Tiêu chí xác định giá trị các nguồn lực xã hội - nhân văn

Tiêu chí xác định giá trị nguồn nhân lực xã hội - nhân văn

Đây là nội dung quan trọng, quyết định sự thành bại của các hoạt động phụ thuộc hoàn toàn yếu tố con người (nguồn nhân lực). Tiêu chí xác định giá trị gồm có: i) Trình độ học vấn của nguồn nhân lực xã hội - nhân văn, được căn cứ vào quá trình đào tạo - bằng cấp (phổ thông, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, sau tiến sĩ…), căn cứ vào chương trình - ngành nghề được đào tạo phù hợp với công việc thực tế. Ví dụ: nhân sự được đào tạo ngành lịch sử, khảo cổ học… phù hợp với công tác ở bảo tàng, viện nghiên cứu, quản lý di sản; ii) Mức độ hiểu biết: kiến thức chuyên môn được đào tạo, khả năng áp dụng kiến thức để xử lý công việc, kinh nghiệm trong hoạt động chuyên môn, tri thức dân gian; trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình hoặc trình diễn: kỹ năng tạo hình hoặc diễn xuất, năng khiếu tạo hình, diễn xuất, khả năng sáng tạo… Giá trị của nguồn nhân lực chính là tri thức - sự hiểu biết mà mỗi cá nhân đang nắm giữ, những tri thức đó đã đạt tới mức uyên bác, chuyên sâu…; nhân sự làm ra sản phẩm phải đạt tới mức độc đáo, tinh xảo hoặc sản phẩm trình diễn phải đạt đến mức độ là rung động trái tim của khán - thính giả...; iii) Những tri thức - hiểu biết, kỹ năng khác nhằm bổ trợ cho lĩnh vực chuyên môn mà mỗi cá nhân (nguồn nhân lực xã hội - nhân văn) đang sở hữu. Ví dụ như, tri thức về khí tượng thủy văn dân gian, kỹ năng giao tiếp bằng các loại hình ngôn ngữ, kỹ năng nhận biết, khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên (động - thực vật), kiến thức pháp luật…

Vùng châu thổ Bắc Bộ/ sông Hồng là một trong những trung tâm phát triển của cả nước, nên đây cũng là trung tâm đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó có nguồn nhân lực xã hội - nhân văn. Chính vì vậy, việc xác định tiêu chí đánh giá có thể sẽ cần cụ thể hơn, chi tiết hơn với mức độ chuẩn khắt khe hơn hoặc cao hơn. Cụ thể, nguồn nhân lực được đào tạo không chỉ đầy đủ về bằng cấp, mà còn cần xác định được mức độ đạt được trong quá trình đào tạo: xuất sắc, giỏi, khá, trung bình khá, trung bình, yếu, kém, rất kém… Cũng như vậy, cần có thêm tiêu chí về mức độ chịu được áp lực công việc hoặc đòi hỏi đáp ứng nhu cầu công việc đối với nhân lực tham gia làm việc (người làm có thể xử lý khối lượng công việc lớn, trong khoảng thời gian nhất định và không có sai sót, thiếu hụt…). Có thể xác định mức độ theo nhiều công thức hay cách tính khác nhau: Tính mức độ chịu đựng áp lực theo thang điểm (từ 1-100); Tính mức độ chịu đựng áp lực định tính: rất tốt, tốt, khá tốt, khá, trung bình khá, trung bình, yếu, kém (không chịu được áp lực công việc). Từ tư duy - quan điểm đánh giá này, có thể xây dựng các bảng đánh giá cho từng vị trí hoặc nhóm vị trí nhân sự quản lý. Sử dụng bảng đánh giá cho: lãnh đạo quản lý (cấp trưởng đơn vị); lãnh đạo quản lý (cấp phó đơn vị); chuyên viên quản lý hoặc nhân sự chuyên môn. Hoặc đánh giá phân chia theo lứa tuổi (kinh nghiệm quản lý): từ 45-60 tuổi; từ 30-45 tuổi; dưới 30 tuổi.

