất của cán bộ đến năng lực kiến tạo của thể chế
Trong đời sống, đôi khi khoảng cách giữa một quyết sách và một kết quả lại được đo bằng những điều rất giản dị: một di tích có được xử lý kịp thời khi xuống cấp; một nhà hát có đủ điều kiện đưa chương trình nghệ thuật đến khán giả; một nghệ nhân có thể truyền nghề cho lớp trẻ; một nhóm sáng tạo có cơ hội tiếp cận không gian, dữ liệu và nguồn lực cần thiết. Đằng sau những câu chuyện ấy là chất lượng quản trị, là cách sử dụng quyền hạn và là thái độ của những người được giao trách nhiệm. Vì vậy, bàn về văn hóa trách nhiệm không chỉ là bàn về đạo đức cá nhân, mà còn là bàn về chất lượng vận hành của cả hệ thống.
Tại Hội nghị toàn quốc ngày 16/10/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt trọng tâm vào quan hệ giữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng với đổi mới phương thức lãnh đạo và nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Đáng chú ý, đồng chí không dừng ở yêu cầu có chủ trương đúng, mà đi thẳng vào vấn đề vì sao có những công việc vẫn chậm, nguồn lực chưa được phát huy, trách nhiệm chưa được thực hiện đầy đủ. Cách đặt vấn đề ấy hàm chứa sự dịch chuyển quan trọng trong phương pháp đánh giá: từ chú ý nhiều đến quy trình và văn bản sang coi trọng kết quả công việc, tác động xã hội và sự cảm nhận của Nhân dân.
Với lĩnh vực văn hóa, sự dịch chuyển này đặc biệt có ý nghĩa. Văn hóa vừa có những giá trị cần được bảo vệ chặt chẽ, vừa là lĩnh vực sống động đòi hỏi khả năng thích ứng, sáng tạo và đối thoại liên tục. Không thể đánh đổi tính khoa học của bảo tồn lấy tốc độ xử lý; nhưng cũng không nên dùng sự thận trọng như một lý do để trì hoãn vô thời hạn. Không thể buông lỏng quản lý hoạt động nghệ thuật; nhưng quản lý phải giúp các giá trị tốt đẹp được hình thành, thử nghiệm, lưu thông và đến với công chúng. Cái khó là tìm được sự cân bằng giữa bảo vệ giá trị công cộng và mở rộng không gian sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật.
Từ góc nhìn nghiên cứu văn hóa, có thể nhận diện văn hóa trách nhiệm ở ít nhất ba tầng nấc gắn bó với nhau. Trước hết là trách nhiệm về giá trị: hành động dựa trên sự liêm chính, tôn trọng con người, công bằng và lợi ích chung. Tiếp đó là trách nhiệm về thẩm quyền: mỗi chủ thể biết rõ mình được quyết định điều gì, phải phối hợp với ai và cần giải trình ra sao. Cuối cùng là trách nhiệm về kết quả: công việc không kết thúc khi văn bản được ký hoặc hội nghị khép lại, mà chỉ thực sự hoàn thành khi vấn đề được giải quyết, nguồn lực tạo ra giá trị và người dân được thụ hưởng. Một cơ quan có thể đầy đủ quy chế mà vẫn thiếu văn hóa trách nhiệm nếu những quy chế ấy không giúp công việc tiến lên.
Điều này cũng cho thấy không nên đồng nhất văn hóa trách nhiệm với việc kêu gọi tinh thần tận tụy. Muốn trách nhiệm trở thành chuẩn mực phổ biến, cần thiết kế thể chế để người có trách nhiệm có điều kiện hành động, người làm tốt được ghi nhận, người né tránh không thể chuyển trách nhiệm cho tập thể, và những quyết định liên quan đến lợi ích công có thể được giám sát. Quy định rõ đầu việc, thời hạn, nguồn lực, mức độ chủ động và tiêu chí đánh giá là cách biến một yêu cầu đạo đức thành năng lực tổ chức. Sự chuyển đổi từ văn hóa “xin ý kiến cho an toàn” sang văn hóa chủ động quyết định đúng thẩm quyền phải bắt đầu từ những thay đổi rất cụ thể như thế.
