Từ khóa: âm nhạc truyền thống; hòa tấu đương đại; Việt Nam.
Abstract: Contemporary traditional instrumental ensemble music represents a significant achievement in the modernization of Vietnamese traditional music. However, current performance and training practices reveal inconsistencies in ensemble quality and a lack of in-depth research, particularly within professional training institutions nationwide. This article analyzes the formation and development of this art form and proposes solutions to enhance its artistic quality, thereby contributing to the promotion of traditional musical values in contemporary life.
Keywords: traditional music; contemporary ensemble music; Vietnam.

1. Đặt vấn đề
Ngày nay, loại hình hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại ngày càng phổ biến và phát triển mạnh mẽ với nhiều kiểu kết hợp nhạc cụ khác nhau, đa dạng về âm thanh, phong phú về âm sắc, tính cộng hưởng và truyền cảm hứng cao, nhất là trên sân khấu biểu diễn đa phương tiện. Với âm hưởng đặc trưng của các nhạc khí dân tộc cổ truyền kết hợp với các nhạc cụ điện tử, nhạc cụ giao hưởng, cùng với các thủ pháp sáng tác hiện đại, lối tư duy hòa thanh Đông - Tây, làm cho các tác phẩm hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại ngày càng có tiếng nói và sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến công chúng thưởng thức âm nhạc trong lẫn ngoài nước. Do đó, việc tìm hiểu sự hình thành, phát triển, cũng như ý nghĩa nghệ thuật của loại hình hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại là việc làm mang tính cấp thiết hiện nay, nhằm tìm ra những ưu điểm để phát huy, hay những hạn chế, tồn đọng để khắc phục. Qua đó, điều chỉnh sao cho phù hợp với xu thế thời đại, nhất là trong công tác đào tạo ở các trường chuyên nghiệp hoặc công tác biểu diễn ở các nhà hát, các đoàn nghệ thuật truyền thống hiện nay.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề đặt ra của bài viết, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp tổng hợp, nghiên cứu tư liệu: giúp tác giả có cái nhìn tổng quan về đề tài mà bài viết này muốn đề cập. Việc tìm hiểu tư liệu qua các bài viết của các tác giả khác nhau giúp người viết tìm ra được những vấn đề cần nghiên cứu tiếp và nghiên cứu chuyên sâu hoặc bổ sung những vấn đề có thể còn thiếu, hoặc đóng góp một góc nhìn khác về ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại Việt Nam.
Phương pháp quan sát tham dự: tác giả đã trực tiếp tham dự các buổi hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Học viện Âm nhạc Huế, Festival Huế, Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó đối chiếu, so sánh với các tài liệu liên quan để tìm ra những điểm mạnh, yếu ở các kiểu kết hợp nhạc khí trong hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại.
3. Kết quả và thảo luận
Sự hình thành và phát triển nghệ thuật hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại
Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại ở Việt Nam xuất hiện từ giữa thế kỷ XX, bắt nguồn từ nhu cầu đổi mới cách thể hiện âm nhạc truyền thống, giao lưu với âm nhạc thế giới và phát triển âm nhạc dân tộc trong bối cảnh hiện đại.
Từ sau Cách mạng tháng Tám (1945), dưới ảnh hưởng của các trường phái âm nhạc phương Tây, các nhạc sĩ Việt Nam bắt đầu biên soạn, hòa âm phối khí cho các nhạc cụ dân tộc. Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (tiền thân là Nhạc viện Hà Nội), được biết đến như nơi tiên phong trong việc đào tạo, thử nghiệm, biểu diễn dàn nhạc dân tộc theo phong cách hòa tấu đương đại. Hình thức hòa tấu dàn nhạc dân tộc với quy mô lớn bắt đầu phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam từ những năm 1960. Trong giai đoạn này, các dàn nhạc dân tộc được thành lập tại Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Nhà hát Ca Múa Nhạc Việt Nam và Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Nhiều nhạc sĩ như Nguyễn Xuân Khoát, Tạ Phước, Tô Vũ, Xuân Khải, Quang Hải, Trần Quý, Nguyễn Văn Thương, Thanh Tâm, Huy Thục, Hồng Thái, Thao Giang, Đinh Thìn… đã sáng tác các tác phẩm hòa tấu cho dàn nhạc dân tộc đương đại, góp phần quan trọng vào sự phát triển của loại hình này.