Tiêu chí xác định giá trị nguồn lực cảnh quan sinh thái nhân văn

Nguồn lực cảnh quan sinh thái tự nhiên (còn gọi là nguồn lực tự nhiên hay tài nguyên thiên nhiên) sẽ không được xếp vào nguồn lực xã hội - nhân văn, bởi nó không gắn với yếu tố con người. Nhưng, nguồn lực sinh thái nhân văn là môi trường tự nhiên - không gian sinh sống của con người. Chính vì vậy, nguồn lực cảnh quan sinh thái nhân văn được xác định giá trị thông qua các tiêu chí sau: Một là, cảnh quan sinh thái: sơn văn, thủy văn, hệ thực vật, động vật đang trong trạng thái nguyên sinh, bán nguyên sinh, nhân tạo hoặc bị phá hủy theo các mức độ (chưa bị tác động, tác động nhưng chưa nghiêm trọng, ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng). Hai là, chất lượng dinh dưỡng của môi trường sinh thái tự nhiên (độ màu mỡ của đất, độ sạch của nước và không khí…) phục vụ cho cuộc sống con người (sản xuất, chất lượng sống). Cụ thể, đối với đất canh tác, mức độ dinh dưỡng xếp hạng như sau: rất tốt, tốt, khá, trung bình khá, trung bình, yếu, kém hoặc mức độ sạch của nước hay không khí, xếp hạng đánh giá theo hai hướng: Rất trong lành, trong lành, ít trong lành; Rất ô nhiễm, ô nhiễm, ô nhiễm ít… Ba là, mức độ trù phú về hệ động vật: lâm sinh, thủy sinh, hải sinh: rất nhiều, nhiều, khá nhiều, ít, rất ít, không có... Bốn là, mức độ đẹp của cảnh quan sinh thái nhân văn: đặc biệt đẹp, rất đẹp, đẹp, khá đẹp, ít đẹp, không đẹp… Giá trị của nguồn lực cảnh quan sinh thái nhân văn được xác định nhiều hạng mục như đề cập ở trên. Đối với vùng châu thổ Bắc Bộ/ sông Hồng, cảnh quan sinh thái nhân văn có những đặc thù riêng, như châu thổ được phù sa của sông Hồng bồi đắp (cần đánh giá mức độ màu mỡ giúp cho phát triển kinh tế nông nghiệp đối với từng vùng); nguồn lợi thủy, hải sinh trù phú… (Lê Bá Thảo, 2001, tr.311-326).

