Từ khóa: di sản Hán Nôm; phát huy giá trị di tích; truyền thông di sản; công nghiệp văn hóa; đền, chùa Hàm Long.
Abstract: Cửa Nam Ward (Hanoi City) is home to many valuable historical and cultural relics, possessing a rich and unique Hán Nôm (Sino Vietnamese) collection from the thousand-year-old capital city. Among them, Hàm Long Temple and Pagoda as a prime example is not only valuable for its architecture and religious significance but also for preserving a diverse system of Hán Nôm documents such as genealogies, royal decrees, stone steles, horizontal plaques, and couplets. However, in practice, these values have not been effectively utilised in public communication, education, and cultural tourism development. Given this situation, researching, exploring, and promoting the Hán Nôm documents at Hàm Long Temple and Pagoda has become a crucial task for Cửa Nam Ward in particular and Hanoi in general in the development of the cultural industry.
Keywords: Hán-Nôm heritage; heritage value promotion; heritage communication; cultural industry; Hàm Long temple and pagoda.
1. Đặt vấn đề
Ở nước ta, di sản Hán Nôm rất phong phú và có vai trò lưu giữ, truyền tải toàn bộ tri thức, văn hóa, lịch sử, tư tưởng, tín ngưỡng, nghệ thuật của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm; là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, thể hiện bản sắc văn hóa; là nguồn tư liệu quý giá cho nghiên cứu và phát triển đất nước, giúp thế hệ sau hiểu về cội nguồn và phát huy truyền thống dựng nước giữ nước, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Nhưng di sản Hán Nôm chỉ thật sự phát huy giá trị khi được tổ chức khai thác sử dụng để phục vụ các mặt hoạt động khác nhau của đời sống xã hội, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa (CNVH).
Thăng Long - Hà Nội là vùng đất lịch sử văn hiến, nơi hội tụ linh khí trời đất được nhiều triều đại lựa chọn làm kinh đô. Trải qua hơn một nghìn năm lịch sử với nhiều biến động, Hà Nội ngày nay được cộng đồng quốc tế vinh danh là “Thành phố vì hòa bình” (UNESCO, 1999). Danh hiệu đó không chỉ phản ánh vị thế hiện tại, mà còn là sự kế thừa, kết tinh và chắt lọc tinh hoa văn hóa dân tộc được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Những giá trị ấy được lưu giữ sinh động qua hệ thống di sản phong phú, bao gồm hàng vạn bản thần tích Hán Nôm và hàng nghìn di tích lịch sử, văn hóa (đình, đền, chùa...) do Nhà nước và nhân dân Thủ đô gìn giữ, tôn tạo và phát huy.
Đền, chùa Hàm Long (phường Cửa Nam) là một di tích tiêu biểu, hiện còn bảo lưu hệ thống di văn Hán Nôm phong phú như thần phả, sắc phong, bia ký, hoành phi, câu đối, thần tích… phản ánh sinh động lịch sử hình thành, phát triển cũng như đời sống tín ngưỡng của cư dân Thăng Long - Hà Nội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác bảo quản, nghiên cứu, khai thác và phát huy giá trị di sản Hán Nôm tại di tích này vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với giá trị vốn có; đồng thời, sự gắn kết giữa nguồn di sản này với các hoạt động giáo dục, du lịch và phát triển CNVH vẫn còn mờ nhạt.
