Từ khóa: tự quản cộng đồng; dân tộc thiểu số; phát triển kinh tế, xã hội; miền núi phía Bắc.

Abstract: Self-governance of ethnic minority communities in the Northern mountainous region is a form of organization of individuals or households within a residential area based on the principles of democracy, voluntariness, self-responsibility, and mutual assistance. These self-governance models are built on adherence to traditional customs and state laws to ensure security and order, promote socio-economic development in the locality, and build a better life. However, this region is increasingly facing diverse and complex factors of the market economy, drug trafficking, human trafficking, cyber fraud, and natural disasters, requiring self-governance models to have appropriate forms and content. Therefore, researching and evaluating self-governance models participating in the implementation of socio-economic development policies in ethnic minority communities in the Northern mountainous region today has great practical and theoretical significance.

Keywords: community self-governance; ethnic minorities; socio-economic development; Northern mountainous region.

1. Đặt vấn đề

Hiện nay, nhiều vấn đề về cách thức tổ chức các mô hình tự quản và vai trò của các bên tham gia vào mô hình tự quản cộng đồng vẫn còn gây không ít tranh cãi trong giới nghiên cứu học thuật cũng như trong thực tiễn cuộc sống. Trong khi đó, chủ trương phát huy vai trò của các mô hình tự quản, đặc biệt là ở các thôn làng dân tộc thiểu số (DTTS) trên cả nước là một định hướng đúng đắn. Vì lý do đó, Viện Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã thực hiện Đề tài “Nghiên cứu, đánh giá Mô hình Tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong cộng đồng các dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc”. Bài viết, trình bày sơ bộ các kết quả nghiên cứu và khảo sát về cơ sở lý luận và thực tiễn, về thực trạng, gợi ý các định hướng nhằm đưa mô hình tự quản (MHTQ) tham gia ngày càng hiệu quả vào quá trình phát triển bền vững của khu vực miền núi phía Bắc nói riêng và cả nước nói chung.

2. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp định tính và phương pháp định lượng để tiến hành nghiên cứu, đánh giá thực trạng và phân tích các vấn đề đặt ra từ cuộc điều tra thực nghiệm. Hai phương pháp chủ đạo này được kết hợp trong thiết kế nghiên cứu, trong tổ chức và thực hiện việc thu thập thông tin, và trong việc xử lý và phân tích dữ liệu thu thập được. Các phương pháp và kỹ thuật định tính và định lượng được tiến hành song song trong nghiên cứu này. Phương pháp cụ thể trong thu thập thông tin định lượng là bảng hỏi cấu trúc. Khảo sát bảng hỏi tập trung vào các hộ gia đình tham gia các mô hình tự quản tại địa bàn khảo sát. Trong quá trình đó, phương pháp nghiên cứu định tính cũng được tiến hành thông qua các kỹ thuật phỏng vấn sâu, quan sát, phân tích tài liệu và nghiên cứu trường hợp điển hình. Các phương pháp này tập trung vào các tài liệu thu thập được, làm việc với nhóm cán bộ và người phụ trách trong các tổ/ mô hình tự quản, cũng như các hình thức tự chủ/ tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong cộng đồng các DTTS miền núi phía Bắc.

Các khái niệm

Khái niệm tự quản

Đối với các học giả phương Tây thì các khái niệm tự quản, hoặc chính quyền tự trị có chung một số nội hàm áp dụng cho những quy mô tổ chức quản lý xã hội nhất định. Nó có thể đề cập đến hành vi cá nhân, các nhóm gia đình hoặc các hoạt động quy mô lớn hơn, thường được gọi là chính quyền địa phương, bao gồm các khu tự trị hoặc những hình thức tự quản khác trong một quốc gia. Ở cấp cộng đồng thì tự quản chính là những hoạt động hoặc sự kiểm soát được áp đặt bởi các thể chế quản lý có nguồn gốc từ bên trong cộng đồng hoặc một tổ chức nào đó và nó luôn dựa trên nền tảng dân chủ. Trong khi đó dân chủ ở cấp địa phương tùy thuộc vào những bối cảnh khác nhau và không có mô hình duy nhất nào về vấn đề này. Người ta thường coi dân chủ là những quá trình thiết yếu của đời sống chung giữa các nhóm người, thể hiện ở phương thức hình thành quyền lực cộng đồng thông qua các cuộc bầu cử định kỳ hoặc thường xuyên. Một số nền văn hóa có truyền thống tham gia của người dân, trong khi một số nơi khác lại coi trọng hơn đối với các chính quyền được cấp trên bổ nhiệm. Vấn đề cơ bản là ở cấp độ địa phương, những tập quán văn hóa truyền thống đã ăn sâu bén rễ trong cộng đồng, chẳng hạn như vai trò truyền thống của những người đứng đầu, có uy tín trong cộng đồng phải được dung hợp với các khế ước giữa các bên tham gia trong thực tiễn tự quản dân chủ (Bird, C, 2000, tr.563-577).