Tiêu chí xác định giá trị nguồn lực văn hóa

Đây là nội dung liên quan đến các hoạt động sống của con người, được thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau như: phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội và các công trình kiến trúc. Nguồn lực văn hóa được xác định thông qua các tiêu chí sau: Tính đặc thù của các phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, các thói quen sinh hoạt (ăn, uống, ở, mặc, đi lại, diễn xướng dân gian)… được đánh giá theo các mức độ: ặc biệt đặc sắc; rất đặc sắc, đặc sắc, ít đặc sắc, không đặc sắc. Quy mô, tính đặc thù của các công trình kiến trúc tâm linh, công cộng, dân dụng, chính trị… được đánh giá theo mức độ như trên hoặc căn cứ theo quy mô, phân hạng/ xếp hạng di tích/ di sản của các cơ quan chức năng đối với các công trình kiến trúc truyền thống: cấp quốc gia đặc biệt, cấp quốc gia, cấp tỉnh/ thành phố, chưa xếp hạng… Có thể diễn giải theo cách khác, nguồn lực văn hóa gồm các loại hình sau: i) Nguồn lực văn hóa phi vật thể; ii) Nguồn lực văn hóa vật thể; iii) Nguồn lực văn hóa khác. Ngoài việc phân cấp như kể trên, thì một số nguồn lực văn hóa đặc biệt quan trọng, đó là những di sản được UNESCO công nhận/ ghi danh là tài sản của nhân loại. Bên cạnh đó, các nguồn lực văn hóa này được xác định cần làm rõ khả năng đưa vào ứng dụng khai thác, tạo ra nguồn lợi vật chất, đáp ứng phát triển kinh tế, xã hội. Đây cũng là tiêu chí quan trọng để xác định giá trị của loại hình nguồn lực này trong nguồn lực xã hội và nhân văn. Ví dụ, lịch sử của Việt Nam nói chung và vùng châu thổ sông Hồng nói riêng được mang vào khai thác trong việc phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch sẽ tạo thành hệ giá trị. Việc đánh giá sẽ dựa vào một số yếu tố, như: bề dày quá khứ, sự kiện nổi bật, nhân vật lẫy lừng, chiến công hay kiến tạo vĩ đại. Mức độ cho từng nội dung sẽ được tính theo các cách sau: Đánh giá định lượng (theo thang điểm hoặc khối lượng: số năm, số sự kiện nổi bật, số nhân vật lẫy lừng hoặc số lượng chiến công hay sản phẩm kiến tạo); Đánh giá định tính (theo các hạng mục đã đề cập ở các phần trên). Riêng đối với vùng châu thổ Bắc Bộ/ sông Hồng, cũng không nằm ngoài việc xác định các tiêu chí này. Tuy nhiên, do tính đặc thù là cái nôi - trung tâm văn hóa của người Việt (tộc người chủ thể của văn hóa Việt Nam), nên hạng mục này cần xác định cụ thể, chi tiết các giá trị nguồn lực thông qua các hoạt động đánh giá mức độ.

Tất cả các nội dung hạng mục được xác định để đánh giá theo từng mức độ sẽ được cộng tổng, chia trung bình và tham chiếu với cách tính điểm tương đương hoặc chỉ số tham chiếu (được các cơ quan nhà nước ban hành). Từ đó, có thể tính được các mức độ khác nhau của các loại hình nguồn lực và là căn cứ để các nhà quản lý xây dựng chính sách hoặc những nhà sáng tạo, ứng dụng trong các hoạt động chuyên môn. Trên đây là những gợi ý có tính chất ban đầu, để chúng ta có thể xác định tiêu chí đánh giá, nội dung đánh giá, cách đánh giá, mức độ (định tính, định lượng, tính điểm) giá trị khác nhau của các nguồn lực. Tiến tới, có thể lượng hóa mức độ, lượng hóa các nguồn lực khác nhau, đặc biệt là nguồn lực xã hội - nhân văn. Việc lượng hóa, đánh giá mức độ… đối các nguồn lực xã hội - nhân văn là rất khó khăn, bởi tính trừu tượng của nó. Hơn nữa, đã trải qua một thời gian dài, chúng ta chỉ quen với việc định tính các nội dung thuộc nguồn lực xã hội - nhân văn, đây là điểm hạn chế cần khắc phục.

Trên cơ sở phân tích các nhóm nguồn lực xã hội - nhân văn và những tiêu chí thành phần đã trình bày ở trên, có thể nhận thấy việc xác định giá trị của từng loại nguồn lực không nên tiến hành theo từng tiêu chí rời rạc mà cần được tiếp cận theo một khung đánh giá tổng hợp. Khung này có vai trò hệ thống hóa các nhóm nguồn lực, xác định các tiêu chí cốt lõi, chỉ báo cơ bản và phương pháp đánh giá tương ứng, tạo cơ sở thống nhất cho việc nghiên cứu, so sánh và lượng hóa giá trị nguồn lực giữa các địa phương trong vùng châu thổ sông Hồng. Do phạm vi của bài viết chỉ dừng ở việc đề xuất định hướng nghiên cứu, tác giả chưa xây dựng bộ tiêu chí hoàn chỉnh mà chỉ gợi mở một khung tiêu chí tổng hợp làm nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo.