Trước yêu cầu vừa bảo tồn, vừa phát huy giá trị di sản trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc xây dựng và triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm phát huy giá trị di sản Hán Nôm tại đền, chùa Hàm Long theo hướng kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển CNVH trở nên cấp thiết. Qua đó góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống, nâng cao nhận thức cộng đồng, từng bước đưa di sản Hán Nôm trở thành nguồn lực phục vụ phát triển du lịch và kinh tế sáng tạo của phường Cửa Nam nói riêng và Hà Nội nói chung.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết được triển khai trên cơ sở tiếp cận liên ngành, kết hợp giữa quản lý di sản văn hóa, sử học và văn hóa học, qua đó đặt di tích đền, chùa Hàm Long trong mối quan hệ giữa nguồn lực nội sinh và định hướng phát triển bền vững.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu nhằm hệ thống hóa các nguồn tư liệu chuyên ngành và các công trình nghiên cứu liên quan đến di tích đền, chùa Hàm Long. Đồng thời, phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) được vận dụng để khảo sát thực tiễn di tích, từ đó làm rõ giá trị và khả năng phát huy di sản trong bối cảnh hiện nay.
3. Kết quả và thảo luận
Di sản Hán Nôm và những giá trị đặc trưng của đền, chùa Hàm Long
Lược sử về đền, chùa Hàm Long và vị thần Ngô Long qua thần tích
Đền, chùa Hàm Long hiện tọa lạc tại khu vực số 18 phố Hàm Long (phường Cửa Nam); xưa thuộc thôn Hàm Châu (tổng Hậu Nghiêm), sau đổi là Hàm Khánh (tổng Thanh Nhàn, huyện Thọ Xương) của kinh thành Thăng Long. Di tích có nguồn gốc lâu đời, gắn với việc thờ thần Ngô Long - một nhân vật lịch sử được truyền tụng là có thật, sống vào thời Hùng Duệ Vương (Vua Hùng thứ 18).
Theo (Nguyễn Bính, 1572), Ngô Long sinh tại trang Thanh Quả, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, đạo Nam Sơn (nay thuộc xã Bình Minh, thành phố. Hà Nội). Năm lên 8 tuổi Ngô Long từng thể hiện hoài bão qua bài thơ tự bạch: Thiên địa sinh Ngô tác thế nhân/ Nam nhi nhĩ mục bất vi bần/ Nhất chiêu trung đắc phong vân hội/ Thảo mộc quần sinh thị ngã thần (Dịch nghĩa: Trời đất sinh ta sống kiếp người/ Chí trai ta chẳng kém thua ai/ Một mai gặp được phong vân hội/ Muôn giới quần sinh đều là bầy tôi) (Thần phả, 1572).
Năm 12 tuổi, cha mẹ qua đời, ông rời nhà đến xóm Hàm Long, phường Phục Cổ, khu Hữu Nghiêm, phủ Phụng Thiên (sau là thành Đại La), trú chân tại quán Long Đầu. Nửa đêm, ông lấy hòn than viết lên tường bài thơ: Kim nhật u nhi lai nhật minh/ Nhỡn tiền thùy thức hữu long linh/ Thời lai phấn chí nguyên vân thượng/ Chung giới quần sinh cộng hướng vinh (Dịch nghĩa: Nay tuy tối tăm nhưng mai sáng sủa/ Trước mắt ai biết chuyện rồng thiêng/ Bỗng một chiều gặp hội rồng mây/ Cây cỏ muôn loài ắt được tốt tươi) (Nguyễn Bính, 1572).
Cùng đêm đó dân làng Hàm Long đồng loạt mộng thấy thần linh báo mộng về sự xuất hiện của một vị Long thần giáng thế. Sáng hôm sau, khi đến quán Long Đầu, họ nhận thấy Ngô Long có tướng mạo khác thường, ứng nghiệm với điềm mộng, nên đã tôn kính và lưu giữ ông ở lại (Nguyễn Bính, 1572).
Năm 14 tuổi, dưới triều Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18), Ngô Long tham gia kỳ thi tuyển chọn nhân tài và đỗ đầu. Truyền thuyết cho biết trước đó nhà vua đã nằm mộng được tổ Lạc Long Quân báo về sự xuất hiện của “Long thần họ Ngô tên Long”. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ giữ chức Tham tán quân sự, rồi lần lượt thăng đến Đô đài giám sát, Chưởng ấn quốc vụ và Thái bảo Quốc chính (Nguyễn Bính, 1572).
