Chiến dịch triệt phá các website phát tán nội dung lậu tại Việt Nam đã đạt được thành công bước đầu, tuy nhiên vẫn cần những bước đi mạnh mẽ hơn để khống chế nạn vi phạm bản quyền - Ảnh: Dân trí
Chiến dịch triệt phá các website phát tán nội dung lậu tại Việt Nam đã đạt được thành công bước đầu, tuy nhiên vẫn cần những bước đi mạnh mẽ hơn để khống chế nạn vi phạm bản quyền - Ảnh: Dân trí

Liên minh Châu Âu (EU) và cơ chế quy trách nhiệm cho các nền tảng trung gian

Mô hình bảo hộ quyền tác giả của Liên minh Châu Âu (EU) dựa trên nền tảng của luật quyền tác giả truyền thống, trong đó đề cao việc bảo vệ quyền nhân thân và quyền lợi kinh tế của người sáng tạo trước sự áp đảo của các tập đoàn công nghệ phân phối nội dung. Điểm đột phá trong chính sách bản quyền kỹ thuật số của EU được thể hiện tập trung qua Chỉ thị về Bản quyền trong Thị trường Đơn kỹ thuật số năm 2019. Trước khi văn bản này được thông qua, các nhà cung cấp dịch vụ chia sẻ nội dung trực tuyến như YouTube hay Facebook chủ yếu vận hành theo cơ chế trú ẩn an toàn, nghĩa là họ chỉ có trách nhiệm gỡ bỏ nội dung vi phạm khi nhận được thông báo chính thức từ chủ sở hữu quyền. Quy định tại Điều 17 của Chỉ thị đã loại bỏ cơ chế thụ động này đối với các nền tảng lớn.

Theo quy định mới, các nền tảng trực tuyến bị coi là đang thực hiện hành vi truyền đạt đến công chúng khi người dùng đăng tải các tác phẩm có bản quyền lên hệ thống của họ. Do đó, nền tảng phải chịu trách nhiệm pháp lý trực tiếp về các nội dung vi phạm, trừ khi chứng minh được họ đã nỗ lực tối đa để xin phép hoặc ký kết hợp đồng với chủ sở hữu quyền, triển khai các biện pháp kỹ thuật theo tiêu chuẩn ngành để ngăn chặn việc đăng tải các tác phẩm đã đăng ký nhận diện, và hành động nhanh chóng để gỡ bỏ nội dung khi nhận được thông báo cũng như ngăn chặn việc tái đăng tải trong tương lai. Song song với đó, Điều 15 của Chỉ thị thiết lập một quyền dành riêng cho các cơ quan báo chí, bắt buộc các công cụ tìm kiếm và nền tảng tổng hợp tin tức phải chi trả tiền bản quyền khi sử dụng lại các đoạn trích nội dung báo chí trên dịch vụ của mình. Quy định này hướng tới việc tái thiết lập sự cân bằng tài chính giữa các đơn vị sản xuất nội dung tin tức truyền thống và các nền tảng công nghệ trung gian vốn khai thác lưu lượng truy cập từ các nội dung đó.

Nhật Bản với chiến lược thể chế hóa vi phạm cá nhân

Khác với cách giao trách nhiệm cho các nền tảng kỹ thuật số của EU, Nhật Bản xây dựng một mô hình bảo vệ bản quyền dựa trên việc siết chặt chế tài đối với người tiêu dùng cuối cùng, kết hợp với vai trò đại diện của các tổ chức quản lý tập trung quyền tác giả nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp văn hóa nội địa như Manga, Anime và âm nhạc. Nhật Bản là một trong những quốc gia có quy định pháp lý nghiêm khắc nhất đối với hành vi tiêu dùng nội dung vi phạm bản quyền. Từ năm 2012, Luật Bản quyền Nhật Bản đã hình sự hóa hành vi cố ý tải về các tệp âm thanh và video vi phạm bản quyền.

