202604220837083483_z7750447291584_899e0138de398b35d2e8ad9ca9e39597.jpg
Quốc hội thảo luận tại Hội trường dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh - Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội

Nghị quyết về văn hóa có ý nghĩa quan trọng, thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng

Phát biểu trước phiên thảo luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh nhấn mạnh, ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80 về phát triển văn hóa Việt Nam, trong đó xác định xây dựng và phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc, nguồn lực nội sinh và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững đất nước; phát triển văn hóa, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực, con người là trung tâm; đồng thời yêu cầu hoàn thiện thể chế đột phá để khơi thông nguồn lực, đẩy mạnh khoa học công nghệ và chuyển đổi số, nâng cao vị thế văn hóa Việt Nam trong hội nhập quốc tế. 

“Việc Quốc hội xem xét ban hành Nghị quyết lần này có ý nghĩa quan trọng trong việc thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng, tạo chuyển biến thực chất trong phát triển văn hóa, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới” – Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh.

Theo Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, sáng ngày 20/4, Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ VHTTDL trình bày tờ trình, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục trình bày báo cáo thẩm tra. Tại phiên thảo luận tổ đã có 118 đại biểu phát biểu. Tổng thư ký Quốc hội đã tổng hợp và gửi các vị đại biểu. Chính phủ cũng đã kịp thời dự thảo báo cáo tiếp thu, giải trình và dự thảo Nghị quyết gửi kèm theo tài liệu. 

202604220837083483_z7750447276702_71657d864678ef8f8d05a817ccbd9a89.jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh nhấn mạnh các nội dung để đại biểu thảo luận, cho ý kiến - Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội

Trên cơ sở báo cáo thẩm tra và kết quả thảo luận, bên cạnh các nội dung nêu trong báo cáo thẩm tra và các vấn đề mà đại biểu quan tâm, Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh 4 nội dung để các vị đại biểu cho ý kiến:

Thứ nhất là về cơ chế chính sách huy động và sử dụng nguồn lực phát triển văn hóa. Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị các đại biểu cho ý kiến về các chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội nhằm thu hút đầu tư phát triển doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa; đồng thời xem xét chính sách đãi ngộ, phát triển nhân lực, tài năng và cơ chế hỗ trợ hoạt động sáng tạo, bảo đảm đồng bộ, hiệu quả và có sức lan tỏa. 

Thứ hai là về cơ chế ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa, bà Nguyễn Thị Thanh đề nghị các đại biểu cho ý kiến về tiêu chí lựa chọn đối tượng thí điểm mô hình đô thị di sản và trách nhiệm của các cơ quan tổ chức trong việc tổ chức thực hiện.

Thứ ba là về cơ chế chính sách bảo tồn văn hóa, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị đánh giá mức độ đầy đủ, hiệu quả của các chính sách đối với văn hóa các dân tộc thiểu số, nghệ thuật truyền thống, nghệ thuật dân gian, khả năng gắn với bảo tồn và phát triển bền vững. 

Thứ tư là về Quỹ văn hóa nghệ thuật, theo Phó Chủ tịch Quốc hội, đây là nội dung đã có cơ sở chính trị tại Nghị quyết 80, tuy nhiên đây cũng là chính sách mới, đề nghị cho ý kiến về mô hình tổ chức, cơ chế quản trị, phương thức huy động vốn, cơ chế kiểm soát rủi ro và bảo đảm công khai minh bạch trong hoạt động của Quỹ.

Đề xuất ngày 24/11 hằng năm là ngày Văn hóa Việt Nam có tính biểu tượng quốc gia cực kỳ mạnh mẽ

Phát biểu thảo luận tại Hội trường, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (Đoàn TP Hà Nội), đánh giá cao dự thảo Nghị quyết với nhiều cơ chế chính sách mới đột phá mạnh mẽ. 

Đóng góp ý kiến vào việc đưa ngày Văn hóa Việt Nam trở thành ngày nghỉ lễ hưởng nguyên lương gắn với kích cầu tiêu dùng văn hóa; Điều 2 dự thảo ấn định ngày 24/11 hằng năm là ngày Văn hóa Việt Nam, quy định người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương; cùng với đó là việc miễn hoặc giảm phí lệ phí tham quan tại các cơ sở văn hóa thể thao công lập vào ngày này cũng như khuyến khích thanh thiếu niên tham gia các hoạt động văn hóa, đại biểu nhấn mạnh, đây là những quyết sách mang tính biểu tượng quốc gia cực kỳ mạnh mẽ, có tác động thực tiễn sâu rộng. 