Ngô Long được ghi nhận có công dẹp loạn giặc Hồ Lư tại Hoan Châu (Nghệ An ngày nay) và giặc Ai Lao. Khi chiến thắng trở về, ông dừng chân tại Hàm Long, được nhân dân đón tiếp tại cung Hội Khánh. Ông cho mở tiệc khao thưởng quân và dân, đồng thời ngâm bài thơ: Sinh làm Long tướng hóa Long thần/ Hương hỏa ngàn năm tại xã dân/ Cung Hội Khánh trào dâng thế nước/ Sánh cùng nhật nguyệt ngàn vạn xuân (Nguyễn Bính, 1572).
Đương khi yến tiệc, thơ phú thì thiên thượng biến đổi, đất trời tối đen, sấm chớp ầm ầm. Có tiếng sét nổ lớn, mọi người đều hoảng sợ. Khi định thần thì thấy ông đã hóa. Vua rất thương xót, truy phong làm “Thượng đẳng Phúc thần” và ban sắc cho dân làng Hàm Long lập đền thờ, cung Hội Khánh trở thành đền Hội Khánh (Nguyễn Bính, 1572).
Trải qua nhiều đời, đền luôn nghi ngút khói hương. Đến thời Lý, khi dời đô về Thăng Long, Vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) phát hiện đền thờ Ngô Long là bậc Phúc thần linh thiêng, gắn liền với truyền thống Con Rồng cháu Tiên. Vì đền nằm ở thế đất “rồng ngậm ngọc” (Hàm Châu Long), vua đã phong lại danh hiệu Long Thần cho Ngô Long và cho đổi tên đền thành chùa Hàm Long (HNM, 2005).
Thời Lê Trung hưng, chùa Hàm Long được trùng tu và trở thành “một danh thắng trong ba mươi sáu cõi thiền” - cách gọi ước lệ trong Phật giáo chỉ các chùa, thiền viện tiêu biểu (con số “36” mang ý nghĩa biểu trưng). Đặc biệt, vào niên hiệu Vĩnh Hựu nguyên niên triều vua Lê Ý Tông, Thái phi của vương cung sinh được hiền vương nhờ cầu đảo tại đền, chùa mà được như ý. Ngay lập tức bà đã công đức tu bổ đền, chùa để lo hương hỏa, triều đình lại ban phong cho Ngài là “…Bác hùng tài, thông minh chính trực, bảo quốc tế dân thượng đẳng Phúc thần”, xuân thu cúng tế theo nghi thức cấp quốc gia, cho phép giáp Hàm Châu (Hàm Long) phường Phục Cổ tiếp tục làm hộ nhi (giữ hương hỏa). Từ đó, các đời đế vương đều phong Thượng đẳng, chăm lo hương hỏa muôn đời để báo đức đền ơn (Nguyễn Bính, 1572).
Tổng cộng đã có 16 sắc phong của đế vương đương triều: Tiền Lê sắc phong “Mỹ tục khả phong”; Lê Đại Hành sắc phong “Khuông quốc phổ tể, thượng đẳng phúc thần”; Lê Thái Tổ (Hậu Lê) gia phong “Già Lam thiên chân tể”; Trang Tôn gia phong “Khuông quốc phổ tể, liên hoa, linh thông, diệu vận, thượng đẳng phúc thần”; Lê Vĩnh Khánh năm thứ 2 (ngày 10/11) sắc phong “Hàm Khánh đại vương”; Cảnh Hưng năm thứ 7 (ngày 28/6) sắc phong “Thượng Lâm Thiên Chân Tể”; Cảnh Hưng thứ 28 (ngày 8/8) sắc phong “Thượng đẳng Long Thần”; Cảnh Hưng thứ 44 (ngày 16/5) sắc phong “Thượng đẳng Long Thần”; Cảnh Hưng thứ 44 (ngày 26/7) sắc phong “Thượng đẳng Long Thần”; Lê Chiêu Thống năm nguyên niên (ngày 22/3) sắc phong “Thượng đẳng Long Thần”; Minh Mạng năm thứ 2 (ngày 2/7) sắc phong “Thân cảnh chính khí”; Thiệu Trị năm thứ 4 (ngày 12/7) sắc phong “Thân cảnh chính”; Thiệu Trị năm thứ 5 (ngày18/6) sắc phong “Thiện chí thần”; Tự Đức năm thứ 2 (ngày 26/11) sắc phong “Lý Thiện đơn ngưng”; Tự Đức năm thứ 3 (ngày 24/1) sắc phong “Thượng đẳng Long Thần”; Khải Định (1924, ngày 25/10) sắc phong “Linh thúy trung đẳng Thần” (Chùa Thanh Quả, 2017, tr.15).
