Nhà thơ Quang Hoài (2).jpg

Trong bài thơ được nhà thơ lấy làm tên chung cho tuyển một đời thơ của mình, ông viết: Mỗi ngày tôi lại một tôi/ Một miền tôi với một người tôi yêu… Những tưởng như thế là đủ, là hạnh phúc rồi. Song, để viết được câu thơ chứa niềm vui giản dị ấy, ông đã trải một đời binh nghiệp, một đời thơ từ thuở tóc xanh đến ngưỡng cửa “bát tuần”.

Nhà thơ Quang Hoài viết nhiều, đa thể loại, bút ký chính luận, tạp văn, tiểu luận văn học và thơ. Tuy thế, thơ là lĩnh vực ông yêu thích, dồn tâm lực và đeo đuổi từ thời đầu cầm bút đến tận giờ và đạt được thành quả ấn tượng hơn cả. Vậy nên, tôi điểm nhanh cuộc đời binh nghiệp song hành văn chương của Quang Hoài để lắng lại ở đời thơ của ông.

Ông tên thật là Nguyễn Quang Hoài (bút danh Quang Hoài, Hoài Phương), tuổi Ất Dậu (sinh 1945), quê Duy Tiên, Hà Nam (cũ) nay là tỉnh Ninh Bình. Sinh ra ở vùng quê chiêm trũng chỉ trông vào hạt lúa củ khoai, đúng vào một năm kinh thiên động địa, mất mùa đói kém khiến gần hai triệu người chết, năm xảy ra cuộc cách mạng gắn với sự ra đời của nhà nước Việt Nam – nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á. Một năm như thế, cho dù gia cảnh ra sao thì cậu bé Quang Hoài sống sót đã là một sự may mắn rồi. Tuổi trưởng thành, năm 1961, Quang Hoài được vào trường đào tạo cán bộ phiên dịch (tiếng Trung) rồi chuyển tiếp trường sư phạm ngoại ngữ và bồi dưỡng giáo viên Văn-Sử. Nhờ đó, sau này không những giỏi Trung văn mà còn có phông kiến thức văn-sử khá vững chắc, trợ giúp ông tiến bộ cả trong binh nghiệp và văn chương.

Quang Hoài nhập ngũ năm 1965, làm công tác phiên dịch tiếng Trung trong quân đội rồi sau chuyển làm công tác nghiên cứu khoa học thuộc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng. Ở đây, ông được đào tạo thêm nghiệp vụ tuyên huấn báo chí và từ năm 1974 làm công tác tuyên huấn thuộc Sư đoàn 308. Từ năm 1977, ông là phái viên về công tác chính trị tại biên giới Tây Nam, rồi trực tiếp tham gia chiến đấu thuộc Trung đoàn 201 Bộ Chỉ huy quân sự Tây Ninh, đóng quân ở biên giới Tây Ninh - Campuchia. Từ năm 1978, Quang Hoài trở lại Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng vừa nghiên cứu vừa học tập và có bằng cử nhân Triết học. Sau nhiều năm làm biên tập, Quang Hoài dần thăng tiến, làm Phó Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục Lý luận Chính trị quân sự, Bộ Quốc phòng, nghỉ hưu năm 2006 với quân hàm đại tá. Không kể một số tác phẩm do ông biên soạn về lý luận chính trị quân sự theo vị trí công tác và chuyên ngành được đào tạo, tác phẩm chính của ông là: Nguyện cầu (thơ, 2002), Mưa đền tình (thơ, 2003), Văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh trong Bộ đội Cụ Hồ (bút ký chính luận, 2004), Lời yêu rượu đắng (thơ, 2005), Gió sông Hồng vẫn thổi (thơ, 2006), Kiếp này ta chửa thương ta (thơ lục bát, 2007), Chớp lửa đường cong (thơ, 2009), Giữa hai bờ trăng khuất (thơ, 2010), Giọt trời trên lá sen (thơ, 2012), Trong veo nước suối nguồn (thơ, 2015), Tình sau con chữ (bút ký, tiểu luận, 2015), Trước mùa nước dâng (thơ, 2017), Nhìn trăng đáy nước (tiểu luận văn học, 2018), Quả càng già càng chín ngọt thơm (thơ, 2020), Ngước sao đỉnh giời (tiểu luận văn học, 2021), Giấc người (thơ, 2021), Miền hoài phương (thơ, 2023), Thơ Quang Hoài tuyển chọn (2024), Mỗi ngày tôi lại một tôi (thơ chọn, 2025) và Trước hoàng hôn (thơ, 2025).