Khái niệm cộng đồng

Về mặt danh pháp học, “cộng đồng” hàm chức một tinh thần chung, với các thuộc tính chung về các chuẩn mực đạo đức, tôn giáo, các giá trị hoặc bản sắc. Thông thường các cộng đồng có chung ý thức về một khu vực địa lý nhất định, ví dụ một vùng, một khu dân cư, hoặc một bản làng. Các cộng đồng người có thể có chung ý hướng, niềm tin, nguồn lực, sở thích, nhu cầu ảnh hưởng đến tính đồng nhất vẫn được gọi là bản sắc, và sự gắn kết của các thành viên. Hầu hết các định nghĩa cộng đồng đều xuất phát từ tiền đề coi đó là một nhóm người cùng chung sống trong một khu vực địa lý nhất định. Theo cách đó, cộng đồng có thể được sử dụng để nhóm lại các biến số quan trọng như gắn bó, cam kết, tương thuộc và tin tưởng lẫn nhau. Và bao trùm lên tất cả các nhân tố đó là bốn biến sau: i) Địa điểm: là nơi mọi người có những điểm chung và yếu tố chung này được hiểu về phương diện địa lý, còn có một cách gọi khác là “tính địa phương”; ii) Sở thích: còn gọi là cộng đồng “tự chọn”, mọi người có chung một đặc điểm không phải là đặc điểm địa phương; người ta gắn bó với nhau bằng các yếu tố như niềm tin tôn giáo, nghề nghiệp, nguồn gốc tộc thuộc và các sở thích chung; sự phát triển của xã hội học về bản sắc và bản ngã đã đóng một vai trò quan trọng để có thể hiểu được các hình thức cộng đồng phi địa phương tính này: “Các cộng đồng tự chọn và cộng đồng tập hợp có chủ đích là một đặc điểm chính của cuộc sống đương đại” (Cohen, A. P, 1985, tr.35); iii) Cộng cảm: là cảm giác gắn bó với một địa điểm, các nhóm hay ý tưởng, hình tượng như độc lập, dân chủ, thần linh, Chúa trời, Đức Phật... (Hoggett, P, 2000, tr.420) Nói cách khác, “cộng đồng” đóng một vai trò tượng trưng quan trọng trong việc tạo ra cảm giác thuộc về ai, cái gì hoặc ý niệm nào đó và theo Putnam, có thể gọi đó là “vốn xã hội” (Hoggett, P, 2000, tr.65-78); iv) Lợi ích: đây có lẽ là một biến số quan trọng nhất nhưng khi nói về “cộng đồng” mang thiên hướng chủ đạo là “cộng cảm” người ta rất dễ quên đi hoặc dễ che lấp đi; trong thực tế nếu không có yếu tố lợi ích thì sẽ không có cái gọi là “cộng đồng”, vì thực tế lịch sử cho thấy mỗi nhóm người khi cố kết thành cộng đồng đều có chung lợi ích về các nguồn lực tự nhiên, các nguồn vốn xã hội và văn hóa được tích lũy qua quá trình lịch sử mà họ phải sống chết để bảo vệ, chống lại sự xâm nhập, tàn phá của tự nhiên và các nhóm, các cộng đồng khác.