Thực trạng của di sản Hán - Nôm tại đền, chùa Hàm Long
Trong quá trình trùng tu, hai vị đại thần là Nguyễn Quý Đức (1648-1720) đỗ Thám hoa năm 1676, từng giữ chức Thượng thư, Tham tụng và Đặng Đình Tướng (1649-1735) đỗ Tiến sĩ năm 1670, làm đến chức Thái phó, Tá lý công thần đã cho dựng hai tấm bia đá ghi lại công đức của Thái phi họ Trương, hoàn thành vào năm 1714.
Nội dung văn bia do Đặng Đình Tướng soạn ca ngợi Thái phi họ Trương - phu nhân của Tấn Quang vương Trịnh Bính: “sinh ra con Thần cháu Thánh nối dõi lên ngôi chúa”, ám chỉ chúa Trịnh Cương (trị vì từ năm 1709-1728). Bên cạnh đó, tư liệu Hán Nôm “Kim giám lục” (金鑑錄) - ghi chép về lịch sử và phả hệ các chúa Trịnh, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm - cũng xác nhận vai trò của Thái phi trong việc trùng tu chùa, mô tả quy mô tráng lệ của công trình sau khi được tu bổ.
Văn bia của Nguyễn Quý Đức soạn cho thấy quan điểm của tầng lớp Nho sĩ đối với Phật giáo, coi đây là đạo “quảng đại từ bi” (廣大慈悲) - một giá trị cốt lõi của tư tưởng Phật giáo Đại thừa. Đồng thời, văn bia ghi nhận việc Thái Phi cùng con là chúa Trịnh Cương đã hưng công trùng tu chùa, qua đó khẳng định vai trò bảo trợ của giới quyền quý đối với cơ sở Phật giáo. Đặc biệt, Thần phả do Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm 1572 cung cấp những thông tin quan trọng về hoạt động tín ngưỡng, vai trò và đóng góp của cộng đồng cư dân địa phương qua nhiều thời kỳ lịch sử.
Trải qua nhiều biến cố, thăng trầm của lịch sử, cùng sự đổi thay của thời gian, không gian thờ thần, thờ phật tại đền, chùa Hàm Long không còn giữ được diện mạo như xưa; hệ thống thần tích cũng bị mai một đáng kể. Tuy vậy, các đơn nguyên kiến trúc còn lại như miếu thờ Ngô Long, tượng Ngô Long, ngai thờ cổ, thần phả, sắc phong, văn tế; chùa chính - hệ thống tượng thờ, 2 tháp tổ, nhà tăng, giếng Ngọc, ban thờ Mẫu Thượng Thiên, 2 tấm bia đá cổ dựng năm 1714, kiến trúc Phủ Bảo Long - tượng thánh vị vẫn chứa đựng nhiều giá trị độc đáo, hiếm thấy trong các di tích Phật giáo, phản ánh lịch sử hình thành và phát triển của di tích, góp phần làm sáng tỏ nguồn gốc thần tích Long Thần và vai trò của Thần Ngô Long trong tín ngưỡng dân gian. Đồng thời trở thành nguồn tư liệu quý giá, có tiềm năng lớn trong nghiên cứu khoa học, giáo dục truyền thống và phát triển du lịch văn hóa.