Đặc biệt, trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cán bộ cấp xã và những thiết chế gần dân nhất đang trở thành điểm tiếp xúc trực tiếp giữa chính sách với nhu cầu văn hóa của cộng đồng. Một nhà văn hóa hoạt động ra sao, một lễ hội được tổ chức thế nào, một sinh hoạt câu lạc bộ có thu hút thanh thiếu niên hay không, một địa chỉ di sản có được chăm sóc thường xuyên không – những câu hỏi này không chỉ phản ánh năng lực chuyên môn. Chúng còn phản ánh việc phân cấp đã đi cùng nhân lực, hướng dẫn và kinh phí hay chưa. Nếu cơ sở thiếu điều kiện thực hiện, yêu cầu nâng cao trách nhiệm phải đồng thời đặt ra trách nhiệm hỗ trợ từ cấp trên.
Văn hóa trách nhiệm còn có một chiều cạnh thường ít được chú ý: khả năng lắng nghe và chấp nhận phản hồi. Trong lĩnh vực văn hóa, số lượng hoạt động, lượt khách hay kinh phí giải ngân chỉ phản ánh một phần kết quả. Một cuộc triển lãm có thể đông người nhưng chưa tạo được đối thoại nghệ thuật; một không gian công cộng có thể khang trang nhưng người khuyết tật khó tiếp cận; một chương trình giáo dục di sản có thể được tổ chức đầy đủ nhưng học sinh chưa thật sự được tham gia. Vì thế, phải coi trải nghiệm của công chúng, tiếng nói của nghệ sĩ, nghệ nhân, doanh nghiệp và cộng đồng sở hữu di sản là nguồn dữ liệu quan trọng để điều chỉnh chính sách.
Ở tầm sâu hơn, đổi mới văn hóa trách nhiệm chính là xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị. Sự gương mẫu không thể chỉ được thể hiện trong lời nói; nó phải được nhận ra qua năng lực giải quyết công việc, thái độ với người dân, cách sử dụng ngân sách và sự công tâm khi đánh giá con người. Nghị quyết số 80-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu phát huy văn hóa nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, gắn với xây dựng văn hóa trong Đảng và hệ thống chính trị. Đây không phải mối liên hệ mang tính bổ sung, mà là điều kiện để văn hóa có thể đi vào phương thức lãnh đạo và quản trị quốc gia.
Khi nói đến nguy cơ đánh mất cơ hội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Mỗi sự chậm trễ do chủ quan đều có thể làm mất cơ hội của đất nước và Nhân dân”. Đối với văn hóa, cơ hội bị bỏ lỡ đôi khi không thể bù đắp bằng tiền bạc: một lớp nghệ nhân cao tuổi không còn nhiều thời gian truyền nghề; một bản thảo, một ý tưởng sân khấu không kịp tìm được người đồng hành; một thế hệ trẻ trưởng thành mà thiếu cơ hội tiếp xúc với di sản và nghệ thuật. Bởi vậy, quý trọng thời gian của văn hóa cũng chính là quý trọng ký ức, tài năng và tương lai của cộng đồng.

Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11: từ một dấu mốc lịch sử đến quyền thụ hưởng của mỗi người dân
Ngày 24/11/1946, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội, gắn với tư tưởng coi văn hóa là một bộ phận quan trọng của công cuộc kiến thiết quốc gia. Tám mươi năm sau, việc Nghị quyết số 80-NQ/TW xác lập ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam đưa dấu mốc lịch sử ấy vào một bối cảnh mới: văn hóa không chỉ là đối tượng tri ân, tôn vinh mà phải hiện diện ngày càng thực chất trong đời sống của từng người dân. Nghị quyết số 28/2026/QH16 tiếp tục thể chế hóa chủ trương, quy định người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương trong Ngày Văn hóa Việt Nam và giao cơ quan có thẩm quyền quyết định miễn, giảm phí, lệ phí tham quan tại các cơ sở văn hóa, thể thao công lập.