MHTQ cộng đồng

Mô hình là sự đơn giản hóa một loại cấu trúc để thực hiện một/ một số chức năng nào đó, được coi là hình mẫu để xem xét đánh giá sự vận hành và hiệu quả của nó (Achinstein P, 1965, tr.102-120). Xây dựng mô hình là quá trình làm mới hoặc cải biến, thay thế các hệ thống cấu trúc chức năng đã có bằng một hình mẫu đã được cải thiện để tiến hành nhân rộng trong đời sống. Chính vì vậy, xây dựng mô hình là một phương pháp nghiên cứu khoa học nhằm ứng dụng một cách hiệu quả vào thực tiễn hoạt động của một chương trình, kế hoạch, dự án nào đó. Một MHTQ cộng đồng, chính là sự đơn giản hóa một hệ thống quản lý xã hội trong các quy mô tự tổ chức quản lý nhất định ở quy mô cộng đồng. (Morton, A and M. Suarez, 2001, tr.13-15). Trong thực tế có vô số loại hình hành động công quyền và hành động xã hội cụ thể được xây dựng thành hình mẫu tự quản để thực nghiệm, xem xét, đánh giá cấu trúc, chức năng, quá trình tham gia tổ chức thực hiện hiệu quả hoạt động thực tiễn của nó nhằm áp dụng rộng rãi vào việc cải thiện mọi mặt đời sống xã hội (Hà Hữu Nga, 2020, tr.40-51).

Vai trò của các bên liên quan trong MHTQ cộng đồng

Việc tạo dựng các MHTQ cộng đồng, chính là tạo dựng một nhóm xã hội bao gồm các cá nhân/ gia đình với những vị trí, vai trò nhất định cùng nhau hoàn thành những nhiệm vụ hoặc mục tiêu cụ thể của nhóm. Lý thuyết vai trò trong xã hội học và khoa học tổ chức xã hội đã xác lập các định đề về vai trò của các cá nhân trong các nhóm xã hội: i) Trong mọi nhóm xã hội, sự phân chia công việc là quá trình tương tác qua lại giữa các vị trí không đồng nhất được gọi là vai trò; vai trò xã hội bao gồm các hình thức hành động phù hợp và được phép làm, theo đúng các chuẩn mực xã hội và được các thành viên của nhóm xã hội biết rõ và kỳ vọng; ii) Các vai trò do các cá nhân, hoặc “các bên liên quan/ tham gia” nắm giữ; khi các cá nhân chấp thuận một vai trò xã hội tức là họ coi vai trò đó là “hợp thức/ hợp pháp” và mang tính xây dựng; iii) Khi chấp nhận tính hợp thức, các bên liên quan sẽ chấp nhận mọi điều kiện để phù hợp với các chuẩn mực vai trò và cũng chấp nhận trừng phạt những vi phạm các chuẩn mực vai trò đó; iv) Các điều kiện thay đổi có thể làm cho vai trò xã hội trở nên lỗi thời hoặc không hợp thức/ hợp pháp, trong trường hợp đó, áp lực xã hội có thể dẫn đến thay đổi vai trò; v) Thừa nhận về các hình thức thưởng và phạt, cũng như sự hài lòng khi hành xử vì lợi ích của nhóm xã hội chính là lý do để các bên liên quan tuân thủ các yêu cầu về vai trò trong nhóm xã hội (Dozier, D. M, 1984, tr.13-21).

Các bên liên quan là những thành viên tham gia vào mô hình thuộc các nhóm nhất định trong cộng đồng, nằm trong mối tương quan với các cá nhân khác, tạo nên tính xã hội của hành động (Weber M, 1991, tr.7). Khái niệm “các bên liên quan”, “các bên tham gia” trong tự quản cũng đồng nghĩa với khái niệm “tác nhân” trong lý thuyết hành động xã hội ở quy mô cộng đồng và bao gồm ba thành phần sau: i) Bên liên quan chủ chốt; ii) Bên liên quan chủ yếu; iii) Bên liên quan thứ yếu (Mitchell, R.K. Bradley, R.A. and Wood, D.J, 1997, tr.853-886). Trong mỗi mô hình thì “người dân” luôn là bên liên quan chủ yếu và khái niệm “người dân” không đơn giản là các cá nhân đơn độc, mà là các nhóm tập hợp nhau lại xung quanh các tiêu chí “địa điểm”, “cộng cảm”, “sở thích” và “lợi ích” của mỗi nhóm, các tiêu chí này đặc biệt phù hợp với các nhóm hoặc các MHTQ cộng đồng DTTS, vì trong thực tế, so với các nhóm đa số thì các cộng đồng này vẫn bảo lưu được nhiều đặc trưng truyền thống (Hà Hữu Nga, 2010, tr.4-7).

