
Sau 1975, đất nước thống nhất. Từ 1975-1985, văn học mang tính lưỡng trị: một mặt, là sự kéo dài của thời hậu chiến, mặt khác là những trăn trở, tìm tòi đổi mới theo sự vận động nội tại của chính nó. Những sáng tạo tiền - đổi mới của Nguyễn Minh Châu, Trúc Thông, Hoàng Hưng, được đón nhận một cách dè dặt, thậm chí phê phán. Với chủ trương đổi mới và mở cửa, Nhà nước đã từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp trong kinh tế, đồng thời, mở rộng không gian đổi mới sáng tạo trong tư duy và hoạt động xã hội. Các cây viết mới thi nhau trỗi dậy như măng mọc sau mưa. Các cây bút trẻ tiêu biểu như: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Lương Ngọc, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều… Văn học Việt Nam từng bước chuyển sang hiện đại, tuy rằng chưa phải đã chiếm giữ được vị trí trung tâm của những cây bút trưởng thành từ cuộc chiến tranh chống Mỹ. Vì thế, vẫn còn một độ chênh/khoảng cách nhất định giữa văn học Việt Nam và văn học thế giới.
Nhưng, đổi mới văn học được nhà nước đóng dấu này chỉ tồn tại đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Sự đổi mới mang tính phong trào chững lại, một số cây bút tiếp tục, đa số trở lại với viết cũ. Nhiều người gọi thời kỳ này là hậu - đổi mới, tức không còn đổi mới nữa, theo nghĩa hậu Xô Viết, hậu Xã hội chủ nghĩa. Tôi cho rằng vẫn còn đổi mới, nhưng là một đổi mới khác, mang tính tự giác và tính cá nhân. Đổi mới khác này, có cái may là bắt đầu cùng với việc mạng xã hội phát triển thần tốc ở Việt Nam. Nếu trước đây thế giới vào Việt Nam phải trèo qua “cửa sổ” thì nay được đi vào “cửa chính”. Cùng với điều này là vấn đề hậu hiện đại và văn học hậu hiện đại đang nằm trong chương trình nghị sự của thế giới. Đổi mới văn học từ 1992 trở đi vì thế mang tính chất hậu hiện đại. Tuy vậy, văn học hậu hiện đại ở/của Việt Nam chủ yếu còn ở cấp độ thủ pháp, chứ chưa hẳn ở cấp độ bản thể. Nhưng, xét trên đại thể, văn học Việt Nam đã cập thế giới đương đại.
Ở trên, tôi đã lược giải một diễn trình văn học Việt Nam theo trục lịch đại, để thấy được giữa ta và thế giới bao giờ cũng vẫn còn một khoảng cách. Khoảng cách nhỏ khi ta có sự liên thông trước với khu vực, sau với thế giới; khoảng cách lớn khi ta tự/bị cô lập. Hành trình hiện đại hóa, do vậy, không phải bao giờ cũng đường thẳng, mà quanh co, có khi thụt lùi. Để tránh cảnh chạy đua giữa lực sĩ Achilles và con rùa, có lẽ, cần tìm hiểu thêm những nguyên nhân ở diện đồng đại, nơi khoảng cách “mẹ” giữa Việt Nam và thế giới “vỡ dạ” thành nhiều khoảng cách “con” giữa các nhà văn Việt Nam.
Có thể hình dung: nếu cắt ngang cây văn học Việt Nam ở giai đoạn hiện tại, thì thấy có một cấu trúc ba vòng tròn: 1) vòng trong cùng là tiền - hiện đại, to lớn và rắn đặc, chiếm vị trí trung tâm; 2) vòng kế tiếp là hiện đại, lỏng và mỏng hơn, một mặt ôm trung tâm, mặt khác mở ra ngoại vi; 3) vòng ngoài cùng là hậu - hiện đại, đã định hướng và đang định hình. Thoạt nhìn vào cấu trúc này có thể thấy những khoảng cách hệ hình cả về tư tưởng xã hội lẫn quan niệm thẩm mỹ giữa các thế hệ nhà văn Việt Nam. Nhưng nhìn sâu thì thấy các khoảng cách này “mơ hồ hơn ta tưởng”. Bởi, các nhà văn ở vòng 1 có thể thậm chí chuyển cư ra vòng 2, và vòng 2 ra vòng 3, nhưng cũng không loại trừ có những trường hợp hồi cư trở lại. Tình trạng đang trở thành này khiến một nhà văn, có thể vừa tiền hiện đại vừa hiện đại, vừa hiện đại vừa hậu hiện đại. Thậm chí ở cùng một tác giả thì tác phẩm trước hậu hiện đại, tác phẩm sau đã thoái triển về tiền hiện đại. Sự đồng tồn này làm cho người ta không biết ai là ai. Đây chính là lý do tôi muốn sử dụng phương pháp hệ hình để nhận diện. Các nhà văn ở chiếu nghỉ giữa hai cuốn sách, có lẽ, cũng nên biết mình đang ở đâu trên hành trình văn học. Và, quan trọng hơn, nhận biết được khoảng cách giữa nhà văn với nhà văn để mà đồng thuận xóa bỏ khoảng cách này. Đây, có lẽ, là mục tiêu của các tổ chức làng nghề, các hội nghề nghiệp.