Quá trình hình thành và phát triển
Như đã đề cập ở trên, thời điểm ra đời của loại hình hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại là vào khoảng thập kỷ 60 của thế kỷ XX do nhu cầu nội tại và xu thế phát triển chung của xã hội đương đại, đòi hỏi phải có một loại hình ngôn ngữ âm nhạc dân tộc mới để quảng bá, giới thiệu bản sắc âm nhạc Việt đi nhanh hơn, xa hơn, phù hợp hơn với thị hiếu, cảm nhận của lớp người trẻ. Tuy nhiên, trước khi đi vào vấn đề chính của bài báo này, chúng tôi muốn làm rõ hai khái niệm: dàn nhạc dân tộc cổ truyền và dàn nhạc dân tộc đương đại, để tránh có những ngộ nhận, hiểu lầm đáng tiếc về các giá trị di sản của tiền nhân để lại.
Dàn nhạc dân tộc cổ truyền
Dàn nhạc dân tộc cổ truyền ra đời trong các triều đại quân chủ phong kiến Việt Nam, ít nhất là khoảng từ thế kỷ XI-XIII. Ở cơ cấu dàn nhạc này sẽ có nhiều kiểu cấu tạo khác nhau, phù hợp theo yêu cầu của mỗi loại hình nghệ thuật như: dàn nhạc ả đào; dàn nhạc hát xẩm; dàn nhạc chèo; dàn nhạc trong Quan họ Bắc Ninh; dàn nhạc tài tử; dàn nhạc thính phòng Huế; dàn nhạc tuồng; và những dàn nhạc có quy mô lớn, niêm luật chặt chẽ như các dàn đại nhạc; tiểu nhạc; nhã nhạc; nhạc huyền (trong âm nhạc cung đình). Mỗi dàn nhạc mang một âm hưởng riêng, màu sắc riêng, cách hòa tấu riêng, hệ thống bài bản riêng. Theo nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan (2002) trong tuyển tập Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại, có nêu: “Tất cả các dàn nhạc cổ truyền đều có chung một nguyên tắc, đó là mọi cá nhân đều được phát huy tối đa quyền sáng tạo trên một “khung giai điệu” nhất định gọi là “lòng bản” trong khi hòa tấu. Nhờ vào ưu điểm này mà mỗi lần hòa tấu trên cùng một lòng bản, dàn nhạc lại cho ta một cảm giác mới mẻ”. Nói cách khác, dàn nhạc dân tộc cổ truyền là “bảo tồn” vốn cổ của dân tộc đã có trong quá khứ. Giữ gìn một cách nguyên vẹn di sản của tiền nhân, làm chỗ dựa và tiền đề cho các loại hình hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại sau này.
Dàn nhạc dân tộc đương đại
Dàn nhạc dân tộc đương đại ra đời vào những năm 60 của thế kỷ XX, là dàn nhạc sử dụng nhạc cụ dân tộc không cải tiến, kết hợp với các nhạc cụ cải tiến đã chuẩn hóa cung bậc theo thang 12 âm bình quân; thay đổi phương pháp diễn tấu cổ truyền bằng phương pháp mới; chia nhạc cụ theo lối “tổ, bộ” của dàn nhạc giao hưởng cổ điển châu Âu; dùng thủ pháp sáng tác âm nhạc cổ điển châu Âu kết hợp với thang âm ngũ cung và lối đi bè truyền thống dân tộc. Từ sau năm 1975 đến nay, dàn nhạc này còn thêm thắt các bộ nhạc cụ hay nhạc cụ độc tấu phương Tây như: bộ dây; bộ gỗ; bộ đồng; piano; guitar; hợp xướng… các kiểu kết hợp nhạc cụ khác nhau đã tạo nên sự đa dạng, phong phú về âm sắc, cũng như khối lượng đồ sộ của âm thanh trên tinh thần “sáng tạo cái mới” mang âm hưởng, bản sắc, giai điệu nền tảng của dân tộc cổ truyền. Loại hình này cho phép các nhạc sĩ, nhạc công và nghệ sĩ thể hiện tối đa tài năng cá nhân của mình trong việc sáng tạo và làm ra cái mới, như: mới trong tổ chức dàn nhạc; mới trong cấu trúc tác phẩm; mới trong biểu diễn tác phẩm; mới trong cải tiến nhạc cụ và đào tạo, giảng dạy, nhưng vẫn chuyển tải được bản sắc dân tộc Việt thông qua những yếu tố cách tân nêu trên, phù hợp với mục tiêu “Dân tộc - Hiện đại”, “xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998).