Tầm quan trọng của quyết sách này không chỉ nằm ở việc bổ sung một ngày có ý nghĩa văn hóa vào lịch năm. Về mặt tư tưởng, đó là sự khẳng định văn hóa cần có thời gian xã hội dành riêng cho việc trải nghiệm, thực hành, sáng tạo và gắn kết cộng đồng. Trong đời sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào nhịp độ công việc, di chuyển và tiêu dùng, trong khi nhu cầu đọc sách, đến bảo tàng, thưởng thức nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và học hỏi về di sản thường bị xếp sau. Một ngày dành cho văn hóa gợi nhắc rằng khả năng sống có chiều sâu tinh thần cũng là một thành tố của chất lượng phát triển.
Tuy nhiên, giá trị của Ngày Văn hóa Việt Nam không thể đo bằng số băng rôn, lễ khai mạc hay chương trình biểu diễn được tổ chức. Điều cần đặt ra là người dân có thật sự được mở rộng cơ hội tiếp cận văn hóa hay không; những nhóm trước đây ít có điều kiện tham gia có tìm thấy cơ hội mới hay không; người làm nghệ thuật và gìn giữ di sản có được tạo điều kiện sáng tạo, giới thiệu tác phẩm và gặp gỡ công chúng hay không. Nếu ngày lễ chỉ tập trung vào các trung tâm đô thị hoặc trở thành chuỗi hoạt động mang nặng hình thức, ý nghĩa xã hội của chính sách sẽ chưa được phát huy đầy đủ.
Vì vậy, việc chuẩn bị Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11/2026 – lần đầu tiên được thực hiện trong khuôn khổ cơ chế mới – nên được xem như một bài kiểm tra ban đầu về năng lực biến quan điểm thành hành động. Mỗi địa phương có thể bắt đầu từ nguồn lực và đặc trưng của mình, thay vì sao chép những chương trình quy mô lớn. Nơi có bảo tàng, thư viện và nhà hát cần chú trọng chương trình tương tác, hướng dẫn và kết nối công chúng mới. Nơi có di sản cộng đồng cần tạo điều kiện để chính chủ thể di sản tổ chức, kể chuyện, truyền dạy và hưởng lợi chính đáng. Các khu công nghiệp, khu nhà ở công nhân, vùng xa trung tâm cần được đưa vào bản đồ thụ hưởng, thay vì chỉ chờ người dân tự tìm đến thiết chế văn hóa.
Đặc biệt, quyền thụ hưởng văn hóa phải đi cùng sự bình đẳng về cơ hội. Một người lao động được nghỉ không có nghĩa là tự động có tiền mua vé, có phương tiện đi lại, có thông tin về sự kiện hoặc có điều kiện đưa con nhỏ, người cao tuổi đến tham gia. Với người khuyết tật, vấn đề còn là lối tiếp cận, phụ đề, thuyết minh và những công cụ hỗ trợ phù hợp. Với thanh thiếu niên ở vùng khó khăn, điều thiết thực có thể là chuyến xe thư viện lưu động, lớp trải nghiệm nghệ thuật trong trường học, hoặc chương trình giao lưu với nghệ sĩ, nghệ nhân. Nghĩa là, chính sách tạo ra thời gian; còn tổ chức thực hiện phải chuyển thời gian ấy thành cơ hội.
Từ góc độ giáo dục và truyền thông, ngày 24/11 cũng nên trở thành một dịp nuôi dưỡng năng lực cảm thụ văn hóa lâu dài. Không nên chỉ hỏi học sinh đã được xem bao nhiêu chương trình, mà cần quan tâm các em có được tìm hiểu câu chuyện đằng sau một hiện vật, tự thử một kỹ năng nghệ thuật, thảo luận về một cuốn sách hoặc tham gia một hoạt động sáng tạo hay không. Văn hóa chỉ thật sự trở thành sức mạnh của con người khi được tiếp nhận bằng trải nghiệm, suy ngẫm và thực hành. Đó cũng là cách nối một ngày kỷ niệm với việc hình thành thói quen văn hóa trong suốt cả năm.