Đến đợt sửa đổi năm 2020 có hiệu lực từ đầu năm 2021, phạm vi áp dụng của luật tiếp tục được mở rộng sang toàn bộ các ấn phẩm sáng tạo, bao gồm Manga, tạp chí, sách bài giảng và phần mềm máy tính. Theo đó, người dùng cố tình tải về các nội dung vi phạm bản quyền, dù chỉ phục vụ mục đích cá nhân, có thể đối mặt với hình phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự với mức án phạt tù lên đến 2 năm hoặc phạt tiền lên đến 2 triệu Yên. Cùng với việc xử lý người tải lậu, Luật Bản quyền sửa đổi của Nhật Bản bổ sung các chế tài nghiêm khắc hướng đến các trang web trung gian và ứng dụng cung cấp đường dẫn. Đây là những địa chỉ không trực tiếp lưu trữ tệp vi phạm nhưng cung cấp liên kết đến các kho lưu trữ lậu. Hành vi vận hành các trang web này hoặc cung cấp ứng dụng chỉ hướng người dùng đến nội dung vi phạm phải chịu khung hình phạt tù lên đến 5 năm hoặc phạt tiền đến 5 triệu Yên. Cốt lõi của mô hình này nằm ở hiệu quả hoạt động của các tổ chức quản lý tập trung, điển hình là Hiệp hội Quyền tác giả Âm nhạc Nhật Bản. Tổ chức này nắm giữ quyền đại diện cấp phép cho hầu hết kho tàng âm nhạc nội địa và quốc tế tại thị trường Nhật Bản, áp dụng hệ thống cơ sở dữ liệu minh bạch và quy trình thu phí đồng bộ đối với mọi hình thức phát hành, từ đĩa cứng, truyền hình, Karaoke cho đến dịch vụ phát trực tuyến, giúp đơn giản hóa thủ tục xin cấp phép và bảo đảm tiền thù lao được phân phối chính xác đến tay các tác giả.

Liên minh châu Âu (EU) luôn mạnh tay với các nền tảng không tuân thủ luật bản quyền. 
Ảnh: Trang web 
Liên minh châu Âu
Liên minh châu Âu (EU) luôn mạnh tay với các nền tảng không tuân thủ luật bản quyền. - Ảnh: Trang web Liên minh châu Âu

Dù cùng hướng đến mục tiêu giảm thiểu vi phạm bản quyền trên không gian số, hai mô hình của EU và Nhật Bản thể hiện những điểm khác biệt căn bản về đối tượng và công cụ áp dụng. Mô hình của EU chọn đối tượng điều chỉnh trọng tâm là các nền tảng công nghệ trung gian chia sẻ nội dung và công cụ tìm kiếm. Cơ chế thực thi chính của EU là buộc các nền tảng có nghĩa vụ chủ động ngăn chặn nội dung vi phạm và đàm phán hợp đồng cấp phép, dựa trên triết lý kiểm soát từ góc độ hạ tầng phân phối công nghệ. Trong khi đó, mô hình của Nhật Bản chọn đối tượng điều chỉnh trọng tâm là người tiêu dùng cuối cùng và các nhà vận hành trang web cung cấp liên kết lậu. Cơ chế thực thi chính của Nhật Bản là áp dụng chế tài hình sự đối với hành vi tải lậu kết hợp với công cụ quản lý tập trung, dựa trên triết lý kiểm soát hành vi tiêu dùng và nguồn cung cấp liên kết. Thách thức đối với mô hình này là áp lực giám sát dữ liệu người dùng cá nhân cùng chi phí thực thi các vụ án hình sự nhỏ lẻ.

Sự khác biệt này xuất phát từ cấu trúc thị trường và văn hóa pháp lý của từng khu vực. EU sở hữu một thị trường tiêu dùng kỹ thuật số phụ thuộc nhiều vào các nền tảng công nghệ xuyên biên giới, do đó họ tập trung vào trách nhiệm của các tập đoàn này với giới sáng tạo nội địa. Trong khi đó, Nhật Bản có một thị trường nội dung nội địa khổng lồ với thói quen tiêu dùng đã được định hình từ lâu, khiến chính phủ bảo vệ hệ sinh thái sáng tạo trong nước bằng cách ngăn chặn truy cập nội dung lậu của người dùng và duy trì cơ chế cấp phép nghiêm ngặt.