Năm 2011, các tấm bia của chùa Hàm Long đã Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích cấp quốc gia thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2011); năm 2013, chùa được Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử - nghệ thuật (Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, 2013). Nhưng hệ thống tư liệu Hán Nôm ở đây chưa được phân loại, thống kê và nghiên cứu đầy đủ, khoa học, dẫn đến hiệu quả khai thác và phát huy giá trị còn hạn chế. Phần lớn di văn Hán Nôm vẫn chưa được dịch thuật và công bố một cách hệ thống. Cho đến nay, các công trình nghiên cứu chủ yếu dừng lại ở giới thiệu khái quát về lịch sử và hiện trạng di tích; những nghiên cứu chuyên sâu, các giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di tích còn thiếu vắng.
Việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di tích đền, chùa Hàm Long rất quan trọng, để những giá trị lịch sử, văn hóa của di tích tiếp tục được truyền lại cho mai sau, phát huy ý nghĩa xã hội sâu sắc, hướng đến mục tiêu “quốc thái, dân an”, “khí hòa đầm ấm, phúc lợi dồi dào/ tất cả chúng sinh đều vui sống trong đài xuân, cõi thọ” như nội dung trên Văn bia của di tích.
Một số đề xuất nhằm khai thác, phát huy giá trị nguồn di sản Hán Nôm tại đền, chùa Hàm Long
Trước hết, cần nâng cao nhận thức trong hệ thống quản lý văn hóa các cấp về vị trí, vai trò của di sản Hán Nôm trong cấu trúc di sản văn hóa đô thị và trong chiến lược phát triển CNVH. Di sản Hán Nôm tại đền, chùa Hàm Long cần được nhìn nhận như một bộ phận cấu thành có giá trị đặc thù, không thể tách rời khỏi tổng thể di tích. Trên cơ sở đó, cần rà soát, bổ sung các quy định, hướng dẫn quản lý di tích theo hướng lồng ghép nội dung bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hán Nôm trong quy hoạch, kế hoạch bảo tồn di tích và phát triển văn hóa ở cấp cơ sở. Việc hoàn thiện thể chế sẽ tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động nghiên cứu, khai thác và sáng tạo sản phẩm văn hóa từ di sản Hán Nôm.
Thứ hai, cần triển khai đồng bộ công tác kiểm kê, lập hồ sơ khoa học đối với toàn bộ hệ thống tư liệu Hán Nôm tại đền, chùa Hàm Long và trong Viện Hán Nôm, tại các đền, chùa có liên quan đến Long Thần như đình Đông Môn - chùa Cầu Đông, chùa Thanh Quả. Đồng thời, có biện pháp khôi phục lại hai văn bia cổ đang tồn tại ở khu vực ngoài khuôn viên chùa hiện tại và văn bia hình bát giác đã bị vỡ trong khu vực trường học cạnh chùa cùng hai giếng cổ gọi là mắt rồng. Hoạt động này phải gắn với đánh giá hiện trạng bảo quản, xác định mức độ ưu tiên bảo tồn và đề xuất phương án xử lý phù hợp đối với từng loại hình tư liệu.
Song song đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu chuyên sâu, bao gồm phiên âm, dịch nghĩa, chú giải và phân tích giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học của các di văn Hán Nôm. Kết quả nghiên cứu không chỉ phục vụ bảo tồn di sản mà còn hình thành nguồn tư liệu khoa học chuẩn hóa, làm cơ sở cho các hoạt động giáo dục, truyền thông và phát triển sản phẩm CNVH.
