Từ khóa: trang sức; sơn mài; thiết kế; chất liệu; kỹ thuật.

Abstract: Lacquer jewelry is a relatively new form of jewelry that emerged in Vietnam in the early 21stcentury and has continued to evolve, growing in both quantity and quality. In its early stages, lacquer jewelry items were primarily souvenir-style gifts-compact and portable-designed to offer tourists more options to own a piece of lacquer art without the size constraints of traditional lacquer paintings or handicrafts. Over time, however, lacquer jewelry has become increasingly diverse in design and aesthetic appeal. It has successfully adapted to the domestic market-particularly among the Vietnamese youth-while expanding its presence globally as a sought-after fashion accessory. Today, lacquer jewelry embodies the quintessence of Vietnamese materials and techniques, seamlessly blended with the modern design sensibilities of contemporary jewelry.

Keywords: jewelry; lacquer; design; material; technique.

Untitledlp.jpg
Trang sức sơn mài - Ảnh: Tác giả cung cấp

1. Đặt vấn đề

Trang sức vốn là những sản phẩm quen thuộc xuất hiện từ thời tiền sử và đồng hành cùng con người suốt chiều dài lịch sử với những thăng trầm của đời sống. Trong khi đó, sơn mài ra đời từ thế kỷ XX là sáng tạo của các nghệ nhân, các danh họa Việt Nam từ Trường Mỹ thuật Đông Dương với những bức tranh nổi tiếng. Sự kết hợp của trang sức và sơn mài lần đầu tiên được thực hiện vào những năm đầu của thế kỷ XXI, là sự kết hợp đặc biệt giữa sản phẩm nhỏ gọn, trang trí và tôn lên vẻ đẹp của cơ thể người với vẻ đẹp trầm ấm của những bức tranh, những tấm bình phong, những sản phẩm mỹ nghệ phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong đời sống thường ngày. Tưởng chừng như đó là một sự kết hợp khó dung hòa, tuy vậy, trang sức sơn mài từ khi xuất hiện đã nhận được sự yêu thích của người tiêu dùng, đặc biệt là giới trẻ trong nước và du khách quốc tế. Tuy nhiên, với sơn mài có rất nhiều nghiên cứu của các họa sĩ và các nhà nghiên cứu mỹ thuật; trong khi đó, trang sức sơn mài có rất ít nghiên cứu kỹ lưỡng dù có tiềm năng phát triển lớn. Bởi vậy, việc nghiên cứu về tính nghệ thuật dựa trên các sản phẩm trang sức sơn mài đã được chế tác, kết hợp với tư duy thiết kế trang sức hiện đại nhằm đưa ra các định hướng thiết kế cho sản phẩm trang sức sơn mài phù hợp hơn với nhu cầu thị trường, từ đó, góp phần vào sự phát triển của cả sơn mài và trang sức Việt Nam giai đoạn hiện nay.

2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điền dã: khảo sát, tham quan cơ sở tại làng nghề Hạ Thái, cửa hàng quà tặng mỹ nghệ phố Hàng Trống và Lý Quốc Sư để đánh giá nhu cầu khách du lịch và khách nội địa.

Phương pháp thống kê - so sánh: thống kê và so sánh các thể loại, kiểu dáng, kỹ thuật chế tác sản phẩm trang sức sơn mài của làng nghề, của ngành Trang sức, Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu thu thập tư liệu: thu thập thông tin từ điền dã và các nguồn tài liệu trên sách báo, trên mạng.

Phương pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp: tổng hợp đặc điểm sản phẩm, kỹ thuật, chất liệu từ các sản phẩm trang sức sơn mài hiện có cũng như nhu cầu của thị trường; phân tích đánh giá tiềm năng phát triển của sản phẩm và đưa ra định hướng phát triển sản phẩm.

3. Kết quả và thảo luận

Đặc trưng của các sản phẩm trang sức sơn mài Việt Nam

Về thể loại và kiểu dáng sản phẩm

Các sản phẩm trang sức sơn mài sản xuất tại làng nghề sơn mài Hạ Thái hầu hết được trưng bày và bán tại các cửa hàng đồ lưu niệm trên các phố cổ quanh hồ Hoàn Kiếm, chủ yếu hướng tới khách du lịch. Các sản phẩm của làng nghề thuộc thể loại trang sức đơn chiếc, sử dụng trong các hoạt động thường ngày với các mặt dây chuyền, vòng tay bản lớn, khuyên tai.