Một điều nữa tôi muốn đề cập đến là khoảng cách giữa nhà văn và độc giả. Thực ra, đây cũng là một vấn đề hết sức phức tạp. Nhà văn phân hóa thì độc giả cũng phân hóa. Ở văn học Tiền chiến, độc giả bao giờ cũng đồng hành cùng nhà văn, bởi cả hai cùng gặp nhau ở một điểm: khao khát cái mới, cái hay, cái hiện đại. Văn học thời “những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt” (Chế Lan Viên), cũng vậy. Nhà phê bình văn học Nguyễn Văn Hạnh có lần tỏ ý luyến tiếc cái thời cuốn sách nào ra cũng được trăm phần trăm ý kiến tán thưởng. Tình hình dư luận hiện nay đã khác hẳn. Mỗi thế hệ (tôi phân thế hệ theo hệ hình thẩm mỹ, vừa gắn với tuổi đời vừa gắn với quan niệm tư tưởng nghệ thuật), thậm chí mỗi cá thể, đều có một “chân trời đón nhận” riêng của mình. Nếu đặt ra một ngưỡng thẩm mỹ, thì với những tác phẩm dưới ngưỡng người đọc dễ tiếp thu, nhưng dễ ngán cho một số nào đó; ngang ngưỡng thì mọi người đều thích; vượt ngưỡng thì chỉ một số người, bởi rất khó đọc. Bạn đọc Việt Nam chưa quen đọc sách khó, chưa thấy vẻ đẹp của cái khó và của sự đọc khó, nên ít người chịu đọc. Nhưng nếu không đọc tác phẩm vượt ngưỡng và rủ rê nhiều người cùng đọc, mà chỉ ườn ra trong thói quen đọc dễ thì không bao giờ đẩy được ngưỡng thẩm mỹ tiến lên, không bao giờ tạo ra áp lực với người viết, để anh ta sáng tạo ra những tác phẩm cách tân. Khoảng cách giữa nhà văn và người đọc không được thu hẹp. Một khi thị hiếu thẩm mỹ còn phân tán, chưa chụm lại thành nhóm, thì còn lâu văn học Việt Nam mới hội nhập được với thế giới. Nó giống như cỗ xe tam mã trong tranh dân gian Nga, con ngựa này thì kéo về phía trước, con kia thì sang phải, con thứ ba sang trái. Cỗ xe vì thế mà không tiến lên được.
Một khoảng cách nữa là hiện nay nhận thức về bản chất của văn học và địa vị của nó trong nhân văn học cũng rất khác nhau. Văn học tiền hiện đại chủ yếu dùng để tải đạo. Chữ đạo từ chỗ có ý nghĩa vũ trụ quan, thế giới quan bị “hạ tầng công tác” thành đạo đức quan. Mà đạo đức ở đây là đạo đức Nho giáo, đạo đức chính thống và chính thức, nhằm bảo vệ quyền lợi của tập đoàn thống trị. Đó cũng là đạo lý chống giặc ngoại xâm và nội xâm, tức bọn gian tà, mọt dân hại nước. Chức năng này của văn học quả đúng như hai câu của Nguyễn Đình Chiểu: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Nhưng để thuyền chở được nhiều, bút nhọn không bị tòe, thì phải gia công cho thuyền chắc, bút khỏe, tức văn phải có văn, có tính nghệ thuật. Mà ba chức năng của văn học: nhận thức, giáo dục và thẩm mỹ, thì thẩm mỹ ngồi chiều bét. Phê bình, vì thế, cũng chỉ chăm chăm vào những vấn đề xã hội được phản ánh trong văn học, thậm chí có khi còn không phân biệt nổi cái ngoài văn và trong văn. Từ đó dẫn đến tình trạng sáng tác thì suy nghệ thuật, phê bình thì suy học thuật, đòi hỏi phải đổi mới, tức chuyển đổi hệ hình.