Bìa cuốn tiểu luận văn học Nhìn trăng đáy nước và cuốn thơ Mỗi ngày tôi lại một tôi của Quang Hoài
Bìa cuốn tiểu luận văn học Nhìn trăng đáy nước và cuốn thơ Mỗi ngày tôi lại một tôi của Quang Hoài

Quan niệm của Quang Hoài về thi ca, hay đơn giản là ông nghĩ gì về thơ? Khi mạn đàm về thơ, ông từng tếu táo đọc vài câu thơ, tự giễu mình mà cũng là để răn người: Tưởng câu thơ đẩy mái chèo/ Nào ngờ gió thổi bay vèo xuống sông và nữa Biết Trời thương mà chưa cho/ Thì tôi chả vớt câu thơ ướt đầm. Phàm người làm thơ hay tự huyễn hoặc, gán cho thơ mình phải gánh vác sứ mệnh này nọ, hay ẩn chứa tư tưởng lớn lao dường kia, rồi gồng lên mà sinh ảo tưởng.

 Quang Hoài tự nhận, mình là người yêu thơ, thích làm thơ nhưng chỉ sáng tác khi có cảm xúc và chỉ viết được những gì lắng lại thành ký ức, đọng lại trong tâm hồn. Ông tâm niệm: Làm thơ trước hết là cho mình, sau mới cho người, được người chia sẻ, dù chỉ một cũng là hạnh phúc. Tôi càng nhận ra rằng, bản chất của thi ca là sáng tạo và cách tân. Song sáng tạo và cách tân gì thì cũng phải dựa trên cơ sở gắn kết hòa quyện chặt chẽ giữa tâm hồn dân tộc như một nguồn sữa tạo nên sức sống và sự trường tồn của thi ca với hơi thở thời đại trong sự phát triển và tiến hóa của nền văn minh nhân loại. Cái cốt lõi của thi ca là nhân văn, nhân bản. Sự thăng hoa của cảm xúc tiến tới siêu việt là cứu cánh đưa thi ca đến thánh thiện, làm cho con người thoát khỏi sự ràng buộc giới tình và dục vọng… Có chút văn hoa đấy song tôi chia sẻ với Quang Hoài điều này. Vâng, biết là thế, tậm niệm vậy nhưng được phần nhỏ thôi cũng khó lắm thay, nên chăng được trời cho bài nào, câu thơ nào hay là quý.

Tâm niệm vậy, tôi biết Quang Hoài không tự huyễn hoặc. Hơn một lần, trong lúc mạn đàm văn chương thơ phú, ông bảo, thơ mình thế nào, tài mình đến đâu mình biết cả chứ, thơ bao nhiêu bài đấy, người đời thích và khen cho một vài bài, dăm ba câu thơ là được rồi, hạnh phúc rồi.

Ý thức vậy là Quang Hoài thật lòng. Ông bảo, đời thơ làm cả ngàn bài nhưng ông không bao giờ quên cảm giác sung sướng hạnh phúc khi biết tin bài thơ đầu tiên của mình được đăng báo. Ông kể lại, bài thơ ấy có tên Lá thư gửi anh, được  sáng tác năm 1968 lúc mới 23 tuổi, tại Trạm Kiểm soát quân sự Ma Lù Thàng, Phong Thổ, Lai Châu khi chàng thượng sĩ được phân công làm nhiệm vụ phiên dịch tiếng Trung ở Quân khu Tây Bắc. Ban đầu, Quang Hoài định nhờ nhà văn Tô Hoài đọc thẩm định vì tình cờ ông đang đi thực tế sáng tác ở đó. Việc ấy không thành, rồi qua một người bạn gái, bài thơ được cô này đánh máy cẩn thận và bằng cách nào đó chuyển đến tay nhà thơ Nông Quốc Chấn. Lần này thì may mắn, ông nhà thơ mang theo về Hà Nội chuyến đến Báo Văn Nghệ dạng dự thi (cuộc thi thơ Báo Văn Nghệ năm 1969-1970). Bài thơ lọt mắt xanh Tổ thơ (gồm các nhà thơ Vĩnh Mai, Phạm Hổ, Xuân Quỳnh), được chọn đăng (Báo Văn Nghệ số 296). Thế nhưng, phải chừng gần một năm sau, khi Quang Hoài nghỉ phép về quê (Duy Tiên, Hà Nam cũ), khi đó chàng lính trẻ mới được gia đình đưa cho lá thư do nhà thơ Vĩnh Mai viết thì mới biết thơ mình được đăng báo. Còn gì sung sướng hơn, thơ dự thi trên Báo Văn Nghệ kia mà! Quang Hoài còn nhớ, cùng số báo ấy, thơ dự thi còn có bài của nhà thơ Vương Anh, bài thơ Hoa trong Mường. Sướng nữa là, chính số ấy là số báo đầu tiên bắt đầu đăng thơ dự thi của cuộc thi thơ này, cuộc thi mà kết thúc, Phạm Tiến Duật giành giải Nhất, làm nên tên tuổi một nhà thơ diện hàng đầu của thơ ca Việt Nam giai đoạn chống Mỹ cứu nước. Quang Hoài bảo, đây là điểm khởi đầu cho đời thơ của ông, chẳng bao giờ quên được.