Trong khi đó, tại ngành Trang sức, Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp, ngoài các sản phẩm trang sức sơn mài đơn chiếc, còn có các bộ sản phẩm trong đó gồm sản phẩm chính thường là vòng cổ, mặt dây chuyền và các sản phẩm phụ như nhẫn, lắc tay, khuyên tai, đai bụng, ghim cài áo... Các sản phẩm mặc dù vẫn thuộc thể loại thường nhật, với mục đích chính sử dụng trong cuộc sống thường ngày nhưng không còn giới hạn ở dạng nhỏ nhắn, xinh xắn mà còn có những sản phẩm trang sức sơn mài ở dạng bản lớn, phục vụ cho việc phô bày phong cách, cá tính người sử dụng.

Đối tượng sử dụng của trang sức sơn mài hướng tới mọi độ tuổi, giới tính. Tuy nhiên, sản phẩm tiêu thụ tốt nhất thường là các sản phẩm dành cho nữ giới trẻ trung, hiện đại hoặc các bạn trẻ ưa thích phong cách boho - phong cách du mục châu Âu.

Về ý tưởng

 Trang sức sơn mài Việt Nam lấy ý tưởng chủ đạo từ hình học do đặc điểm dễ chế tác và sản xuất hàng loạt. Trong đó, các sản phẩm trang sức sơn mài từ hình tròn có số lượng lớn nhất. Sau đó, các sản phẩm hình vuông, hình thoi, hình chữ nhật, hình bán nguyệt chiếm số lượng ít hơn. Các sản phẩm từ hình tam giác và các hình học còn lại có số lượng ít nhất.

Ngoài ra, ý tưởng từ thiên nhiên - con người Việt Nam cũng được người chế tác và du khách ưa chuộng. Hình ảnh sen, con trâu, mục đồng, người con gái Việt trong tà áo dài thường được khai thác trên sản phẩm trang sức sơn mài.

Ý tưởng từ đồ vật - kiến trúc cũng là một nguồn ý tưởng tuy chưa nhiều nhưng cũng đã được thực hiện. Đặc điểm chế tác phức tạp của sản phẩm thuộc dòng ý tưởng này là nguyên nhân chính gây ra việc số lượng sản phẩm trang sức sơn mài mang ý tưởng từ đồ vật - kiến trúc ít xuất hiện trên thị trường. Thường dòng sản phẩm này được sinh viên ngành Trang sức chế tác độc bản.

Về chất liệu và kỹ thuật thể hiện

Cốt nền sản phẩm: sử dụng chất liệu vỏ dừa, sừng trâu vốn là các chất liệu có giá thành rẻ, số lượng phong phú được sử dụng làm cốt nền để tô vẽ những đường nét - mảng màu sơn mài, dát vàng, dát bạc, gắn trứng tạo hiệu ứng bề mặt. Điểm đặc biệt của cốt nền sử dụng trong trang sức sơn mài còn bởi khả năng tạo hình phong phú, dễ dàng cưa cắt, đục thủng và trọng lượng nhẹ. Tất cả những ưu điểm đó góp phần cho việc phổ biến trang sức sơn mài tới mọi đối tượng người sử dụng. Vỏ dừa khô, sừng trâu sau khi được làm sạch, sẽ tiến hành công đoạn cưa cắt tạo hình. Tạo hình cốt nền được ưa chuộng nhất là các dạng hình học cơ bản như hình tròn, hình chữ nhật, hình bán nguyệt, hình thoi... dạng bản lớn nhằm thuận tiện cho việc đưa chất liệu sơn mài trên bề mặt sản phẩm. Sau khi kết thúc phần tạo hình cốt nền, người chế tác sẽ khoan sẵn các lỗ để treo móc dây theo vị trí đã được thiết kế trên bề mặt sản phẩm trang sức sơn mài.

Hình thức trang trí sản phẩm trang sức sơn mài được thực hiện dựa trên hai cách thức: trang trí cốt nền và trang trí chi tiết trên bề mặt sản phẩm. Với cách thức trang trí tập trung vào cốt nền, cốt nền vỏ dừa và sừng sẽ được tạo hình phá cách theo ý tưởng thiết kế thay vì tập trung vào tạo dáng hình học. Các hình thức tạo hình dựa trên ý tưởng thiên nhiên, đồ vật, kiến trúc... được cách điệu giản lược. Ngoài việc khoan, đục, giũa tạo hình cốt nền phía ngoài viền sản phẩm cũng như bề mặt trong khung viền bằng máy khoan, máy cắt, giũa phá, người chế tác còn có thể thực hiện bằng máy cắt CNC góp phần tăng sản lượng, giảm thời gian và công sức lao động. Mặc dù có sự hỗ trợ của máy móc, việc tạo hình cốt nền dạng phá cách vẫn sẽ mất nhiều thời gian hơn so với việc tạo hình cốt nền dạng hình học. Với hình thức trang trí trên bề mặt sản phẩm, các họa tiết trang trí được tạo nên đa phần từ kỹ thuật sơn mài với các nét vẽ - mảng màu, mảng chất liệu.

