1. Đường lối của Đảng về văn hóa
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã khẳng định vai trò, vị trí quan trọng của văn hóa: “Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi”. Ngay khi chuẩn bị giành độc lập, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã xây dựng Đề cương về Văn hóa Việt Nam (1943), với 3 mệnh đề cốt lõi về công tác văn hóa, văn nghệ: “Dân tộc, khoa học, đại chúng”, cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng đã ban hành các nghị quyết phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước. Với Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16-7-1998, của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, lần đầu tiên Đảng ta đã ban hành nghị quyết chuyên đề về văn hóa. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (2021), tiếp tục khẳng định: Chiến lược phát triển tổng thể của đất nước ta là đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; một trong những định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 là: “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước”.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã chỉ rõ: “Nhận thức về văn hóa, xã hội, con người ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn. Các lĩnh vực, loại hình, sản phẩm văn hóa phát triển ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu mới, nhiều mặt của đời sống xã hội. Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy. Văn hóa trong chính trị và trong kinh tế bước đầu được coi trọng và phát huy hiệu quả tích cực”.
Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng (bản lấy ý kiến nhân dân) thể hiện ý chí, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân ta trong công cuộc đổi mới và sáng tạo. Chúng tôi rất tâm đắc với nội dung Dự thảo Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam… Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản”.
Như vậy, đường lối của Đảng được quát triệt, xuyên suốt qua từng giai đoạn, từng thời kỳ trong công tác văn hóa văn nghệ, khoa học tích hợp với thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thời kỳ phát triển khoa học công nghệ, kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo, Đảng ta đã khẳng định vị trí, vai trò văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế
Hiện nay, nước ta đang đứng trước nhiều cơ hội học hỏi, tiếp thu tinh hoa kỹ thuật, văn hóa, nghệ thuật nước ngoài, nhưng cũng có nhiều thách thức trong quá trình hội nhập và phát triển. Chính vì vậy, chúng ta phải chú trọng “hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa… Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản”, vì sự phát triển bền vững của đất nước.

2. Gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phát triển kinh tế
Công tác gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần theo quan điểm, đường lối của Đảng đã được thực hiện ở khắp các địa phương, vùng, miền. Những năm qua, nhiều di sản văn hóa của Việt Nam đã được UNESCO ghi danh, công nhận. Nhiều di tích, di sản văn hóa đã được quan tâm đầu tư, tu bổ, bảo tồn kịp thời, gắn kết với phát triển du lịch, đem lại hiệu qủa kinh tế, giải quyết công văn việc làm cho người dân, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Tuy vậy, tại một số nơi, công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa chưa thực đồng bộ, chưa tạo sự gắn kết liên ngành, vẫn còn tình trạng mạnh địa phương nào địa phương đấy làm; việc tiếp cận giá trị di sản các địa phương, thực tế chủ yếu du khách tiếp nhận qua thông tin ngành Du lịch. Đây là điều cần quan tâm, khắc phục.
Văn hóa và kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ, văn hóa không chỉ tạo ra giá trị tinh thần, thúc đẩy quá trình sáng tạo hay lao động sản xuất truyền thống như: Tháng Giêng là tháng trồng khoai, tháng Hai trồng đậu, tháng Ba trồng cà…; Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm, mà ông cha đã đúc kết kinh nghiệm qua thực tiễn lao động, sản xuất.
Những năm gần đây, văn hóa đã góp phần vào việc phát triển kinh tế thông qua các hoạt động như du lịch, nghệ thuật và công nghiệp sáng tạo một cách hiệu quả. Các chương trình ca nhạc được tổ chức với việc áp dụng công nghệ số, công nghệ ánh sáng.. đã tạo tiếng vang lớn trong nước và quốc tế, tạo ra giá trị kinh tế và ngược lại, kinh tế bổ trợ để văn hóa phát triển.
Hiện nay, sự kết hợp giữa bảo tồn di sản kiến trúc với các giá trị văn hóa truyền thống, danh lam thắng cảnh, bản sắc văn hóa vùng, miền đã dần dần định hình hướng phát triển du lịch di sản, du lịch văn hóa được nhiều địa phương lựa chọn để hướng tới mục tiêu phát triển nền kinh tế sạch, xanh, nhằm thực hiện đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa, góp phần phát triển kinh tế xanh, bền vững.
Trên cơ sở địa danh hành chính, chúng ta có thể phân vùng để phát triển kinh tế xanh, kinh tế sạch một cách tương đồng với văn hóa vùng miền: Vùng Bắc Bộ (Lạng Sơn, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Hưng Yên…); Vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế); Vùng Nam Trung Bộ (Đà Nẵng, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Lâm Đồng…); Vùng Nam Bộ (TP.HCM, Đồng Nai, Tây Ninh, Cần Thơ, Vĩnh Long, Cà Mau…).