bieu Dinh duc tien   luu thi dung.jpg

Bảng tổng hợp trên chỉ mang tính chất định hướng và gợi mở, nhằm hệ thống hóa những nhóm tiêu chí cơ bản cần xem xét khi xác định giá trị nguồn lực xã hội - nhân văn vùng châu thổ sông Hồng. Trong thực tiễn nghiên cứu, mỗi nhóm nguồn lực cần tiếp tục được cụ thể hóa thành các bộ chỉ báo chi tiết, xác định thang đo, trọng số và phương pháp lượng hóa phù hợp với từng đối tượng, phạm vi và mục tiêu đánh giá. Nói cách khác, bảng tổng hợp này không thay thế bộ công cụ đánh giá hoàn chỉnh mà là cơ sở để xây dựng các bảng đánh giá chuyên sâu đối với từng nhóm nguồn lực, đồng thời tạo tiền đề cho việc chuẩn hóa quy trình đánh giá theo hướng kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng. Trên cơ sở đó, kết quả đánh giá không chỉ phản ánh mức độ hiện hữu của từng nguồn lực mà còn góp phần xác định giá trị, hiệu quả khai thác và khả năng phát huy nguồn lực xã hội - nhân văn phục vụ phát triển bền vững vùng châu thổ sông Hồng trong giai đoạn mới.

4. Kết luận

Việc xác định - xây dựng các tiêu chí xác định giá trị nguồn lực xã hội - nhân văn cùng châu thổ sông Hồng, được thông qua các hạng mục, nội dung được đánh giá theo các cách thức (định lượng, định tính...), mức độ khác nhau. Đây là những nghiên cứu có tính chất gợi mở, ban đầu, để tiến tới hoàn thiện các tiêu chí xác định và bộ công cụ đánh giá mức độ của các nguồn lực nói chung và nguồn lực xã hội - nhân văn nói riêng. Đây cũng là những căn cứ khoa học ban đầu, để có thể xây dựng các công cụ, thang đo, bộ đánh giá mức độ hiệu quả hay giá trị cho từng hạng mục, nội dung công việc, nhóm công việc hoặc chi tiết bộ phần của từng nguồn lực. Với bộ tiêu chí, hệ thống công cụ như vậy, kết quả thực chứng sẽ là cơ sở dữ liệu đầu vào cho các nhà nghiên cứu và nhà hoạch định chính sách, nhà làm luật tham khảo trước khi đưa ra quyết định. Đây là công việc hết sức cần thiết cho công tác quản lý, quản trị các ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau, góp phần vào phát triển kinh tế, xã hội của đất nước một cách bền vững trong giai đoạn/ bối cảnh đương đại (1).

__________________________

1. Bài viết là sản phẩm khoa học của Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số: KX03.14/21-30.

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Hoài Sơn, Nguyễn Hồ Phong. (2020). Quản trị dịch vụ văn hóa. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bùi Văn Nhơn. (2002). Quản lý nguồn nhân lực xã hội. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

3. Xem thêm: Đinh Đức Tiến. (2025). Kinh nghiệm phát huy nguồn lực xã hội nhân văn ở Việt Nam, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia về Phát huy giá trị nguồn lực xã hội - nhân văn phục vụ phát triển tỉnh Lào Cai trở thành cực tăng trưởng và trung tâm kết nối khu vực đến 2030, tầm nhìn 2050. Nhà xuất bản Công an Nhân dân.

4. Lê Bá Thảo. (2001). Việt Nam - lãnh thổ và các vùng địa lý. Nhà xuất bản Thế giới.

5. Trần Quốc Vượng. (1998). Việt Nam cái nhìn địa văn hóa. Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc - Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 2/6/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 1/7/2026; Ngày duyệt đăng: 15/7/2026.

TS ĐINH ĐỨC TIẾN – Ths LƯU THỊ DUNG

Nguồn: Tạp chí VHNT số 651, tháng 8/2026