Cách thức thực hiện kỹ thuật sơn mài trên bề mặt sản phẩm trang sức sơn mài cũng giống như cách thức thực hiện trên bề mặt tranh, bình phong, đồ mỹ nghệ dù kích thước nhỏ hơn rất nhiều. Sơn sử dụng trong trang sức sơn mài có thể dùng sơn ta hoặc sơn Nhật, nhưng không kết hợp hai loại với nhau sẽ khiến sản phẩm luôn trong tình trạng không khô, gây dính tay trong quá trình chế tác và sử dụng. Bước đầu tiên, người chế tác sẽ quét một lớp sơn lót trên một phần hoặc toàn bộ bề mặt cốt nền, tùy theo thiết kế ban đầu và để khô. Với cốt nền là vỏ dừa, lớp sơn lót cần được chú trọng hơn với mục đích che lớp màu đặc trưng của vỏ dừa khô. Sau đó, dựa trên bản vẽ hoặc ý tưởng thiết kế của người thực hiện, các lớp màu vẽ và vỏ trứng sẽ được sử dụng để gắn trên bề mặt sản phẩm. Màu vẽ được trộn cùng sơn cánh gián, tô từng màu theo bản vẽ thiết kế rồi để khô, tiếp tục tô đè thêm lớp sơn cánh gián trên toàn bộ bề mặt sản phẩm. Sản phẩm sau khi chạm vào không còn để lại vết tay sẽ được mài bằng giấy ráp 1.000 với nước để lộ các lớp màu phía dưới. Với các sản phẩm sử dụng chất liệu vỏ trứng, sau khi đục thấp đoạn cốt nền cần gắn trứng, lớp sơn cánh gián sẽ được phủ trước trên khoảng bề mặt cần gắn. Sau đó, vỏ trứng được gắn từng miếng lên bề mặt đã được phủ sơn và dùng đầu búa nhỏ gõ tạo mảng vỡ to hoặc nhỏ theo ý đồ thiết kế ban đầu. Vỏ trứng có thể sử dụng vỏ trứng gà với màu trắng ngà, vỏ trứng vịt màu trắng xanh, vỏ trứng nướng chuyển màu từ nâu sẫm tới vàng đất tạo ra chuyển sắc độ màu của vỏ trứng. Do độ cao của vỏ trứng so với bề mặt sản phẩm có sự chênh lệch lớn, nên người chế tác cần kẹt màu và tô dày sơn cánh gián sao cho bằng bề mặt sản phẩm. Khi lớp sơn khô, sản phẩm tiếp tục được đưa vào mài với giấy ráp 800, 1.000 để lộ ra lớp vỏ trứng. Tương tự như tranh hay đồ thủ công mỹ nghệ, quy trình chế tác trang sức sơn mài tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật truyền thống: vẽ, phủ sơn và mài nhiều lớp cho đến khi đạt được độ sâu và độ bóng mong muốn. Tuy nhiên, do bề mặt sản phẩm trang sức sơn mài nhỏ hơn, trong khi đó các công đoạn thực hiện kỹ thuật sơn mài trên sản phẩm không thay đổi, nên chế tác sản phẩm trang sức sơn mài thủ công cần nhiều công sức để thực hiện. Ngoài trang trí bằng màu và vỏ trứng, sản phẩm trang sức sơn mài còn trang trí được bằng quỳ vàng và quỳ bạc. Lớp sơn cánh gián được quét trên bề mặt sản phẩm làm chất kết dính giữa cốt nền và quỳ vàng, quỳ bạc và chờ se bề mặt. Miếng quỳ vàng, quỳ bạc sẽ được đặt trên lớp cánh gián và dùng bút lông quét đi phần thừa. Bên cạnh việc thếp nguyên miếng vàng, bạc trên bề mặt sản phẩm, quỳ vàng và đa phần là quỳ bạc còn được sử dụng dạng mảnh vụn hoặc dạng bột nghiền mịn. Các miếng quỳ vàng hoặc quỳ bạc sau khi được nghiền mịn bằng bút lông trên sàng mắt nhỏ, bột được hứng phía dưới mắt sàng và rắc trên mảng bề mặt cốt nền đã được tô sơn cánh gián. Hiệu ứng bột vàng, bột bạc tạo ra hiệu quả xốp trên bề mặt sản phẩm khác biệt với độ căng nét của quỳ vàng, quỳ bạc khi thếp nguyên mảng hay đi nét. Kết thúc của quá trình chế tác sản phẩm trang sức sơn mài, người thực hiện có thể sử dụng sơn cánh gián xoa đều trên bề mặt sản phẩm để thêm hiệu quả về độ bóng của sản phẩm. Cùng với thời gian, màu sắc trên sản phẩm trang sức sẽ ngày càng có độ sâu, độ bóng, tăng thêm vẻ đẹp của sản phẩm.