Để phát triển kinh tế du lịch, chúng ta cần khai thác một cách đồng bộ giá trị di sản văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, kết nối trên cơ sở kinh tế, hạ tầng kỹ thuật của địa phương, vùng miền. Sự liên kết kinh tế vùng miền tạo nên sức mạnh tổng hợp về kinh tế, về văn hóa. Trong đó, ưu tiên bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa vật chất. Những di sản kiến trúc, những công trình nghệ thuật công cộng như: chùa Một Cột, đền Ngọc Sơn, đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc, chùa Thiên Mụ, kiến trúc cung đình Triều Nguyễn, Khu di tích Mỹ Sơn, Cầu Ngói Hội An, Tháp Chăm… là những điểm đến của du khách trong và ngoài nước khi tới Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang… Đó là biểu tượng, là giá trị di sản văn hóa, nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Đó cũng là nguồn lực vô giá của đất nước trong quá trình phát triển kinh tế, không những mang lại giá trị kinh tế mà bao hàm giá trị quảng bá, lan tỏa của di sản văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.
Ngày 14/11/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 2486/QĐ-TTg năm 2025 về phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa sẽ góp phần hiện đại hóa nền văn hóa dân tộc, gia tăng cơ hội sáng tạo và thụ hưởng văn hóa của các tầng lớp nhân dân, tạo ra hiệu quả kinh tế, giải quyết công ăn việc làm nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần vào sự phát triển của xã hội, của đất nước. Những con số tăng trưởng ấn tượng về công nghiệp văn hóa cho thấy tiềm năng và khả năng chuyển hóa nguồn vốn văn hóa và sức sáng tạo của con người Việt Nam thành động lực trực tiếp cho sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.
Trong những năm gần đây, việc ứng dụng công nghệ, kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo và quá trình số hóa các di sản văn hóa nghệ thuật, với kỹ thuật 3D, thiết kế, lập trình, xây dựng các tour trải nghiệm VR/AR các di sản kiến trúc được tăng cường.
Quan điểm nhất quán của Đảng về giữ gìn, phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa… trong kỷ nguyên số, trong thời kỳ xây dựng hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, lấy văn hóa làm nền tảng, làm động lực để phát triển kinh tế, tạo sự hòa quyện văn hóa trong kinh tế và kinh tế trong văn hóa, tạo sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển.
Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc trong giao lưu quốc tế ngày càng được coi trọng và đóng vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế bền vững.
Vì vậy, việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là trọng trách, nhiệm vụ, là vinh dự của những công chức, viên chức làm công tác văn hóa, văn nghệ, là nhiệm vụ toàn Đảng, toàn dân ta cần thực hiện để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc trong quá trình hội nhập quốc tế.
3. Giải pháp gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa để phát triển kinh tế
Một là, đào tạo cán bộ trong vĩnh vực trùng tu, bảo tồn di tích về kiến thức khoa học, công nghệ một cách bài bản, chuyên sâu.
Hai là, tích cực triển khai ứng khoa học công nghệ để bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế, nhất là kinh tế du lịch, kinh tế xanh, kinh tế sạch, công nghiệp văn hóa.
Ba là, ứng dụng khoa học công nghệ trong việc tuyên truyền, quảng bá giá trị văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế.
Bốn là, Nhà nước có cơ chế hỗ trợ công tác bảo tồn phát huy giá trị di sản bằng công nghệ tiên tiến.
Năm là, tuyên truyền giáo dục toàn dân công tác gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc.
4. Kết luận
Trong bối cảnh hiện nay, việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong quá trình, công nghiệp hóa, hiện đại hóa để xây dựng đất nước phát triển nhanh, mạnh, vững chắc nhằm sánh vai với cường quốc năm châu là cấp thiết. Trong quá trình hội nhập quốc tế, việc học tập tiếp thu văn hóa, tinh hoa tri thức nhân loại là cần thiết nhưng vấn đề gìn giữ, bảo tồn bản sắc cũng không kém phần quan trọng, điều này khẳng định vị trí vai trò của văn hóa trong việc xác định uy thế Việt Nam trên trường quốc tế.
Để thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV sẽ được thông qua tới đây, chúng ta cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong bảo tồn, và phát huy giá trị văn hóa gắn với thúc đẩy sự phát triển của kinh tế di sản và ngành công nghiệp văn hóa.
____________________
Tài liệu tham khảo
1. Đề cương Văn hóa 1943, Văn kiện Đảng 1930-1945, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương xuất bản năm 1977.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1996.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.110.
4. Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, bản lấy ý kiến nhân dân.
5. Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980.
6. Kiến trúc du lịch biển Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo, Hội Kiến trúc sư Việt Nam, 2012.