MUA XUAN AN BANH CU GUNG.(8)_result.jpg

Mỗi độ Xuân về, khi dòng Thu Bồn xanh trong hơn sau mùa mưa, Lăng Bà Thu Bồn lại rộn ràng bước vào những ngày lễ hội lớn nhất trong năm. Lễ hội Bà Thu Bồn – tổ chức vào ngày 11 và 12 tháng Hai âm lịch – không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng lâu đời của cư dân vùng hạ lưu sông Thu mà còn là không gian văn hóa đặc sắc, nơi hội tụ những lớp trầm tích văn hóa Chăm – Việt còn sống động đến hôm nay.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Lăng Bà Thu Bồn tọa lạc tại xã Duy Xuyên, TP Đà Nẵng. Thế nhưng, trong ký ức người dân và du khách, vùng đất này vẫn giữ nguyên hơi thở cổ xưa, nơi tín ngưỡng, ẩm thực và đời sống cộng đồng hòa quyện vào nhau, đặc biệt rõ nét mỗi mùa xuân lễ hội.

Giữa không gian lễ hội rực rỡ sắc màu cờ hoa, hương khói trầm mặc và tiếng trống chiêng vang vọng, có một thứ âm thầm nhưng không thể thiếu: bánh củ gừng. Không ồn ào, không phô trương, chiếc bánh nhỏ bé ấy lại giữ vị trí đặc biệt trong mâm lễ dâng Bà – vị “Mẹ xứ sở” được người dân tôn kính bao đời.

Trong những ngày lễ hội, các chi hội phụ nữ từ các thôn trong xã Duy Xuyên cùng nhau về khu vực trung tâm lễ hội. Họ không chỉ mang bánh đến dâng cúng mà còn trực tiếp trình diễn cách làm bánh ngay tại chỗ. Bên cạnh những phụ nữ trẻ là các bà, các mẹ lớn tuổi – những “cuốn sách sống” gìn giữ bí quyết nghề bánh truyền đời.

Tên gọi bánh “củ gừng” bắt nguồn từ chính hình dáng của bánh. Mỗi chiếc được nặn uốn sao cho giống một củ gừng nhỏ, có nhánh, có rễ, gồ ghề nhưng chắc khỏe. Hình dáng ấy không chỉ tạo nên sự khác biệt  mà còn hàm chứa quan niệm về sự sinh sôi, bền bỉ và no đủ.

Theo các bậc cao niên làng Thu Bồn, bánh củ gừng là lễ vật không thể thiếu trong mâm cúng Bà Thu Bồn. “Thiếu bánh củ gừng coi như mâm lễ chưa trọn vẹn”, là một lời khẳng định cho vai trò đặc biệt của loại bánh này trong đời sống tín ngưỡng địa phương.

Tìm hiểu sâu hơn, mới biết bánh củ gừng không chỉ xuất hiện ở Thu Bồn. Đây là loại bánh có nguồn gốc từ văn hóa Chăm, phổ biến trong các lễ cúng tổ tiên ở Ninh Thuận và một số tỉnh miền Tây Nam Bộ. Qua quá trình giao lưu, cộng cư lâu dài, người Việt đã tiếp nhận, gìn giữ và làm phong phú thêm loại bánh này trong đời sống văn hóa của mình.

Nguyên liệu làm bánh củ gừng khá giản dị: bột gạo nếp, đường, trứng gà, men rượu. Nhưng để có mẻ bánh đạt yêu cầu, người làm phải rất tỉ mỉ. Bột được giã nhuyễn, nhào đều, nặn hình rồi chiên ngập dầu cho đến khi bánh chín vàng. Sau đó, bánh được nhúng nhanh qua nước đường, phơi gió khoảng 10–15 phút để đạt độ giòn mềm vừa phải, trắng bóng, không vênh, không nứt.

Bà Nguyễn Thị Cường, 74 tuổi, một trong những người gắn bó lâu năm với nghề làm bánh củ gừng ở Thu Bồn, cho biết: “Bánh nhìn đơn giản vậy nhưng khó nhất là giữ được hình dáng và độ giòn. Lửa phải đều, tay phải quen bánh mới đẹp”. Với bà, mỗi mùa lễ hội là một lần được sống lại ký ức, được trao truyền nghề cho con cháu.

Không chỉ là món ăn, bánh củ gừng còn là “phẩm vật” mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc trong văn hóa Chăm. Trong lễ tết Katê, bánh tét tượng trưng cho nam, bánh gang tay tượng trưng cho nữ, còn bánh củ gừng là sự hòa quyện âm – dương, biểu trưng cho sự gắn bó, thủy chung trong tình yêu và hôn nhân.

Có lẽ chính sự giao thoa bền bỉ giữa các nền văn hóa trên vùng đất gần Thánh địa Mỹ Sơn đã tạo nên chiều sâu cho lễ hội Bà Thu Bồn. Để rồi, mỗi độ Xuân về, người ta lại tìm đến nơi đây không chỉ để chiêm bái  mà còn để lắng nghe câu chuyện của đất, của người, của những chiếc bánh nhỏ bé mà chứa đựng cả một nền văn hóa.

Những ngày cuối Xuân, ngồi bên bến sông Thu, nhấp ngụm trà ấm, thưởng thức chiếc bánh củ gừng giòn rụm, thơm nhẹ mùi nếp, người ta chợt hiểu vì sao lễ hội này lại có sức níu chân đến vậy. Một hương vị rất riêng của xứ Quảng – mộc mạc và sâu lắng.

Bài và ảnh: TIÊN SA

Nguồn: Tạp chí VHNT số 634, tháng 2-2026