Với sản phẩm trang sức sơn mài sau khi hoàn thiện về kỹ thuật được xâu dây qua lỗ đeo khoan từ khi tạo hình cốt nền. Sản phẩm hoàn thiện có thể ở dạng một mặt dây, mặt lắc tay kết hợp cùng dây đeo hoặc nhiều hình kết nối thành một hệ thống mặt dây, mặt lắc tay móc nối cùng một hoặc nhiều dây đeo nhằm tạo ra sự phong phú cho sản phẩm. Dây đeo thường là dây da hoặc nhiều dây tết màu nhằm phù hợp với độ lớn của mặt sản phẩm. Với vòng tay, nhất là vòng tay chất liệu sừng thường được chế tác nguyên miếng, cắt khoảng trống phía sau và mài tròn các cạnh để dễ dàng đeo trên tay. Khuyên tai và các sản phẩm nhỏ như nhẫn, ghim cài cũng thường ở dạng mặt sản phẩm kết nối với hệ thống chốt móc, móc khuyên, thân nhẫn. Với các sản phẩm hướng tới phong cách du mục boho, sản phẩm trang sức sơn mài được sử dụng thêm các chất liệu như hạt nhựa, hạt gỗ các màu sắc. Ngoài ra, sản phẩm trang sức sơn mài còn được kết hợp với chất liệu bạc, đá màu nhằm làm tăng thêm sự đối lập về màu sắc và độ bền của sản phẩm. Lúc này, cốt nền từ vỏ dừa và sừng trâu sau khi được hoàn thiện bề mặt sơn mài, sẽ được bọc viền kim loại bạc bên ngoài, có thể đưa một số lượng nhỏ nét kim loại trên bề mặt sản phẩm tùy theo ý tưởng thiết kế. Việc sử dụng đá màu gắn trên kim loại bạc thường là đá trắng; với các viên đá có màu sẽ phụ thuộc vào tông màu sơn mài trên bề mặt sản phẩm để lựa chọn viên đá tạo điểm màu phụ trợ phù hợp.

Đánh giá về trang sức sơn mài Việt Nam

Để đánh giá sản phẩm trang sức sơn mài Việt Nam sẽ được nhìn nhận trên cả ưu và nhược điểm của sản phẩm. Về ưu điểm, sản phẩm kế thừa cả kỹ thuật và chất liệu sơn mài cùng kiểu dáng, kỹ thuật chế tác của trang sức. Sản phẩm có giá thành không quá cao, phù hợp đại đa số nhóm khách hàng hướng tới. Đặc tính bền, nhẹ, nhỏ gọn, dễ sử dụng của sản phẩm trang sức sơn mài cũng góp phần khiến sản phẩm được ưa thích. Tính thủ công khi chế tác sản phẩm khiến các sản phẩm có sự khác biệt, không rập khuôn cứng nhắc tạo nên tính cá nhân hóa cho sản phẩm.

Về nhược điểm, sản phẩm trang sức sơn mài trong quá trình thực hiện cốt nền và hoàn thiện có thể sử dụng máy móc công nghệ hỗ trợ sản xuất hàng loạt. Tuy nhiên, quá trình chế tác sơn mài lại đòi hỏi tính thủ công, hầu như khó có thể can thiệp máy móc cũng là nhược điểm của dòng sản phẩm trang sức này, khiến số lượng sản phẩm ít hơn số lượng kỳ vọng cung cấp cho thị trường. Đối tượng khách hàng chưa đa dạng, thường tập trung ở một nhóm khách hàng nhất định đòi hỏi những định hướng về thiết kế để mở rộng tệp khách hàng đa dạng hơn.