Nhật Bản là quốc gia nổi tiếng với luật bản quyền nghiêm ngặt.
 Ảnh: Poster kêu gọi chống vi phạm bản quyền trên các tạp chí truyện tranh
Nhật Bản là quốc gia nổi tiếng với luật bản quyền nghiêm ngặt. - Ảnh: Poster kêu gọi chống vi phạm bản quyền trên các tạp chí truyện tranh

Bài học kinh nghiệm cho chính sách bảo hộ bản quyền tại Việt Nam

Trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc hoàn thiện thể chế bản quyền, thể hiện qua Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 và Nghị định 17/2023/NĐ-CP cùng chiến dịch ngăn chặn hàng loạt trang web phim lậu và xử lý vi phạm trên không gian số thời gian qua. Tuy nhiên, thị trường nội dung kỹ thuật số tại Việt Nam vẫn đối mặt với tình trạng vi phạm bản quyền diễn ra tinh vi của các trang web lậu và thất thoát doanh thu bản quyền. Từ việc phân tích kinh nghiệm của EU và Nhật Bản, một số bài học thực tiễn có thể được rút ra cho công tác quản lý tại Việt Nam.

Phương án cụ thể hóa trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ mạng trung gian rất đáng cân nhắc. Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về nghĩa vụ của các nhà cung cấp dịch vụ trung gian theo hướng tiệm cận với mô hình của EU. Cần quy định rõ ràng nghĩa vụ của dịch vụ lưu trữ dữ liệu và mạng xã hội trong việc rà soát, phát hiện nội dung vi phạm đã được đăng ký bảo hộ. Thay vì chỉ áp dụng cơ chế thụ động gỡ bỏ khi có khiếu nại, quy định pháp luật cần tạo áp lực để các nền tảng lớn chủ động đàm phán thỏa thuận cấp phép bản quyền với các tổ chức đại diện người sở hữu quyền tại Việt Nam.

Kinh nghiệm tiếp theo là minh bạch hóa và nâng cao năng lực của các tổ chức quản lý. Ví dụ từ Hiệp hội Quyền tác giả Âm nhạc Nhật Bản cho thấy một hệ sinh thái bản quyền chỉ có thể vận hành hiệu quả khi có các tổ chức đại diện quản lý tập trung đủ năng lực và uy tín. Các tổ chức đại diện quản lý tập trung quyền tác giả tại Việt Nam cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong theo dõi, giám sát việc sử dụng tác phẩm trên môi trường số. Đồng thời cần minh bạch quy trình thu và phân phối tiền thù lao để tạo dựng niềm tin cho cả nghệ sĩ lẫn các đơn vị khai thác sử dụng tác phẩm nghệ thuật.

Cuối cùng là nâng cao nhận thức và định hình thói quen tiêu dùng. Việc hình sự hóa toàn bộ hành vi tải lậu như Nhật Bản có thể chưa phù hợp với điều kiện kinh tế và xã hội hiện tại của Việt Nam. Tuy nhiên, có thể áp dụng các chế tài hành chính đủ sức răn đe đối với hành vi cố ý truy cập, chia sẻ nội dung vi phạm quy mô lớn. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cần phối hợp liên ngành giữa lực lượng Bộ Công an, Bộ VHTTDL để xử lý triệt để các hạ tầng cung cấp nội dung lậu, các trang web trung gian và các ứng dụng phát trái phép.

Bảo vệ quyền tác giả trên không gian số là một bài toán phức tạp, đòi hỏi sự cân bằng giữa lợi ích của người sáng tạo, quyền tiếp cận thông tin của công chúng và sự phát triển của nền kinh tế số. Đối với Việt Nam, áp dụng các công cụ pháp lý và giải pháp kỹ thuật, kết hợp với đẩy mạnh chuyển đổi sang nền kinh tế thuê bao nội dung chính thống, sẽ là nền tảng quan trọng để xây dựng một môi trường văn hóa số văn minh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của các ngành công nghiệp văn hóa trong nước. 

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

Nguồn: Tạp chí VHNT số 656, tháng 9/2026