Khảo sát thực địa tự quản cộng đồng DTTS miền núi phía Bắc

Untitledmn.jpg
Bảng 1. Địa bàn khảo sát (thực hiện trước 1/7/2025)

Đề tài đã tiến hành các hoạt động khảo sát sau: i) Thu thập thông tin định tính và định lượng về thực trạng hoạt động của MHTQ tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong cộng đồng các DTTS khu vực miền núi phía Bắc thời gian qua trên địa bàn 5 tỉnh. Kết quả khảo sát bao gồm: i) Các dữ liệu về thực trạng MHTQ tham gia tổ chức thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, xã hội liên quan; ii) Các kết quả tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội của MHTQ; iii) Hiệu quả, tác động của MHTQ tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội; iv) Thực trạng cơ chế, chính sách, giải pháp đối với MHTQ tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội; v) Đánh giá nhu cầu, yêu cầu xây dựng và hoạt động, góp phần đề xuất giải pháp hoàn thiện của MHTQ.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Kết quả

Kết quả khảo sát cho thấy các MHTQ trong cộng đồng người DTTS miền núi phía Bắc hiện nay có vai trò quan trọng, đã trở thành thiết chế xã hội quen thuộc, góp phần củng cố mối liên kết cộng đồng, hỗ trợ chính quyền cơ sở trong quản lý xã hội, bảo đảm an ninh trật tự và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội ở vùng khó khăn.

Về thực trạng và tính đa dạng của các MHTQ

Kết quả khảo sát ở 5 tỉnh (Điện Biên, Hà Giang (cũ), Lào Cai, Lạng Sơn, Sơn La), có thể thấy 10 nhóm mô hình phổ biến như: tổ liên gia, an ninh trật tự (ANTT), hòa giải, dòng họ, văn nghệ, thể thao, vệ sinh môi trường (VSMT), phát triển kinh tế, tổ nhóm online và mô hình khác (từ thiện, bảo vệ rừng, nuôi con khỏe…). Trong đó, mô hình phát triển kinh tế có tỷ lệ người tham gia cao nhất (48,5%), tiếp đến là dòng họ và VSMT (30%), văn nghệ và ANTT trên 20%. Điều này cho thấy các MHTQ đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống cộng đồng người DTTS, dù mức độ phát triển giữa các loại hình vẫn còn chênh lệch (Nguyễn Khánh Hòa, 2025, tr.38).

Về mức độ tham gia của người dân

Tỷ lệ tham gia MHTQ đạt 71,9% - cho thấy sức lan tỏa và tính phổ biến tương đối cao. Người dân chủ yếu tham gia ở các hoạt động phi vật chất như bầu chọn lãnh đạo (83,8%), tham gia họp (71,8%) và bàn bạc, trao đổi (75,7%), trong khi các hình thức đóng góp tài chính, vật chất còn hạn chế (dưới 35%). Điều này phản ánh cả ưu điểm và hạn chế: người dân có tinh thần cộng đồng, song khả năng đóng góp nguồn lực cho hoạt động chung còn yếu do điều kiện kinh tế khó khăn. Đáng chú ý, nhóm có trình độ học vấn cao tham gia tích cực hơn, gợi ý hướng tăng cường năng lực, đào tạo và truyền thông để mở rộng sự tham gia chủ động (Nguyễn Khánh Hòa, 2025, tr.38-39).

Hiệu quả của các MHTQ

Khoảng 70% người được hỏi đánh giá MHTQ “hiệu quả” hoặc “rất hiệu quả”. Mô hình ANTT được đánh giá cao nhất (91,7% hiệu quả), khẳng định vai trò thiết thực trong giữ gìn trật tự, hòa giải mâu thuẫn và ngăn ngừa tội phạm. Mô hình VSMT cũng đạt mức hài lòng cao (trên 75%), phản ánh chuyển biến tích cực về nhận thức môi trường. Các mô hình hòa giải và dòng họ tiếp tục phát huy giá trị truyền thống trong ổn định xã hội, duy trì đạo đức cộng đồng. Trong khi đó, mô hình phát triển kinh tế và tổ nhóm online, dù mới được xem là động lực mới cho sinh kế, nhưng hiệu quả chưa đồng đều do hạn chế về thị trường, kỹ thuật và vốn. Mô hình văn nghệ, thể thao, từ thiện… có hiệu quả xã hội cao, tăng cường gắn kết, khơi dậy bản sắc văn hóa, song thiếu bền vững về tổ chức và tài chính. Riêng tổ liên gia, dù phổ biến lại bị đánh giá thấp về hiệu quả (chỉ 28,9% mức cao), chủ yếu do nội dung hoạt động cũ, chưa gắn kết lợi ích cụ thể, mang tính hình thức (Nguyễn Khánh Hòa, 2025, tr.38-39).