Nhà thơ Quang Hoài (thứ 2 bên trái) và các đồng nghiệp
Nhà thơ Quang Hoài (thứ 2 bên trái) và các đồng nghiệp

Tôi đã đọc kỹ bài thơ này. Tên bài đã phần nào thể hiện nội dung bài thơ. Tác giả (Quang Hoài) đóng vai một cô gái người dân tộc thiểu số gửi thư cho người yêu, chàng trai cùng dân tộc đã nhập ngũ vào mặt trận chiến đấu. Thơ tự do, có chia khổ, khá dài, giọng điệu kể. Tác giả kể bằng ngôn từ dễ hiểu ngồ ngộ kiểu người dân tộc thiểu số nói tiếng Kinh. Khá khen cho tác giả lúc ấy còn rất trẻ lại lần đầu lên miền núi mà đã biết cách chọn ngôn ngữ diễn đạt phù hợp và cũng khá thạo phong tục, nếp sống của người đồng rừng. Đọc rồi tôi cũng chọn được một khổ thơ trích ra đây: “Anh ơi/ Ta xa nhau/ Hãy như con chim biết nhớ đàn nhớ tổ/ Đừng thấy hoa mới nở/ Quên hoa cũ bản Mèo/ Đừng vì nhớ em nhiều/ Mà buồn như ông sao sắp lặn…”. Thì ra, trái tim - tình yêu có lý lẽ riêng của nó, chẳng cần nhà thơ phải nhăn trán tìm câu chữ, tự thân đã hát thành lời,…

Một người tự biết mình, Quang Hoài luôn tỉnh táo và chẳng bao giờ phung phí lời khen. Ông tinh nhạy, sắc sảo trong thẩm định văn chương thơ phú. Những nhận xét trực diện về văn chương có thể làm ai đó không hài lòng song tôi quý thái độ thẳng thắn này của ông. Tôi tin, nhiều người cũng quý trong ông vì điều đó. Chẳng vậy mà, với kiến văn rộng, tinh nhạy, thái độ nghiêm túc, cẩn trọng, ông đã có một số tác phẩm phê bình văn học đáng kể. Thẳng thắn, sắc sảo đấy nhưng đồng cảm, chia sẻ tâm nguyện và nỗi niềm riêng của người cầm bút, nên nhiều nhà văn nhà thơ tin tưởng nhờ ông biên tập, tổ chức bản thảo và làm thủ tục xuất bản tác phẩm văn học của họ. Cho đến nay, ông là người đỡ đầu cho hàng trăm tập thơ văn, giúp bạn bè ra sách. Quang Hoài là người ưa hoạt động, năng nổ, bởi vậy, ông là hạt nhân thành lập ra nhiều câu lạc bộ thơ ca ở khu vực Hà Nội, tạo sân chơi và đem lại niềm vui cho mọi người. Không những thế, nhiều tờ báo, tạp chí nhờ cậy ông lựa chọn, thẩm định, biên tập thơ cho trang văn nghệ của họ.

Bài thơ Dấu chân bè bạn được Quang Hoài sáng tác năm 1971 khi chàng sĩ quan trẻ mang lon chuẩn úy, đến năm 1976 thì được chọn in vào tuyển thơ Đường chiến dịch của Nxb Quân đội nhân dân, đấy là một dấu ấn vinh dự của ông trong đời binh nghiệp. Bài thơ ấy, tác giả lấy tứ cả nước lên đường ra trận, qua việc tạo dựng hình ảnh anh lính trẻ (tôi) trên mọi nẻo vào mặt trận đều nhận ra dấu bàn chân của các bạn học cùng làng mình Rừng đại ngàn cứ in dấu ấn/ Những bàn chân nối tiếp những bàn chân…”

Giờ thì chiến tranh đã lùi xa. Chỉ còn các nhà thơ thì vẫn đang mải miết hành quân trên mặt trận chữ nghĩa. Ai in được “dấu chân” của mình trên thảo nguyên thơ văn mênh mông để người đời nhận ra thật khó lắm thay!

Tôi tin, nhà thơ Quang Hoài đã biết cách để lại “dấu chân” của mình. 

NGUYỄN CHU NHẠC

Nguồn: Tạp chí VHNT số 650, tháng 7-2026