Như vậy, dàn nhạc dân tộc cổ truyền là bảo tồn, giữ nguyên phương pháp diễn tấu, hệ thống bài bản, nhạc cụ, cách hát, kể cả vấn đề đào tạo theo lối cũ. Còn dàn nhạc dân tộc đương đại là sáng tạo, làm ra cái mới trong tổ chức dàn nhạc, cấu trúc tác phẩm, phương thức hòa tấu, cách sử dụng nhạc cụ, cải tiến nhạc cụ và mới trong đào tạo, giảng dạy, nhưng vẫn mang được âm hưởng, hồn cốt và bản sắc dân tộc. Trên cơ sở đó, giúp chúng ta tìm ra các giải pháp, tạo ra các mô hình tổ chức, nghiên cứu, giáo dục, đào tạo phù hợp, vừa bảo tồn được di sản truyền thống, vừa thúc đẩy sự sáng tạo những hình thức âm nhạc dân tộc mới trên cơ sở truyền thống.
Sự hình thành và phát triển của dàn nhạc dân tộc đương đại
Giai đoạn 1960-1980: thời kỳ đặt nền móng, hình thành và phát triển bước đầu với các tác phẩm và tác giả tiêu biểu: Nông thôn đổi mới; Đêm hoa đăng; Trên đường xa; Nhớ về Nam; Rhapsody số 2; Cánh chim và mặt trời; Đi hội mùa xuân; Dòng kênh trong; Hội mừng công; Hội nghị Diên Hồng; Vó ngựa trên đường ra trận; Bốn mùa hội vui; Bài ca trên đồng nội; Ông Gióng; Vì miền Nam; Tiếng trống ra quân; Ký ức dòng sông quê hương; Niềm vui giải phóng; Chung một niềm tin; Mãi mãi một mùa xuân; Tiếng gọi mùa Xuân; Tiếng sáo quê hương; Giai điệu quê hương; Sắc hoa bốn mùa… của các nhạc sĩ Tô Vũ - Tạ Phước; Văn Thư; Nguyễn Văn Thương; Ngọc Phan; Xuân Hòa; Hoàng Đạm; Nguyễn Xuân Khoát; Huy Thục; La Thăng; Xuân Khải; Đinh Thìn; Trần Quý; Hồng Thái… tạo tiền đề cho sự phát triển của loại hình này.
Giai đoạn 1980-2000: Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất cả về chất lượng lẫn số lượng. Dàn nhạc dân tộc đương đại tại các đơn vị nghệ thuật và nhạc viện được củng cố, nhiều tác phẩm mới ra đời, phong phú về chủ đề, kỹ thuật phối khí, hình thức biểu đạt có tính nghệ thuật rất cao, như các tác phẩm và tác giả tiêu biểu sau: Du xuân; Ngày hội; Biển quê hương; Tây Nguyên; Câu chuyện cổ; “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”; Dân Mường đi theo Đảng; Khúc nhạc tâm tình; Quê tôi giải phóng; Đất và Hoa; Hội cồng; Âm thanh núi rừng; Khúc tâm tình quê hương; Concerto cho đàn tranh và dàn nhạc; Khát vọng; Trống hội đầu xuân của các nhạc sĩ Trần Quí; Nguyễn Đình Phúc, Hoàng Dương, Quang Hải, Ngô Sĩ Hiển - Trần Quý, Xuân Tứ, Nguyễn Chính…
Giai đoạn từ 2000 đến nay: Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu. Môi trường hoạt động âm nhạc nói chung cũng như không gian sáng tạo trở nên rộng lớn, sinh động, linh hoạt hơn. Một số tác phẩm hòa tấu tiêu biểu như: Bác Hồ một tình yêu bao la; Hội mùa; Đêm Đông; Thành phố Hồ Chí Minh; Biển; Suối đàn T’rưng hát; Hội Xuân; Âm vang cao nguyên; Trên đồng ruộng quê hương; Hẹn đến cao nguyên; Ngày hội đố hoa; Ngựa ô mùa Xuân; Nét dạo ngày Xuân; Nét Huế; Tơ vương; Dòng sông thời gian; Hương Giang ngày về; Ngẫu hứng ngựa ô của các nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Phúc Linh, Chu Minh - Trần Quý, Phương Bảo - Trần Quý, Đặng Nguyễn, Doãn Tiến, Đinh Quang Hợp, Trần Luận, Thế Dân, Vĩnh Phúc, Việt Đức… Tuy nhiên, loại hình hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại cũng đang đối diện với nhiều thách thức như: tìm tòi, sáng tạo cái “lạ và mới” trên nền tảng dân tộc cổ truyền; hình thức biểu hiện, trình diễn hiện đại; thiếu tác phẩm mới có sức lan tỏa; thiếu nguồn nhân lực trẻ kế thừa... Dù vậy, một số nghệ sĩ và đơn vị nghệ thuật, đào tạo đã nỗ lực cách tân, sáng tạo trong biểu diễn, dàn dựng sân khấu, kết hợp nghệ thuật đa phương tiện, góp phần tạo ra những bước chuyển mình rõ nét cho nghệ thuật hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại.