Đóng góp cho ANTT và phát triển kinh tế, xã hội

MHTQ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm ANTT và phát triển kinh tế, xã hội. Ở khía cạnh ANTT, các mô hình ANTT, hòa giải, tổ liên gia và dòng họ là lực lượng nòng cốt, góp phần duy trì hòa khí, ngăn ngừa tội phạm, giảm tranh chấp. Những thiết chế này giúp chính quyền cơ sở “nắm dân, hiểu dân” tốt hơn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa nơi lực lượng chức năng còn mỏng. Nhiều mô hình như “Bản tự quản vệ sinh môi trường gắn với du lịch cộng đồng” ở Sa Pa, hay các nhóm “Phụ nữ Dao làm du lịch xanh”, “Nông sản bản em” ở Sơn La minh chứng cho sự chuyển đổi sang mô hình tự chủ, sáng tạo của người DTTS (Nguyễn Khánh Hòa, 2025, tr.39).

3.2. Thảo luận

Tự quản cộng đồng DTTS miền núi phía Bắc trong bối cảnh mới

Khác với xã hội truyền thống, các nhân tố tạo nên bối cảnh mới của tự quản cộng đồng DTTS miền núi phía Bắc bao gồm các nhân tố nổi bật sau: i) Về môi trường có tình trạng mất đất, mất rừng, biến đổi khí hậu, công nghiệp hóa, đô thị hóa, hạ tầng giao thông, di dân, thay đổi phương thức canh tác nông, lâm nghiệp…; ii) Về công nghệ tác động lớn là hệ thống hồ đập, hệ thống thủy điện, hệ thống hạ tầng đô thị, giao thông, khai thác rừng, khai thác khoáng sản, khai thác nông, lâm nghiệp; đặc biệt phải kể đến công nghệ điện tử viễn thông góp phần làm biến đổi vĩnh viễn, đến tận gốc rễ các cộng đồng DTTS; iii) Về kinh tế, đó là quá trình chuyển đổi từ phương thức sản xuất tự túc tự cấp sang kinh tế hàng hóa, không chỉ ở địa phương, vùng, mà còn mở rộng thành liên quốc gia và cho cả thị trường toàn thế giới; iv) Về xã hội, tác động nổi bật nhất là quá trình thay đổi cấu trúc thống trị của quan hệ gia đình, cộng đồng của xã hội nông nghiệp, thành quan hệ cá nhân đa dạng, phức tạp có lối sống hoàn toàn mới của xã hội hiện đại, gắn liền với đô thị hóa, di cư, thay đổi việc làm, hôn nhân ngoài cộng đồng, hôn nhân dị tộc và bắt đầu phổ biến hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia; v) Về văn hóa, tác động nổi bật nhất là sự cạnh tranh quyết liệt của văn hóa phi truyền thống, ngoại nhập và hiện đại với văn hóa truyền thống thân thuộc của gia đình và tộc người; bên cạnh đó là xu hướng “kinh tế hóa văn hóa” (economization of culture), biến mọi thứ thành hàng hóa vì mục tiêu kinh tế; vi) Về thể chế, các tục lệ, quy ước bất thành văn tồn tại hàng ngàn đời giữa các nhóm xã hội nhỏ gồm gia đình, cộng đồng, tộc người đã dần dần được thay thế bằng hệ thống luật pháp quốc gia trên cơ sở quan hệ xã hội rộng lớn của mỗi cá nhân trong một bối cảnh đất nước ngày càng hội nhập và hiện đại.