Ở chiều khác, Ngày Văn hóa Việt Nam cũng phải dành chỗ xứng đáng cho những người đang làm nên đời sống văn hóa hôm nay. Nghệ nhân và người gìn giữ di sản cần được tôn trọng như chủ thể tri thức chứ không chỉ là người minh họa một tiết mục. Nghệ sĩ cần có sân khấu, không gian thử nghiệm và điều kiện giới thiệu tác phẩm. Các nhà thiết kế, nhà sản xuất phim, nhà xuất bản, doanh nghiệp sáng tạo và cộng đồng khởi nghiệp văn hóa cần có cơ hội kết nối thị trường và tiếp cận công chúng. Thụ hưởng và sáng tạo, vì thế, không phải hai phần tách rời: sự gặp gỡ giữa người sáng tạo và công chúng tạo nên sức sống của hệ sinh thái văn hóa.
Ở Việt Nam, nhìn từ câu chuyện gìn giữ Quan họ Bắc Ninh hay tranh dân gian Đông Hồ có thể nhận ra điều ấy rất rõ. Di sản chỉ thật sự bền vững khi có người thực hành, người truyền dạy, người tiếp nhận và môi trường xã hội trân trọng giá trị của nó. Hồ sơ ghi danh, công trình trưng bày hoặc số hóa có vai trò quan trọng, nhưng không thể thay thế đời sống thực của cộng đồng. Ngày Văn hóa Việt Nam có thể trở thành dịp kết nối các thế hệ quanh di sản, đồng thời đưa tri thức truyền thống đối thoại với sáng tạo đương đại, từ giáo dục, thiết kế đến những sản phẩm văn hóa mới.
Một cơ chế tổ chức có trách nhiệm phải tính đến khía cạnh chi phí và hiệu quả công. Chi ngân sách không nên dồn vào phần nghi lễ mà cần ưu tiên cho dịch vụ, chương trình và hoạt động có người thụ hưởng cụ thể; cơ quan quản lý cần công khai mức miễn, giảm phí do cấp có thẩm quyền quyết định, lịch hoạt động, năng lực phục vụ và phương thức tiếp cận. Những chỉ dấu như tỷ lệ người tham gia lần đầu, mức độ tiếp cận của nhóm yếu thế, mức hài lòng, số hoạt động do cộng đồng tổ chức và khả năng duy trì sau ngày lễ có thể giúp phản ánh hiệu quả thực chất hơn các thống kê hình thức.
Nhìn như vậy, 24/11 không đơn thuần là một ngày của các sự kiện văn hóa, mà có thể trở thành ngày xã hội cùng kiểm nghiệm chất lượng của chính sách văn hóa. Nếu một gia đình lần đầu có cơ hội đến bảo tàng, một em nhỏ lần đầu được chạm vào thế giới nghệ thuật, một nghệ nhân có thêm học trò, một nhà hát tìm thấy nhóm khán giả mới, thì ý nghĩa của ngày này đã vượt xa khuôn khổ một lễ kỷ niệm. Và nếu những cơ hội ấy được nối dài trong cả năm, chính sách sẽ có khả năng hình thành thói quen văn hóa bền vững.
Từ thể chế kiến tạo đến hệ sinh thái sáng tạo: thực hiện Nghị quyết 80 bằng kết quả có thể kiểm chứng
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 đánh dấu bước phát triển trong tư duy về vị trí của văn hóa khi đặt văn hóa và con người trong quan hệ với nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực, trụ cột và hệ điều tiết của phát triển. Cùng với đó là những mục tiêu có thể đo lường: bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa; phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, hướng tới 9% vào năm 2045; mở rộng tiếp cận văn hóa, thúc đẩy số hóa di sản và hình thành những thương hiệu sáng tạo có sức cạnh tranh.