Định hướng phát triển trang sức sơn mài Việt Nam

Về thiết kế: tăng cường nghiên cứu thiết kế sản phẩm trang sức sơn mài phục vụ cho đa dạng đối tượng giới tính, lứa tuổi, mở rộng sang các thể loại trang sức phù hợp như dạ hội, trình diễn, trang sức đa chức năng. Với mỗi thể loại, người thiết kế trang sức sơn mài cần đáp ứng được đặc trưng từng thể loại, nhưng vẫn giữ vai trò tạo điểm nhấn chính của sản phẩm. Đồng thời, tăng cường các nghiên cứu thiết kế gắn liền với bản sắc dân tộc, tạo điểm khác biệt về hình ảnh văn hóa với các sản phẩm trang sức và sơn mài khác cũng như các nước khác. Mỗi sản phẩm, bộ sưu tập có thể được khai thác truyền tải câu chuyện về văn hóa, đời sống con người Việt Nam, vừa phù hợp với xu hướng thị trường hiện nay hướng tới những câu chuyện ẩn sau tác phẩm. Ngoài hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam, người thiết kế còn có thể khai thác hình ảnh hoa văn vốn cổ dân tộc, kiến trúc cổ đặc trưng của đất nước... kết hợp một cách mới mẻ, hiện đại, phù hợp với nhu cầu thị trường trang sức hiện nay.

Về chế tác: kết hợp đa dạng thêm về chất liệu. Các chất liệu nhựa, đồng... với đặc tính nhẹ, bền, giá thành thấp cũng có thể sử dụng trong sản phẩm trang sức sơn mài. Bên cạnh đó, việc đưa máy móc, công nghệ hiện đại như vẽ 3D trang sức để in sáp và đúc phần kim loại bao quanh cốt nền sơn mài cũng góp phần giảm thời gian chế tác và tăng thêm về số lượng sản phẩm.

Về quảng bá: việc đan xen quảng bá hình ảnh sản phẩm trang sức sơn mài bên cạnh các sản phẩm tranh, mỹ nghệ sơn mài tại các hội chợ thủ công mỹ nghệ trong nước và quốc tế, các buổi trưng bày sản phẩm trong lễ hội như Hà Nội thiết kế sáng tạo, các gian hàng tại sân bay... cũng tạo cơ hội cho khách hàng biết tới nhiều hơn về dòng sản phẩm trang sức độc đáo này.

Về kết hợp du lịch với phát triển sản phẩm làng nghề: ngoài việc đưa du khách tới tham quan quy trình sáng tác tại làng nghề sơn mài Hạ Thái, có thể kết hợp với nghệ nhân chế tác tại các tuyến phố có đông khách du lịch như khu vực phố cổ. Ngoài ra, du khách trong và ngoài nước hiện nay ưa thích việc trải nghiệm chế tác sản phẩm. Do đó, việc kết hợp cùng nghệ nhân hướng dẫn du khách chế tác sản phẩm trang sức sơn mài trong các buổi workshop ngắn tại cửa hàng và làng nghề cũng là một cách thức quảng bá và thu hút khách hàng.

4. Kết luận

Sản phẩm trang sức sơn mài là sự kết hợp vẻ đẹp của hai lĩnh vực và kỹ thuật khác biệt cũng như có phần đối lập nhau, giữa trang sức nhỏ gọn và sơn mài thường ở dạng mảng lớn. Do đặc tính đa chất liệu của trang sức, sự kết hợp của trang sức và sơn mài đã tạo ra một dòng sản phẩm đặc trưng, mang vẻ đẹp của cả kỹ thuật sơn mài Việt Nam và kỹ thuật kim hoàn truyền thống cùng tư duy thiết kế trang sức hiện đại. Những sản phẩm trang sức sơn mài mang bản sắc văn hóa, kỹ thuật chế tác của người Việt, cho người Việt đã và đang ngày càng thu hút khách hàng trong và ngoài nước. Tính nghệ thuật của trang sức sơn mài là sự giao thoa hài hòa giữa ngôn ngữ tạo hình hiện đại và giá trị thẩm mỹ của chất liệu truyền thống. Không chỉ dừng lại ở công năng ứng dụng hay giá trị kinh tế, mỗi thiết kế còn là một tác phẩm, chuyển tải trọn vẹn cảm xúc, mang thông điệp về đời sống và bản sắc văn hóa Việt, trở thành cầu nối nhân văn giữa quá khứ và hiện tại.

_______________________

Tài liệu tham khảo

1. Phạm Đức Cường. (2001). Kỹ thuật sơn mài. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.

2. Trần Thị Thu Hồng. (2011). Ứng dụng chất liệu sơn mài Việt Nam vào đồ trang sức. Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp.

3. Nguyễn Đức Dương. (2015). Chất liệu gắn trong sơn mài trang trí. Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 25/2/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 3/3/2026; Ngày duyệt bài: 15/3/2026.

Ths NGUYỄN HƯƠNG LY - Ths NGUYỄN ĐỨC DƯƠNG

Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026