Vấn đề thiên tai và tự quản cộng đồng DTTS miền núi phía Bắc

Kinh nghiệm trong những năm gần đây cho thấy những biến động khó lường của tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu là nguyên nhân gây ra vô vàn tai họa cho các cộng đồng dân cư nói chung và các cộng đồng DTTS nói riêng. Một ví dụ điển hình nhất là thảm họa xảy ra với Làng Nủ (Lào Cai) sáng ngày 10/9/2024, xóa sổ cả một ngôi làng, 60 người chết và 7 người mất tích. Những mất mát đó đòi hỏi các cộng đồng DTTS miền núi phía Bắc phải xây dựng các tổ chức tự quản cộng đồng thích ứng và có khả năng ứng phó với các sự cố thiên tai tương tự thông qua các sáng kiến đối phó với nhiều tình huống thiên tai, có đóng góp của nhiều bên tham gia. Cụ thể là cần lường trước các tình trạng dễ bị tổn thương căn cứ vào: i) Lớp tuổi: là một khía cạnh quan trọng của tình trạng dễ bị tổn thương xã hội ảnh hưởng đến trẻ em, thanh niên và người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ; ii) Người khuyết tật: dễ bị tổn thương về phương diện xã hội, có nguy cơ tử vong cao hơn rất nhiều so với người không bị khuyết tật; vì vậy cần đưa người khuyết tật trở thành một nhóm ưu tiên; iii) Các vấn đề giới: phụ nữ ít được đại diện trong các cơ cấu lãnh đạo và ra quyết định trong thảm họa; vì vậy cần hỗ trợ tâm lý, duy trì các vai trò đảm bảo sinh kế; lồng ghép các mối quan tâm về giới có liên quan; iv) Người nghèo: là nhóm người dễ bị tổn thương trong thảm họa; khả năng tiếp cận các nguồn lực bao gồm đất đai, chăm sóc sức khỏe và các dịch vụ chăm sóc xã hội và giáo dục thấp; vì vậy ở quy mô cộng đồng đây là nhóm ưu tiên hàng đầu trong đối phó với thảm họa; v) Các nhóm DTTS rất ít người và sống phân tán: bị cô lập về mặt xã hội, văn hóa và ngôn ngữ; hạn chế trong tiếp cận các nguồn lực; trình độ học vấn thấp; khi gặp thảm họa các nhóm xã hội này rất dễ bị tổn thương cao; vì vậy phải coi đây là nhóm ưu tiên trong ứng phó thảm họa.

Các MHTQ cần thích ứng với các nhân tố kinh tế, xã hội mới

Liên quan đến thể chế tự quản vùng đồng bào DTTS biên giới và vùng núi phía Bắc, trước hết cần nói đến tình trạng phức tạp của các mối quan hệ liên tộc người, xuyên biên giới, trong đó có vô vàn hình thức phạm pháp: buôn bán hàng cấm, hàng giả, đặc biệt là nạn buôn bán người với danh nghĩa việc nhẹ. Trong bối cảnh đó, yêu cầu kết hợp giữa tập tục và pháp luật trong các MHTQ cộng đồng có vai trò vô cùng to lớn. Để đáp ứng được yêu cầu đó thì việc giáo dục pháp luật cho đồng bào DTTS thông qua hoạt động của các tổ tự quản kết hợp với hình thức sử dụng mạng xã hội là rất cấp thiết. Một trong số ví dụ điển hình là huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái (nay là xã Mù Cang Chải, tỉnh Lào Cai) với gần 3.000 hộ, trên 14.000 nhân khẩu, trong đó, đồng bào dân tộc Mông chiếm 82%. Do điều kiện đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, trình độ dân trí và nhận thức pháp luật còn hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ bị kẻ xấu lợi dụng, lôi kéo vào các hành vi vi phạm pháp luật. Xác định rõ nguyên nhân đó, Công an xã Mù Cang Chải đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc xã, các đoàn thể tổ chức và đặc biệt là các nhóm tự quản ANTT đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại toàn bộ 22 thôn bản trên địa bàn xã. Các nội dung tuyên truyền rất thiết thực, trong đó có cảnh báo phương thức, thủ đoạn, hoạt động của các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, nhất là tội phạm mạng, tội phạm ma túy, trộm cắp tài sản; buôn bán hàng cấm, buôn bán người, vận động nhân dân tích cực chủ động tham gia các MHTQ về ANTT, nâng cao tinh thần cảnh giác, tự phòng, tự quản, tự bảo vệ trong cộng đồng. Đặc biệt, hiện nay các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo được người dân sử dụng phổ biến để tiếp thu thông tin (Trần Hữu Sơn và Trần Thùy Dương, 2024, tr.24-26).

