Ngay trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Hồ Chí Minh đã đặt tư cách của một người cách mệnh lên hàng đầu, theo đó người cách mệnh “phải giữ chủ nghĩa cho vững” và “Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất”[1]. Đặc biệt, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, vào tháng 10-1947, lần đầu tiên Người chỉ ra “việc chỉnh đốn Đảng” và xác định 12 chuẩn mực về tư cách của một đảng chân chính. Chỉ có như vậy, Đảng mới không ngừng trưởng thành, phát triển, thật sự là đạo đức, là văn minh, xứng đáng là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Quán triệt những chỉ dẫn này, trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng luôn quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn và tự đổi mới; điều này càng được Đảng chú trọng thực hiện trong những giai đoạn quan trọng, bước chuyển lớn của cách mạng. Hiện nay, trước đòi hỏi của thực tiễn, khi đất nước đang bước vào kỷ nguyên vươn mình, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Văn kiện Đại hội XIV, Đảng đã khẳng định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”; nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng”[2]. Đây là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới và được Đảng chỉ rõ trên một số vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về mọi mặt
Trước hết, cần tập trung xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, đây là yếu tố quan trọng hàng đầu, quyết định sinh mệnh của Đảng và vận mệnh dân tộc. Trên cơ sở kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, dự báo sát tình hình để đề ra đường lối lãnh đạo đúng đắn. Kế thừa, bổ sung, phát triển Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới. Trong đó, cần tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo; đổi mới việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Đảng trên mọi lĩnh vực.
Xây dựng Đảng về tư tưởng, lý luận là nhận thức mới về công tác xây dựng Đảng, được Đại hội XIV đề cao. Trong tình hình hiện nay, việc giữ vững bản lĩnh chính trị, sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng trên cơ sở Cương lĩnh và đường lối đúng đắn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì vậy, cần tập trung nghiên cứu, tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930 - 2030), định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo (2030 - 2130); Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa xã hội, về mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tiếp tục hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối đổi mới. Chú trọng đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng lý luận; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đáp ứng quá trình chuyển đổi số đang diễn ra. Đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Tăng cường hơn nữa hoạt động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Một Đảng mạnh không chỉ dừng lại ở đường lối đúng mà còn ở đạo đức, lối sống, phong cách và tinh thần phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, cần quán triệt và thực hiện nghiêm cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đề cao trách nhiệm nêu gương, ý thức tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp. Cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nêu gương, biết coi trọng danh dự cá nhân để quần chúng noi theo. Đáng chú ý, Văn kiện còn chỉ rõ: “Nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện lý luận xây dựng Đảng về đạo đức, để Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh” trong tình hình mới”[3].
Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Đảng về tổ chức và cán bộ; trong đó, chú trọng xây dựng bộ máy tinh gọn, theo hướng giảm tầng nấc trung gian, rõ chức năng, nhiệm vụ, khắc phục chồng chéo, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Công tác cán bộ tiếp tục được xác định là khâu “then chốt của then chốt”; trong đó, tập trung nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, vai trò nêu gương, tính chiến đấu của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, cán bộ cấp chiến lược. Đại hội XIV nhấn mạnh: “Khẩn trương thực hiện hiệu quả, đồng bộ thể chế về công tác cán bộ; đặc biệt tập trung triển khai nghiêm các quy định mới ban hành, nhất là trong đánh giá, đào tạo, sử dụng cán bộ, bảo đảm dân chủ, công khai, công tâm, khách quan theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí, gắn với sản phẩm cụ thể, theo vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh”[4]. Đấu tranh quyết liệt, hiệu quả với các hành vi chạy chức, chạy quyền; kịp thời thay thế, cho từ chức những cán bộ yếu kém về năng lực, thiếu trách nhiệm, uy tín thấp, sai phạm và cán bộ ở những cơ quan, đơn vị, địa phương có kết quả thực hiện nhiệm vụ yếu kém mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm.
Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ công tác dân vận; xây dựng tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên ngang tầm nhiệm vụ
Quan hệ giữa Ðảng với nhân dân, giữa nhân dân với Ðảng được kiểm nghiệm trong thực tiễn như một quy luật thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong lịch sử hơn 96 năm qua. Mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Ðảng và nhân dân là quan hệ mang tính chủ động - tự nguyện từ hai phía, biểu hiện bằng sự gặp gỡ và gắn kết bền chặt giữa lý tưởng của Ðảng và nhu cầu, khát vọng của nhân dân; sự thống nhất cao về lợi ích của Ðảng và Nhân dân. Tiếp nối những giá trị tốt đẹp trong mối quan hệ này, Đại hội XIV khẳng định: “Đổi mới công tác dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị”[5]. Phát huy vai trò, sự tham gia của Nhân dân trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Một trong những yêu cầu mới được Đảng đề ra đó là: Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc Nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Gắn công tác dân vận với thực hiện có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, nhất là từ cơ sở. Đổi mới phương thức lãnh đạo, vận động, tập hợp và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách về dân tộc, tôn giáo, tăng cường xây dựng lực lượng nòng cốt là người có uy tín trong dân tộc, tôn giáo; nắm chắc tình hình nhân dân, chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, xử lý dứt điểm những điểm nóng, vụ việc phức tạp, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Trong thời gian tới, cần tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng; đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Cấp ủy các cấp cần tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác kiểm điểm, phê bình, tự phê bình, đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Bên cạnh đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, kỹ năng và nghiệp vụ công tác đảng, năng lực cụ thể hoá và tổ chức thực hiện cho đội ngũ cấp uỷ viên và cán bộ chuyên trách công tác đảng tại cơ sở. Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và phát triển tổ chức đảng, các tổ chức chính trị - xã hội trong khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước, nhất là doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; quan tâm phát triển đảng viên trong công nhân, cán bộ quản lý trong doanh nghiệp khu vực ngoài nhà nước, người có tôn giáo, người ở nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số.
Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực
Công tác công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng là một phương thức lãnh đạo chủ yếu, rất quan trọng để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Vì vậy, cần phải “đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, gắn kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực khác”[6]. Chuyển trọng tâm sang giám sát thường xuyên; chủ động, ngay từ đầu, xuyên suốt trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quyết định của cấp uỷ các cấp; bảo đảm mọi chủ trương, đường lối của Đảng được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả; không để tồn tại “khoảng trống”, “vùng tối”. Chú trọng công tác tự kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, tổ chức đảng ngay từ cơ sở, chủ động phòng ngừa, cảnh báo, xử lý vi phạm từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành vi phạm lớn; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.
Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả, hoạt động của hệ thống cơ quan uỷ ban kiểm tra của Đảng. Phối hợp chặt chẽ, kịp thời, đồng bộ, hiệu quả giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với thanh tra, kiểm toán nhà nước, điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật và giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác kiểm tra, giám sát, thực hiện kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu, đáp ứng yêu cầu “kiểm tra, giám sát trên dữ liệu”, nhất là kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ diện cấp uỷ các cấp quản lý.
Đối với nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, cần phải đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, đồng hành và phục vụ yêu cầu phát triển đất nước. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, thực hiện đồng bộ các biện pháp để xây dựng, hoàn thiện cơ chế “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực; trong đó, lấy phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài, phát hiện, xử lý là quan trọng, đột phá.
Hoàn thiện và kiên quyết thực hiện đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả thể chế phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực. Kiểm soát chặt chẽ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và phòng, chống lãng phí. Trong tình hình hiện nay, cần tập trung “Triển khai quyết liệt, thường xuyên, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; tập trung vào các lĩnh vực trọng yếu, then chốt, lĩnh vực mới, tiềm ẩn nguy cơ cao tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực”[7]. Cần ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế, hành chính, tổ chức, trường hợp đến mức phải xử lý hình sự thì cho phép chủ động khắc phục hậu quả kinh tế trước, nhưng có thời hạn thực hiện cụ thể; bảo vệ người đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; chú trọng thu hồi tài sản tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Một vấn đề mới trong công tác này là: Tăng cường hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng, truy bắt, dẫn độ những đối tượng bỏ trốn. Xây dựng văn hóa liêm chính, không tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, hướng đến xây dựng quốc gia liêm chính, xã hội liêm chính.
Thứ tư, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới
Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng là vấn đề được Đảng quan tâm rất lớn, góp phần nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay. Vì vậy, Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh: Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về Đảng lãnh đạo, cầm quyền. Cụ thể hoá và thực hiện hiệu quả mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”[8]. Đổi mới, nâng cao chất lượng ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng bảo đảm rõ trọng tâm, rõ nguồn lực, rõ kết quả và bảo đảm nghị quyết ban hành thực sự đi vào cuộc sống.
Cùng với đó, cần chăm lo xây dựng, củng cố và phát huy hiệu quả vai trò hạt nhân lãnh đạo của cấp uỷ các cấp, nhất là người đứng đầu. Hoàn thiện thể chế, thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo, xây dựng tổ chức bộ máy, công tác cán bộ, biên chế của hệ thống chính trị; đẩy mạnh phân cấp, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, vai trò nêu gương của cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số trong Đảng; đổi mới phong cách lãnh đạo, phương pháp công tác, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo, tham mưu của Đảng từ Trung ương tới cơ sở. Đây là xu thế khách quan của toàn xã hội và thế giới, đòi hỏi hoạt động của các tổ chức đảng cần phải nhanh chóng tiếp cận và thực hiện. Bên cạnh đó, cần sớm “Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc của cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp, quy định chặt chẽ nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ, quy trình công tác, khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng”[9], vừa nâng cao uy tín của các tổ chức đảng, vừa phát huy vai trò của các cơ quan trong hệ thống chính trị.
Kết luận
Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; trong đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới luôn là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa đặc biệt và tác động trực tiếp đến nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Điều này càng quan trọng trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, khi vai trò lãnh đạo của Đảng càng được thể hiện rõ trước vận hội lớn của dân tộc. Quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ góp phần trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Đại hội XIV đã khẳng định: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ là vấn đề nội bộ của Đảng mà là vấn đề sống còn của chế độ, gắn trực tiếp với vận mệnh của đất nước và niềm tin của nhân dân, để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh; nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.
TS Nguyễn Văn Trường - Chủ nhiệm Khoa Lịch sử Đảng - Học viện Chính trị - Bộ Quốc phòng;
Nguyễn Quỳnh Anh- Học viện Báo chí và Tuyên truyền
1. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr. 280.
2, 3,4,5,6,7,8,9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 130, 132, 137, 139, 142.