Thứ ba, trong bối cảnh chuyển đổi số, việc số hóa di sản Hán Nôm là giải pháp mang tính nền tảng. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu số về di sản Hán Nôm tại đền, chùa Hàm Long, bảo đảm tính khoa học, tính hệ thống và khả năng kết nối với các cơ sở dữ liệu di sản của thành phố và quốc gia. Trên nền tảng dữ liệu số, có thể phát triển các hình thức khai thác giá trị di sản phù hợp với CNVH như trưng bày số, sản phẩm truyền thông đa phương tiện, ứng dụng thuyết minh di tích thông minh. Qua đó, di sản Hán Nôm được chuyển hóa thành tài nguyên tri thức phục vụ sáng tạo và lan tỏa giá trị văn hóa trong xã hội đương đại.
Cần tăng cường đưa nội dung di sản Hán Nôm tại đền, chùa Hàm Long vào các hoạt động giáo dục di sản và truyền thông văn hóa ở địa phương. Việc này góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ về giá trị của di sản Hán Nôm trong đời sống văn hóa đô thị. Đồng thời, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý di tích, thuyết minh viên và cộng tác viên văn hóa có kiến thức cơ bản về Hán Nôm, lịch sử và văn hóa địa phương. Đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm tính chuyên nghiệp và bền vững trong công tác phát huy giá trị di sản.
Thứ tư, trên cơ sở bảo tồn, số hóa và nghiên cứu khoa học, cần từng bước khai thác giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật của di sản Hán Nôm về thần tích Ngô Long để phát triển các sản phẩm CNVH mang bản sắc riêng của đền, chùa Hàm Long, bao gồm ấn phẩm văn hóa, sản phẩm sáng tạo ứng dụng, hoạt động du lịch văn hóa và trải nghiệm di sản. Bên cạnh đó, cần tăng cường huy động các nguồn lực xã hội, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia, nghệ sĩ sáng tạo và doanh nghiệp văn hóa, nhằm tạo động lực lâu dài cho quá trình phát huy giá trị di sản Hán Nôm trong bối cảnh phát triển CNVH. Việc phát triển sản phẩm cần bảo đảm nguyên tắc tôn trọng giá trị gốc của di sản, tránh xu hướng thương mại hóa, tạo ra giá trị gia tăng về kinh tế và xã hội. Qua đó, di sản Hán Nôm được phát huy như một nguồn lực sáng tạo, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển CNVH của Thủ đô.
Cuối cùng, cần thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, cơ quan quản lý văn hóa, các viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng trong việc phát huy giá trị di sản Hán Nôm nói chung và của đền, chùa Hàm Long nói riêng. Sự phối hợp liên ngành sẽ giúp bảo đảm tính khoa học, tính đồng bộ và hiệu quả trong triển khai các giải pháp, trong đó:
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn về bảo tồn và phát huy giá trị di sản Hán Nôm trong các di tích lịch sử - văn hóa, bảo đảm sự thống nhất giữa bảo tồn di sản và phát triển CNVH theo các chiến lược, chương trình đã được phê duyệt. Quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học chuyên sâu về di sản Hán Nôm tại các di tích đô thị lịch sử, tăng cường đầu tư và hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ liệu số về di sản Hán Nôm, thúc đẩy liên thông, kết nối giữa các cơ sở dữ liệu di sản ở trung ương và địa phương, tạo nền tảng cho việc khai thác, sử dụng di sản Hán Nôm trong giáo dục, nghiên cứu và sáng tạo văn hóa, trong đó có mô hình nghiên cứu trường hợp đền, chùa Hàm Long nhằm làm rõ giá trị và đề xuất các mô hình phát huy phù hợp với bối cảnh phát triển CNVH.
Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương, định hướng phát triển CNVH của Thủ đô gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, trong đó chú trọng di sản Hán Nôm tại các di tích lịch sử - văn hóa khu vực nội đô. Từ đó, quan tâm bố trí nguồn lực để thực hiện công tác kiểm kê, bảo tồn, số hóa và nghiên cứu di sản Hán Nôm tại đền, chùa Hàm Long; chỉ đạo các sở, ngành liên quan tăng cường phối hợp trong việc xây dựng và triển khai các mô hình khai thác di sản Hán Nôm phục vụ giáo dục di sản, du lịch văn hóa và phát triển sản phẩm CNVH, bảo đảm tính đồng bộ và hiệu quả; tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp văn hóa tham gia vào quá trình sáng tạo và lan tỏa giá trị di sản, coi đây là một bộ phận quan trọng trong tổng thể nhiệm vụ bảo tồn di sản văn hóa của phường Cửa Nam và khu vực trung tâm lịch sử của Thủ đô.
Ủy ban nhân dân phường Cửa Nam tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với các di tích văn hóa, phối hợp chặt chẽ với các ban quản lý di tích của Trung ương và thành phố trong việc kiểm kê, lập hồ sơ, tổ chức nghiên cứu và giới thiệu giá trị di sản Hán Nôm tại di tích đền, chùa Hàm Long; đặc biệt là trong công tác bảo vệ, bảo quản và phát huy giá trị di sản Hán Nôm gắn với xây dựng và thí điểm các mô hình trong giáo dục cộng đồng và du lịch văn hóa; quan tâm công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư địa phương về giá trị di sản Hán Nôm, phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng trong bảo tồn và khai thác di sản một cách bền vững, coi đây là mô hình tham khảo để nhân rộng đối với các di tích khác trên địa bàn phường.
4. Kết luận
Việc phát huy giá trị di sản tư liệu Hán Nôm tại đền, chùa Hàm Long cần được đặt trên nền tảng nhận thức coi di sản văn hóa là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững, đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa yêu cầu bảo tồn các giá trị truyền thống và đổi mới, sáng tạo trong phát triển CNVH. Các giải pháp đề xuất phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản: bảo tồn nguyên gốc gắn với phát huy giá trị; lấy giá trị khoa học của di sản Hán Nôm làm nền tảng; kết hợp hiệu quả giữa vai trò quản lý nhà nước, sự tham gia của cộng đồng và các chủ thể sáng tạo; đồng thời bảo đảm tính khả thi, tính bền vững và khả năng nhân rộng trong điều kiện đô thị đặc thù của Hà Nội.
____________________________
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2011). Quyết định số 317/QĐ-BVHTTDL.
2. Bùi Huy Tín. (2015). Di sản Hán Nôm Việt Nam: Giá trị và vấn đề bảo tồn. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
3. Chùa Thanh Quả. (2017). Thánh tích Ngô Long và lịch sử chùa Thanh Quả.
4. Đặng Đình Tướng và Nguyễn Quý Đức. (1714). Hàm Long tự bi ký (Văn bia chùa Hàm Long).
5. HNM. (2005, 11 tháng 8). Chùa Hàm Long: Nơi ẩn chứa những giá trị lịch sử. Báo Hà Nội Mới. https://hanoimoi.vn/chua-ham-long-noi-an-chua-nhung-gia-tri-lich-su-67753.html
6. Nguyễn Bính. (1572). Thần phả Hàm Long. Tư liệu Hán Nôm (bản chép tay), lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
7. Nguyễn Vinh Phúc và Nguyễn Duy Hinh. (2009). Các thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long - Hà Nội. Nhà xuất bản Lao Động.
8. Quốc hội. (2024). Luật Di sản văn hóa. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
9. Trần Quốc Vượng. (2019). Di sản tư liệu và vấn đề bảo tồn trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tạp chí Di sản Văn hóa.
10. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội. (2013). Quyết định số 972/QĐ-UBND.
11. Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Cao học Thực hành, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp. (2005). Tuyển tập thác bản văn khắc Hán Nôm. (Tập 1).
Ngày Tòa soạn nhận bài: 1/4/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/4/2026; Ngày duyệt đăng: 28/4/2026.
TRẦN THỊ XUÂN NGUYÊN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 642, tháng 5-2026