Điều cần nhấn mạnh là những con số ấy không tự thân tạo ra phát triển. Tăng mức đầu tư mà chưa đổi mới cách phân bổ có thể dẫn đến dàn trải; xây dựng thiết chế mà chưa có chương trình vận hành và nhân lực phù hợp có thể tạo ra công trình ít người sử dụng; số hóa nhiều tư liệu nhưng thiếu chuẩn dữ liệu, quyền khai thác và kết nối công nghệ vẫn có thể chỉ tạo ra các kho lưu trữ rời rạc. Vì thế, yêu cầu chuyển từ có nguồn lực sang sử dụng nguồn lực hiệu quả cần được đặt ở trung tâm của quá trình thực thi Nghị quyết.
Tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra “bốn khoảng trống” trong phát triển văn hóa: năng lực lan tỏa giá trị tích cực trên môi trường số; chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tài sản trí tuệ và nguồn lực sáng tạo; sáng tạo sản phẩm có sức cạnh tranh; thể chế và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Đồng thời, đồng chí nhấn mạnh “ba chuyển dịch lớn”: coi văn hóa là trụ cột hiện diện trong mọi quyết sách; phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số; kết hợp bảo tồn với sáng tạo. Đây là những gợi mở có giá trị phương pháp luận để đánh giá chất lượng triển khai Nghị quyết số 80 trong những năm tiếp theo.
Nhìn kỹ sẽ thấy, cả bốn khoảng trống đều liên quan đến năng lực tổ chức và phối hợp. Di sản thuộc trách nhiệm bảo vệ của cơ quan chuyên môn, nhưng muốn trở thành dữ liệu, học liệu và nguồn cảm hứng cho công nghiệp sáng tạo lại đòi hỏi tham gia của cơ sở nghiên cứu, đơn vị công nghệ, trường học, doanh nghiệp và chủ thể cộng đồng. Một tác phẩm điện ảnh, chương trình âm nhạc hay sản phẩm thiết kế muốn đi xa không thể chỉ dựa vào tài năng cá nhân; nó còn cần thị trường, công cụ bảo vệ bản quyền, hạ tầng phân phối, nhân lực quản trị và khả năng tiếp cận vốn. Nếu các điều kiện ấy phát triển rời rạc, văn hóa khó chuyển hóa thành sức cạnh tranh bền vững.
Từ đây, có thể đề xuất một cách tiếp cận ba chiều đối với hệ sinh thái sáng tạo. Chiều thứ nhất là bảo vệ và làm giàu nguồn lực văn hóa: di sản, tri thức bản địa, tác phẩm, ngôn ngữ, ký ức cộng đồng và dữ liệu văn hóa. Chiều thứ hai là hình thành năng lực sáng tạo và sản xuất: đội ngũ nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà nghiên cứu, nhà công nghệ, nhà quản trị, doanh nghiệp cùng không gian thử nghiệm. Chiều thứ ba là tạo thị trường và khả năng tiếp cận: phân phối tác phẩm, phát triển công chúng, thực thi quyền tác giả, xuất khẩu nội dung và đối thoại quốc tế. Chính sách không nên ưu tiên một chiều mà bỏ quên hai chiều còn lại, bởi một hệ sinh thái không thể phát triển chỉ bằng nguồn tài nguyên phong phú hoặc một vài công trình đầu tư lớn.
Đặc biệt, cần đổi mới sâu sắc quan niệm về nhân tài văn hóa. Những người tạo nên giá trị không chỉ là nghệ sĩ được biết đến rộng rãi, mà còn có nhà nghiên cứu, biên kịch, giám tuyển, chuyên gia bảo quản, nghệ nhân, nhà sản xuất, nhà thiết kế trải nghiệm, kỹ sư nội dung số và người tổ chức thị trường. Trọng dụng nhân tài vì thế không dừng ở chế độ đãi ngộ, mà phải là trao nhiệm vụ đúng sở trường, bảo đảm quyền chủ động nghề nghiệp, cơ chế hợp tác và đánh giá theo đóng góp thực chất. Điều này thống nhất với yêu cầu đổi mới công tác cán bộ được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra tại Hội nghị ngày 16/10: không chạy theo số lượng thu hút mà phải quan tâm người tài giải quyết được công việc gì, đóng góp được gì cho sự phát triển.