202604220906420670_z7750558634529_33aea080db15bc901d84af54ba4066a3.jpg
Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà nhấn mạnh, các chính sách trong dự thảo Nghị quyết là những quyết sách có tác động thực tiễn sâu rộng - Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội

Việc cho phép người dân nghỉ lễ có hưởng lương không chỉ tôn vinh giá trị văn hóa mà còn trực tiếp tạo ra kích cầu tiêu dùng văn hóa, thúc đẩy du lịch nội địa. Tuy nhiên theo đại biểu, thay vì chỉ giới hạn việc miễn giảm phí ở các cơ sở văn hóa thể thao công lập, nghị quyết nên bổ sung cơ chế khuyến khích các cơ sở văn hóa giải trí khu vực tư nhân cùng tham gia chiến dịch giảm giá, từ đó tạo thành một ngày hội kích cầu công nghiệp văn hóa trên toàn quốc.

Về thể chế hóa chính sách đãi ngộ đặc thù, bảo vệ và thu hút nhân tài cho lực lượng lao động nghệ thuật. Điều 7 dự thảo Nghị quyết cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập tuyển dụng không qua thi tuyển đối với các nghệ sĩ tài năng, du học sinh đạt giải thưởng quốc tế. Đáng chú ý nhất là chế độ phụ cấp ưu đãi nghề rất cao, từ 40% đến 60% mức lương hiện hưởng dành cho người hoạt động trong nghệ thuật biểu diễn truyền thống, múa, xiếc hay những người làm việc tại vùng sâu vùng xa. Đồng thời nhà nước hỗ trợ kinh phí đào tạo lại cho nghệ sĩ các ngành đặc thù để chuyển đổi vị trí làm việc khi hết tuổi nghề. Theo đại biểu, đây là một chuỗi quy định mang tính nhân văn sâu sắc, thể hiện sự thấu hiểu tường tận của các nhà làm luật đối với tuổi nghề vô cùng ngắn ngủi và quá trình rèn luyện khắc nghiệt của nghệ sĩ. Việc đãi ngộ cao cho nghệ thuật truyền thống sẽ giúp giữ gìn bản sắc dân tộc trước áp lực của kinh tế thị trường. 

Để quy định này có sức thuyết phục hơn, đại biểu đề nghị đa dạng hóa các tiêu chí công nhận tài năng để xét đặc cách tuyển dụng, không chỉ bó hẹp ở tiêu chí huy chương giải thưởng khu vực quốc tế. Vì trong nghệ thuật truyền thống, không ít cá nhân xuất chúng hoặc nghệ nhân dân gian không tham gia các cuộc thi lấy huy chương nhưng có đóng góp to lớn vào việc thực hành và truyền dạy di sản, họ cũng cần được áp dụng cơ chế đặc thù này.

Về đột phá về tư duy, cơ chế tài chính, nguồn lực đầu tư cho văn hóa,  Điều 3 và Điều 11 dự thảo đã quy định nền tảng tài chính vô cùng vững chắc khi yêu cầu nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Đặc biệt việc thí điểm thành lập quỹ hỗ trợ phát triển văn hóa nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư được định vị là quỹ đầu tư mạo hiểm, hoạt động theo nguyên tắc thị trường và chấp nhận khả năng rủi ro là một bước tiến vượt bậc về tư duy quản lý. 

Quỹ này hướng tới việc tài trợ đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp, các dự án có tính sáng tạo đột phá mà ngân sách nhà nước thông thường không thể cấp kinh phí. Quy định này cho thấy sự chuyển biến lớn, nhìn nhận văn hóa không chỉ là lĩnh vực tiêu tiền mà là một ngành kinh tế thực thụ cần được đầu tư.

Theo đại biểu, mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ giải quyết triệt để điểm nghẽn lớn nhất của công nghiệp văn hóa, đó là sự thiếu hụt vốn và tính rủi ro cao của sản phẩm sáng tạo. Tuy nhiên để chính sách này khả thi và chặt chẽ, đại biểu cho rằng cần thiết kế các tiêu chí đánh giá rủi ro đặc thù để bảo vệ các hội đồng thẩm định quỹ khỏi những rào cản hành chính về bảo toàn nguồn vốn. Bởi lẽ nghệ thuật có đặc thù riêng, không phải dự án nào cũng thành công ngay về mặt thương mại, do đó cần có một hành lang pháp lý thật an toàn cho sự rủi ro đã được dự báo trước.