Ý nghĩa, vai trò của nghệ thuật trong hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại
Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại là kết quả của quá trình kế thừa và phát triển âm nhạc truyền thống trong điều kiện xã hội hiện đại. Loại hình nghệ thuật này không chỉ mở rộng khả năng biểu đạt của dàn nhạc dân tộc, mà còn góp phần quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy, lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Với sự kết hợp giữa ngôn ngữ âm nhạc truyền thống cùng tư duy sáng tạo đương đại, hòa tấu dàn nhạc dân tộc ngày càng khẳng định vị trí trong đời sống nghệ thuật, cũng như trong hoạt động đào tạo, biểu diễn, nghiên cứu và giao lưu văn hóa. Có thể tổng kết, nêu ra vài một vài ý nghĩa, vai trò của nghệ thuật hòa tấu dân tộc đương đại như sau:
Thứ nhất, góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc âm nhạc dân tộc. Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại kế thừa hệ thống nhạc cụ, làn điệu và ngôn ngữ âm nhạc truyền thống, đồng thời vận dụng các kỹ thuật phối khí, hòa âm và tổ chức dàn nhạc hiện đại để tạo nên những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Điều này vừa góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, vừa tạo điều kiện để âm nhạc truyền thống thích ứng với đời sống nghệ thuật đương đại.
Thứ hai, thúc đẩy sự sáng tạo và phát triển nghệ thuật biểu diễn. Sự xuất hiện của nhiều tác phẩm hòa tấu mới đã mở rộng không gian sáng tạo cho các nhạc sĩ, nghệ sĩ biểu diễn hay chỉ huy dàn nhạc. Việc kết hợp các yếu tố âm nhạc truyền thống với tư duy sáng tác hiện đại, công nghệ sân khấu cùng các loại hình nghệ thuật khác đã làm phong phú ngôn ngữ biểu đạt, nâng cao chất lượng nghệ thuật của dàn nhạc dân tộc.
Thứ ba, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu âm nhạc dân tộc. Hòa tấu là học phần quan trọng trong các cơ sở đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp, giúp rèn luyện kỹ năng biểu diễn tập thể, khả năng phối hợp, tư duy xử lý tác phẩm và năng lực cảm thụ âm nhạc của người học. Đồng thời, thực tiễn biểu diễn cũng đặt ra yêu cầu nghiên cứu về phối khí, chỉ huy, phương pháp giảng dạy để xây dựng giáo trình phù hợp với xu hướng phát triển của nghệ thuật hòa tấu hiện nay.
Thứ tư, tăng cường giao lưu văn hóa và quảng bá hình ảnh Việt Nam. Thông qua các chương trình biểu diễn trong nước và quốc tế, hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại trở thành phương tiện giới thiệu những giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam đến bạn bè thế giới. Đây là cầu nối quan trọng góp phần khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời thúc đẩy quá trình giao lưu, tiếp biến và hội nhập văn hóa giữa Việt Nam với thế giới.
Thứ năm, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng trong thời đại mới. Những đổi mới về hình thức biểu diễn, phối khí, dàn dựng, giúp các chương trình hòa tấu trở nên hấp dẫn, gần gũi hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Qua đó, góp phần nuôi dưỡng tình yêu đối với âm nhạc truyền thống, nâng cao đời sống tinh thần của xã hội và xây dựng ý thức gìn giữ di sản văn hóa dân tộc.