Với nghệ thuật, cần chấp nhận tính đặc thù của lao động sáng tạo. Một tác phẩm có giá trị cao không phải lúc nào cũng hình thành theo lịch sản xuất cơ học, và tác động xã hội của nghệ thuật không thể quy về doanh thu vé. Cơ chế đặt hàng, tài trợ, hỗ trợ thử nghiệm cần có tiêu chí thẩm định chuyên môn minh bạch, hội đồng có năng lực và phương pháp đánh giá kết hợp giá trị nghệ thuật, khả năng lan tỏa, đóng góp giáo dục và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đổi mới không có nghĩa là bỏ kiểm soát; đó là chuyển từ kiểm soát nặng về thủ tục sang kiểm soát có căn cứ, trách nhiệm giải trình và hậu kiểm phù hợp với đặc thù ngành.
Trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa, yêu cầu bảo vệ quyền tác giả và quyền liên quan cần được xem như điều kiện của thị trường sáng tạo lành mạnh. Khi sản phẩm văn hóa có thể được sao chép, biến đổi và phân phối với tốc độ rất lớn, đặc biệt qua các công nghệ trí tuệ nhân tạo, những chủ thể sáng tạo phải có công cụ xác lập quyền, thương lượng lợi ích và xử lý hành vi xâm phạm. Cùng lúc, việc khai thác dữ liệu di sản cần tôn trọng nguồn gốc, chủ thể nắm giữ tri thức và quyền lợi cộng đồng. Một nền kinh tế sáng tạo bền vững không thể được xây dựng trên sự thất thoát quyền lợi của chính những người tạo ra giá trị.
Không gian số cũng đặt ra câu hỏi về chất lượng môi trường văn hóa. Sự gia tăng nội dung ngắn, thuật toán đề xuất và các hình thức giải trí được sản xuất hàng loạt có thể mở rộng cơ hội tiếp cận, nhưng đồng thời tạo sức ép lên sự chú ý, thẩm mỹ và khả năng tiếp nhận có chiều sâu. Ứng xử chính sách cần vượt khỏi cách tiếp cận chỉ ngăn chặn nội dung có hại: phải thúc đẩy nội dung tốt, nâng cao năng lực sáng tạo của người Việt, tăng giáo dục truyền thông và kỹ năng số, phát triển thư viện số, bảo tàng số, lớp học nghệ thuật trực tuyến cùng những nền tảng đủ hấp dẫn để công chúng lựa chọn. Giá trị văn hóa chỉ có thể lan tỏa mạnh khi có chất lượng, tính gần gũi và khả năng tham gia của cộng đồng.
Bài học quốc tế cho thấy có thể phát triển thị trường sản phẩm văn hóa cùng với những cơ chế thúc đẩy sáng tạo và gìn giữ bản sắc. Song, Việt Nam không nên sao chép một mô hình duy nhất. Một đô thị lớn có thể mạnh về điện ảnh, thiết kế, âm nhạc hoặc nội dung số; một vùng di sản có thể phát triển du lịch văn hóa và thủ công sáng tạo; những địa bàn có truyền thống nghệ thuật dân gian cần trước hết bảo đảm sự sống của các cộng đồng thực hành. Việc lựa chọn lĩnh vực ưu tiên phải dựa vào lợi thế và nhu cầu thật, đồng thời có cơ chế liên kết liên vùng thay vì đầu tư dàn trải, nơi nào cũng xây dựng cùng một mô hình.