202604220913389272_z7750593336069_09078880eedcde1e99dd3c6d3b674bd8.jpg
Đại biểu Bùi Văn Dũng (Đoàn Thanh Hóa) phát biểu thảo luận tại Hội trường - Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội

Phát triển công nghiệp văn hóa gắn với chính sách ưu đãi, triển khai theo hướng có chọn lọc và gắn với kết quả đầu ra

Phát biểu thảo luận, đại biểu Bùi Văn Dũng (Đoàn Thanh Hóa) nhấn mạnh, việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam cho thấy đây là bước đi nhằm thể chế hóa Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị, thể hiện quyết tâm đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là động lực nội sinh cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. 

Theo đại biểu, văn hóa là một phần của kiến trúc thượng tầng, bị quyết định bởi cơ sở hạ tầng kinh tế, có vai trò to lớn trong việc định hình nhận thức và phát triển xã hội. Do đó, căn cơ của phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay tập trung vào việc xác lập văn hóa là nền tảng của phát triển, chuyển dịch từ tư duy phát triển "nhờ văn hóa" sang phát triển "bằng văn hóa". Và như vậy, sự phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam cần tập trung vào các điểm cốt lõi: xây dựng con người là trung tâm, hệ giá trị nền tảng, văn hóa ngang hàng với kinh tế, khơi dậy khát vọng dân tộc và môi trường văn hóa lành mạnh. Các nội dung này, theo đại biểu đã được thể hiện trong dự thảo Nghị quyết phát triển văn hóa Việt Nam. Dự thảo Nghị quyết đã thể hiện rõ tư duy đổi mới, chuyển từ làm văn hóa theo cơ chế bao cấp sang quản trị văn hóa theo cơ chế thị trường có định hướng, gắn với phát triển kinh tế, công nghiệp hóa văn hóa và chuyển đổi số. 

Tuy nhiên, để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống và tạo đột phá, đại biểu cho rằng, về nguồn lực và cơ chế phân bổ, cần chuyển từ dàn trải sang tập trung, có trọng điểm và đo lường được hiệu quả. Thực tiễn cho thấy nếu đầu tư phân tán sẽ khó tạo ra các sản phẩm văn hóa có sức lan tỏa. Vì vậy, cần ưu tiên cho các lĩnh vực có tính đòn bẩy như công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và bảo tồn di sản cấp bách. 

Về phát triển công nghiệp văn hóa gắn với chính sách ưu đãi, cần triển khai theo hướng có chọn lọc và gắn với kết quả đầu ra. Các mô hình khu, cụm sáng tạo văn hóa chỉ nên thí điểm tại một số đô thị lớn nơi có đủ điều kiện về thị trường, nhân lực và hạ tầng để tránh dàn trải…

202604220842464003_z7750467610994_475d6dc11a569c1fe6cb82c76b1c8b2a.jpg
Các đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp - Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội

Về bảo tồn di sản và phát triển nguồn nhân lực, theo đại biểu, cần chuyển sang cách tiếp cận lấy con người và cộng đồng làm trung tâm. Di sản chỉ được bảo vệ bền vững khi người dân được tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động kinh tế văn hóa. Đồng thời, cần có cơ chế đột phá thu hút, giữ chân nhân tài, nhất là trong lĩnh vực sáng tạo và công nghệ số, cả trong khu vực công và tư nhằm hình thành hệ sinh thái sáng tạo toàn diện.

Về cơ chế thực hiện và chuyển đổi số, cần bảo đảm minh bạch, rõ trách nhiệm và có thể đo lường. Các cơ chế như đặt hàng sáng tạo, quỹ văn hóa phải có tiêu chí cụ thể, công khai và kiểm soát chặt chẽ. Đồng thời, cần sớm xây dựng nền tảng số quốc gia về văn hóa, phát triển sản phẩm văn hóa có sức mạnh cạnh tranh quốc tế và tăng cường bảo vệ bản quyền, coi đây là khâu đột phá đưa văn hóa Việt Nam ra thị trường toàn cầu.