Có thể khẳng định, hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại không chỉ là một loại hình biểu diễn nghệ thuật, mà còn là phương thức bảo tồn và phát triển âm nhạc truyền thống trong thực tiễn đời sống hiện đại. Việc tiếp tục đầu tư cho sáng tác, đào tạo, nghiên cứu và biểu diễn, sẽ tạo tiền đề để nghệ thuật hòa tấu dàn nhạc dân tộc nói chung phát triển bền vững, góp phần khẳng định vị thế của âm nhạc Việt Nam trong tiến trình hội nhập và phát triển văn hóa quốc tế.
4. Kết luận
Hòa tấu dân tộc đương đại ra đời từ những năm 60 của thế kỷ XX, do ảnh hưởng về cấu trúc tác phẩm, ngôn ngữ hòa âm, các thủ pháp sáng tác của các nước phương Tây, đồng thời do nhu cầu đòi hỏi của lịch sử lúc đó nhằm động viên toàn dân, toàn quân vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật hòa tấu dân tộc đương đại tạm thời phân chia thành ba giai đoạn chính, gồm: giai đoạn từ 1960-1980; giai đoạn từ 1980-2000; giai đoạn từ năm 2000 đến nay.
Mặc dù ra đời muộn hơn các loại hình âm nhạc khác, nhưng hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại đã để lại những dấu ấn khá rõ nét, giữ vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy bản sắc âm nhạc dân tộc cổ truyền nhằm tiếp cận với nhiều đối tượng thưởng thức trong và ngoài nước. Với các loại hình hòa tấu dân tộc đương đại khá phong phú, đa dạng, kết hợp vận dụng các ưu điểm của âm nhạc phương Tây như bố trí nhạc cụ theo hình thức tổ, bộ; hòa thanh công năng; tính năng nhạc cụ; âm sắc; âm vực; đối vị… vào dàn nhạc hòa tấu dân tộc đương đại giúp tạo nên hiệu quả mới lạ, truyền cảm hứng và thu hút đông đảo khán giả mọi lứa tuổi.
Đối với phương thức diễn tấu, các nghệ sĩ đã kết hợp giữa kỹ thuật cổ truyền dân tộc với những kỹ thuật hiện đại của các nhạc khí phương Tây, qua đó hình thành nên những màu sắc độc đáo, riêng biệt trong ngôn ngữ hòa thanh, âm sắc, cũng như giá trị nghệ thuật. Tất cả các yếu tố trên đều góp phần khẳng định hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại là định hướng đúng đắn trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, bởi nó giúp quảng bá, lan tỏa bản sắc, giá trị di sản âm nhạc cổ truyền của các tộc người trên đất nước ta.
_____________________
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1998). Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Nghị quyết số 03-NQ/TW).
2. Cồ Huy Hùng. (2025). Bảo tồn, phát huy giá trị âm nhạc truyền thống Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Tạp chí Giáo dục âm nhạc. Số 1.
3. Đặng Hoành Loan. (2002). Âm nhạc truyền thống trong đời sống đương đại. Nhà xuất bản Âm nhạc.
4. Hà Sâm. (2023). Sắc màu bộ gõ trong âm nhạc di sản miền Trung. Tạp chí Nhạc Việt. Số 23.
5. Hồ Thị Hồng Dung. (2018). “Kim” - sự gặp gỡ giữa nhạc mới đương đại và nhạc cổ truyền Việt Nam. Tạp chí Giáo dục âm nhạc. Số 1.
6. Nguyễn Thị Hoa Đăng. (2024). Đổi mới giảng dạy môn hòa tấu tại Khoa Âm nhạc truyền thống, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Tạp chí Giáo dục âm nhạc. Số 1.
7. Xem thêm: Nguyễn Thị Việt Thảo. (2024). Nhạc lễ trong tế đàn Xã Tắc. Nhà xuất bản Thuận Hóa.
8. Nguyễn Thụy Loan. (2015). Sự phát triển của dàn nhạc dân tộc trong âm nhạc Việt Nam hiện đại. Tạp chí Âm nhạc học. Số 4.
9. Viện Âm nhạc. (2002). Hòa tấu dàn nhạc dân tộc đương đại - 5 tập. Nhà xuất bản Âm nhạc.
10. Tô Vũ. (1998). Một số vấn đề về âm nhạc dân tộc Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.
11. Trần Văn Khê. (1997). Âm nhạc truyền thống Việt Nam. Nhà xuất bản Trẻ.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 7/7/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 18/7/2026; Ngày duyệt đăng: 30/7/2026.
TS NGUYỄN THỊ VIỆT THẢO
Nguồn: Tạp chí VHNT số 651, tháng 8/2026