Đối với công tác quản lý nhà nước, đề xuất quan trọng là hình thành một hệ thống theo dõi tác động văn hóa có khả năng phục vụ hoạch định chính sách. Không chỉ thống kê cơ sở vật chất, kinh phí và sự kiện, mà còn cần đo mức tham gia và thụ hưởng của các nhóm dân cư, hoạt động của thiết chế, điều kiện sáng tạo của nghệ sĩ, thu nhập của người làm nghề, doanh thu và bản quyền trong công nghiệp văn hóa, năng lực sản xuất nội dung số, mức độ tiếp cận giáo dục nghệ thuật và sự hài lòng của công chúng. Những chỉ số ấy phải được thu thập minh bạch, có phương pháp nhất quán và sử dụng để điều chỉnh chính sách, chứ không trở thành gánh nặng báo cáo mới.
Ở đây, bài phát biểu ngày 16/10 có một điểm hết sức gần gũi với tư duy quản trị văn hóa hiện đại: khi đánh giá kết quả phải đối chiếu báo cáo với phản ánh của người dân, doanh nghiệp và thực tiễn cơ sở. Đặt vào phát triển văn hóa, yêu cầu ấy có nghĩa là các chính sách cần được thẩm định không chỉ từ phía cơ quan ban hành, mà còn từ phía người sáng tạo và người thụ hưởng. Một thiết chế có đông khách nhưng không tạo điều kiện học hỏi, một chương trình đạt chỉ tiêu nhưng thiếu khán giả quay trở lại, hay một dự án số hóa lớn mà tư liệu không thể khai thác sẽ là những tín hiệu buộc chính sách phải điều chỉnh.
Để tinh thần Nghị quyết số 80 gặp gỡ được yêu cầu hành động của Trung ương 4, mỗi cấp, mỗi ngành cần lựa chọn số ít việc có khả năng tạo chuyển biến rõ rệt. Trong năm đầu triển khai Ngày Văn hóa Việt Nam, việc ấy có thể là mở rộng khả năng tiếp cận thiết chế công; tăng chương trình nghệ thuật, di sản cho thanh thiếu niên và người lao động; kết nối cộng đồng sáng tạo với trường học, thư viện, bảo tàng; hoặc triển khai một số mô hình phân phối sản phẩm văn hóa số có bảo đảm quyền tác giả. Mỗi việc phải có người phụ trách, nguồn lực, tiêu chí đánh giá và cơ chế lấy ý kiến người thụ hưởng. Càng cụ thể, càng có khả năng tạo thành đổi thay lâu dài.
Xây dựng văn hóa trách nhiệm và phát triển sức sáng tạo, xét đến cùng, là hai mặt của cùng một tiến trình. Một phía tạo nên nền quản trị liêm chính, minh bạch, tôn trọng công việc và con người; phía kia tạo nên môi trường để tài năng, trí tuệ, ký ức văn hóa và khát vọng cống hiến có thể chuyển thành giá trị mới. Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 là một cơ hội để xã hội cảm nhận trực tiếp tiến trình ấy; Nghị quyết số 80 cung cấp định hướng và công cụ chính sách; còn tinh thần chỉ đạo tại Hội nghị Trung ương 4 nhắc chúng ta rằng tất cả phải được kiểm chứng bằng hành động và kết quả.
Chúng ta có quyền kỳ vọng những thành tựu văn hóa mới không chỉ được nhìn thấy ở các công trình lớn hay những sự kiện quy mô, mà còn ở việc một thư viện đông thêm người đọc, một nghệ sĩ có thêm cơ hội sáng tạo, một cộng đồng gìn giữ được tiếng nói và ký ức của mình, một em nhỏ hình thành niềm yêu thích nghệ thuật, một sản phẩm văn hóa Việt Nam tìm được vị trí trên thị trường quốc tế. Khi những thay đổi ấy trở thành hiện thực trong đời sống, văn hóa mới thật sự là nguồn lực nội sinh của phát triển và là nền tảng tinh thần để đất nước tiến về phía trước.