4. Kết luận

Có thể nói các MHTQ ở cấp cơ sở thôn bản của chúng ta hiện nay hầu hết được xây dựng dựa trên các đồng thuận cộng đồng dưới hình thức các quy ước đôi khi còn mang tính hai mặt, thiếu cập nhật và chứa đựng các mối mâu thuẫn cả về hình thức lẫn nội dung: giữa truyền thống và hiện đại; giữa tính chính thức và phi chính thức; giữa tập tục và pháp luật; giữa địa phương và quốc gia. Cơ sở luật tục và pháp lý của các MHTQ ấy vừa có những đóng góp tích cực cho việc quản lý xã hội thôn bản, nhưng lại chứa đựng không ít các hạn chế cần phải được khắc phục, cải thiện, đặc biệt ở các vùng DTTS. Vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá MHTQ tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội trong cộng đồng các DTTS khu vực miền núi phía Bắc hiện nay có ý nghĩa thực tiễn và lý luận rất lớn đối với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh với khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc phấn đấu đến giữa TK XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN (1).

___________________________

1. Bài viết là kết quả của Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu, đánh giá Mô hình Tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong cộng đồng các DTTS khu vực Miền núi phía Bắc”, Mã số: ĐTCB.UBDT.02.24-25 do Viện Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chủ trì.

Tài liệu tham khảo

1. Achinstein P. (1965). Theoretical Models (Mô hình Lý thuyết). In The British Journal for the Philosophy of
Science
16.

2. Bàn Văn Thiện. (2025, 8 tháng 8). Lào Cai đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào DTTS. Cổng thông tin điện tử Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Lào Cai. https://tuyengiaodanvan.laocai.gov.vn

3. Bird, C. (2000). The Possibility of Self-Government (Khả năng của Chính quyền-Tự quản). In The American Political Science Review. Vol. 94. No.3.

4. Cohen, A. P. (1985). The Symbolic Construction of Community (Cấu trúc biểu tượng của cộng đồng). Tavistock.

5. Dozier, D. M. (1984). Program evaluation and roles of practitioners (Đánh giá chương trình và vai trò của các nhà thực hành). In Public Relations Review. 10 (2).

6. Hà Hữu Nga. (2010). Phân tích các bên liên quan trong các Dự án lớn và các Chương trình Trợ giúp Phát triển. Tài liệu Hướng dẫn lưu trữ tại Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn về Phát triển (DRCC) thuộc VUSTA.

7. Hà Hữu Nga. (2020). Tự quản cộng đồng như một loại hình hành động xã hội trong xây dựng Nông thôn mới ở Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Con người. 2 (107).

8. Hoggett, P. (2000). Contested communities (Các cộng đồng có tranh chấp), in P. Hoggett (ed.). Contested Communities. Experiences, struggles, policies (Các cộng đồng có tranh chấp. Kinh nghiệm, tranh đấu, chính sách). Bristol: Policy Press.

9. Mitchell, R.K. Bradley, R.A. and Wood, D.J. (1997). Toward a Theory of Stakeholder Identification and Salience: Defining the Principle of Who and What Really Counts (Hướng tới một lý thuyết về nhận diện và tầm quan trọng của các bên liên quan: Xác định nguyên tắc Ai và Điều gì thực sự quan trọng). In Academy of Management Review. Vol. 22(4).

10. Morton, A. and M. Suarez. (2001). Kinds of Models (Các loại Mô hình). In Model Validation in Hydrological Science (Kiểm định Mô hình trong Khoa học Thủy văn). Eds. P. Bates and M. Anderson. John Wiley Press.

11.  Nguyễn Khánh Hòa (2025). Báo cáo Kết quả khảo sát thực địa. Đề tài Nghiên cứu, Đánh giá mô hình tự quản tham gia tổ chức thực hiện chính sách phát triển Kinh tế - Xã hội trong cộng đồng các DTTS khu vực Miền núi phía Bắc.

12. Putnam, R. (2000). Bowling Alone: The Collapse and Revival of American Community (Chơi bóng một mình: Sự sụp đổ và hồi sinh của cộng đồng Mỹ). Simon & Schuster.

13. Trần Hữu Sơn và Trần Thùy Dương. (2024). Hiện tượng mới trong mô hình tự quản cộng đồng các dân tộc trên không gian mạng. Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Viện Nghiên cứu Ứng dụng Văn hóa và Du lịch thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tổ chức.

14. Tống Huệ - Cảnh Toàn. (2025, 9 tháng 8). Lào Cai đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số. https://baolaocai.vn

15. Weber M. (1991). The Nature of Social Action (Bản chất của Hành động Xã hội). In Runciman, W.G. Weber: Selections in Translation. Cambridge University Press.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 10/11/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 12/12/2025; Ngày duyệt đăng: 29/12/2025.

TS HÀ HỮU NGA

Nguồn: Tạp chí VHNT số 630, tháng 1-2026