Văn học hiện đại Việt Nam có thể bắt đầu từ trước đó với thơ và tiểu thuyết nằm im (trong ngăn kéo) của Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng, với truyện ngắn, truyện vừa (không nằm im) của Nguyễn Minh Châu,… nhưng chỉ chính thức được thừa nhận với chính sách Đổi mới và Mở cửa từ năm 1986. Nếu trước đây các nhà thơ đi tìm nghĩa, thì nay họ tìm chữ, bởi chữ “quan hệ” với chữ sẽ đẻ ra nghĩa mới. Nếu trước đây nhà văn đi tìm câu chuyện để viết, thì nay tìm cách viết mới. Tức viết làm sao cho có nghệ thuật, bởi lúc này nghệ thuật là lý do tồn tại của văn chương. Nhiều tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh… là những viết mới, đầy tính nghệ thuật, có thể bước đầu làm độc giả ngỡ ngàng, nhưng sau là hấp dẫn, ám ảnh. Văn học hiện đại nói chung coi cái mới là thượng đế, lấy tính nghệ thuật/tính văn học/tính thơ là mục tiêu của tác phẩm. Mà nghệ thuật là do các thủ pháp tạo thành (Nghệ thuật là thủ pháp - Shklovsky), nên nhà văn cố công tìm các thủ pháp mới, nhà phê bình tìm các phương pháp mới (như ngôn ngữ học, cấu trúc luận, thi pháp học) để tiếp cận tác phẩm. Sự quá chú mục vào văn bản đã cắt đứt mối liên hệ tác phẩm với tác giả và đời sống xã hội. Như vậy, chủ nghĩa hiện đại, xuất phát từ một phong trào quần chúng cuối cùng lại trở thành trò chơi của một nhóm người đặc tuyển.
Thoát khỏi sự “cầm tù văn bản,” văn học hậu hiện đại đã sửa chữa, hay nói như Lyotard, quan hệ khác cho/với chủ nghĩa hiện đại. Trước hết, hậu hiện đại có một quan niệm khác về văn bản và tác phẩm. Nếu trước đây người ta coi hơn ba ngàn câu thơ trong Truyện Kiều là tác phẩm thì nay chỉ là văn bản. Một văn bản chỉ trở thành tác phẩm khi có sự đọc. Tức văn bản chỉ như một bộ xương với “rất nhiều” khoảng trắng, khoảng trống, khoảng lặng, rất nhiều thách đố, đòi hỏi người đọc với trải nghiệm đời sống và trải nghiệm thẩm mỹ ra tay lấp đầy, đáp trả, để trở thành một sinh thể/tác phẩm. Người đọc xuất hiện để cấp nghĩa cho tác phẩm. Như vậy, văn học hậu hiện đại hoài nghi hoặc phủ nhận nghĩa cho trước, nghĩa phổ quát, tức đại tự sự, để đến với nhiều nghĩa riêng, nghĩa trường hợp, tức các chuyện nhỏ. Nhờ mở rộng khẩu độ như vậy, hậu hiện đại có thể tiếp nhận và sử dụng tất cả các thủ pháp nghệ thuật tiền hiện đại, hiện đại, có điều phải tái cấu trúc trên nguyên tắc hậu hiện đại.
Xã hội Việt Nam hiện nay đã qua thời bình quân chủ nghĩa, đã có sự phân hóa giàu - nghèo rõ rệt. Tăng trưởng kinh tế, chứ chưa phải phát triển bền vững, dù mang lại của cải vật chất cho nhiều nhóm xã hội nhưng nhiều khi cũng để lại ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của con người. Có điều những nhóm người giàu có hơn ấy chưa hẳn đã là thượng lưu, càng không phải là tinh hoa xã hội, bởi chưa có một sự tương ứng văn hóa. Mà văn hóa thì đòi hỏi phải có thời gian, có khi phải sau vài thế hệ. Một xã hội mà không có tầng lớp tinh hoa (élite) thì rất khó hình thành nên hệ giá trị của nó. Không có ai để hướng dẫn và phát tán hệ giá trị đó vào quần chúng. Bởi, để đánh giá một bức tranh đẹp, một cuốn sách hay, một loại rượu ngon không đòi hỏi tất cả mọi người đều phải xem, đọc, nếm rồi lấy ý kiến đa số, mà chỉ cần ý kiến của các chuyên gia, những người có thiên khiếu và từng trải. Hơn nữa, xã hội Việt Nam cũng chưa có một tầng lớp trung lưu đúng nghĩa, để một mặt đều đặn cung cấp cho tầng lớp élite những người con ưu tú của nó, mặt khác làm trung chuyển các giá trị văn hóa đến toàn xã hội. Trước 1945, Việt Nam đã từng có một lớp người như vậy (…) Chủ nghĩa dân tộc văn hóa đã khiến họ dám đứng lên đối đầu với thực dân để xây dựng một nền văn hóa mới cho Việt Nam. Nhưng sau đó, nhu cầu dồn hết tinh lực vào các cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ đã “đánh vỡ” tầng lớp này. Chỉ còn các cá nhân élite. Xã hội Việt Nam hôm nay đã lại có đủ các điều kiện cho một chủ nghĩa dân tộc văn hóa. Các cá nhân/mảnh vỡ ấy hẳn đã đến lúc cần hợp lại tự kết nối nhau thành một bức tranh ghép mảnh của Việt Nam học. Đây chính là động lực của phát triển văn học, văn hóa trong kỷ nguyên mới của Việt Nam do Tổng Bí thư Tô Lâm khởi xướng và được toàn dân đồng thuận (1).
_______________
1. Tham luận tại Hội thảo Nhìn lại sự vận động, phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 - 30/4/2025) do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tổ chức tháng 6-2025.