Từ khóa: nguồn lực; xã hội - nhân văn; châu thổ sông Hồng; tiêu chí đánh giá.
Abstract: The Red River Delta (Northern Vietnam) is the central region of Northern Vietnam in particular and Vietnam in general. This region comprises densely populated provinces and cities with developed economies, and is also the political, cultural, and social center of the country. Therefore, in the development strategy of the Red River Delta, identifying (value, classification, evaluation, etc.) resources (including socio-human resources) is extremely necessary. In particular, classifying and establishing criteria for determining the value and evaluating socio-human resources in the current context is crucial. If this research is applied and implemented, the scientific results will provide important data/ facts to assist managers and policymakers in socio-economic development in the contemporary context.
Keywords: resources; humanities; Red River Delta; evaluation criteria.

1. Đặt vấn đề
Nguồn lực xã hội - nhân văn là một trong bốn nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia, cùng với nguồn lực con người, nguồn lực tự nhiên và nguồn lực kỹ thuật - công nghệ số, được sử dụng để phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền lãnh thổ. Nguồn lực con người bao gồm dân số, tri thức và đội ngũ nhân lực; nguồn lực tự nhiên gồm lãnh thổ, tài nguyên, khí hậu; nguồn lực xã hội - nhân văn gồm hệ thống chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, văn hóa (Đinh Đức Tiến, 2025, tr.260-262); còn nguồn lực kỹ thuật - công nghệ số bao gồm hạ tầng kỹ thuật, dữ liệu số, phần mềm và công nghệ. Việc phân loại này giúp xác định vị trí, vai trò của từng nguồn lực, dù trên thực tế chúng luôn gắn bó, tác động và bổ trợ lẫn nhau.
Châu thổ sông Hồng (đồng bằng Bắc Bộ) là vùng đất được bồi đắp bởi hệ thống sông Hồng - Thái Bình, có hình tam giác với đáy kéo dài từ Quảng Yên (Quảng Ninh) đến cửa Thần Phù (Ninh Bình - Thanh Hóa), đỉnh thứ nhất là ngã ba Bạch Hạc (Phú Thọ), đỉnh thứ hai là Cổ Loa (Hà Nội), đỉnh thứ ba là Phố Hiến (Hưng Yên) (Trần Quốc Vượng, 1998, tr.30). Theo địa giới hành chính hiện nay, châu thổ sông Hồng gồm Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình và Hưng Yên, một phần Quảng Ninh, Phú Thọ, Bắc Ninh (sau sáp nhập). Đây là trung tâm của Bắc Bộ và cả nước, gắn với lịch sử hình thành của cộng đồng người Việt/ Kinh, đồng thời giữ vai trò trung tâm về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp của khoa học quản lý, được dùng để phân loại các nguồn lực nói chung và nguồn lực xã hội - nhân văn nói riêng, phân tích quá trình thực hiện chính sách trong quản lý, phát triển kinh tế, xã hội; phương pháp của văn hóa học, được dùng để chỉ ra các nguồn lực văn hóa (nằm trong nguồn lực xã hội - nhân văn), từ đó chỉ ra việc áp dụng vào phát triển kinh tế, xã hội; phương pháp nghiên cứu đánh giá, được dùng để xây dựng các bộ công cụ đánh giá (đo lường/ lượng hóa) tính hiệu quả nguồn lực xã hội - nhân văn đối với phát triển kinh tế, xã hội.
3. Kết quả và thảo luận
Xác định một số nguồn lực xã hội - nhân văn ở Việt Nam
Theo quan điểm cá nhân của tác giả, ở Việt Nam, nguồn lực xã hội - nhân văn là sự tích hợp hài hòa giữa các nguồn lực xã hội với tự nhiên và con người. Trong đó, nguồn lực xã hội - nhân văn là một trong những loại hình cơ bản của nguồn lực xã hội, lấy con người và các sinh hoạt của con người làm trung tâm. Do đó, nguồn lực xã hội - nhân văn gồm có những yếu tố sau:
Nguồn nhân lực xã hội - nhân văn: bao gồm tổng dân số của một quốc gia. Cụ thể, các cộng đồng cư dân, tộc người sinh sống trên những không gian văn hóa (vùng miền), địa phương (tỉnh, thành phố) khác nhau, thậm chí ở các đơn vị hành chính cụ thể ở cấp xã/ phường - thôn/ làng hiện nay (Bùi Văn Nhơn, 2002, tr.69-70). Đội ngũ trí thức hay nhân sự có trình độ học vấn, tri thức chuyên môn (tri thức được đào tạo, tri thức/ kinh nghiệm dân gian, tri thức thực hành…) trong các vấn đề khác nhau: hiểu biết về tự nhiên, hiểu biết về nghề nghiệp, hiểu biết về dược liệu - chữa bệnh, hiểu biết về quản lý, hiểu biết về trật tự trị an… Cụ thể, những cá nhân được đào tạo là chuyên gia trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn; những cá nhân nắm giữ tri thức dân gian, bí quyết nghề nghiệp hoặc những kinh nghiệm đặc biệt liên quan đến tổ chức, quản lý xã hội, trật tự trị an. Không những thế, nguồn nhân lực này còn nắm giữ những tri thức hiểu biết về tự nhiên (núi non, sông ngòi, thổ nhưỡng, vùng biển, các dòng chảy, các loại lâm sản - thảo mộc, các loại động vật, khí hậu - thời tiết…). Bên cạnh đó, nguồn nhân lực này còn là những cá nhân có khả năng sáng tạo ra những sản phẩm mới trong các lĩnh vực nghệ thuật tạo hình, trình diễn… (Bùi Hoài Sơn, Nguyễn Hồ Phong, 2020, tr.101-103).
Nguồn lực về cảnh quan sinh thái nhân văn: đó là hệ cảnh quan tự nhiên, nhưng gắn với không gian sinh sống của mỗi cộng đồng cư dân hoặc những nhóm cư dân nhất định. Cảnh quan sinh thái nhân văn có đặc điểm khác với cảnh quan sinh thái tự nhiên là một cái gắn với con người, còn cái kia không gắn với con người. Loại hình cảnh quan sinh thái nhân văn này gồm có: địa hình: núi non - sông ngòi - biển đảo - đất đai… là không gian cư trú của con người - nhóm cộng đồng cư dân cụ thể; thổ nhưỡng, hải/ thủy lưu, các nguồn dược liệu tự nhiên, điều kiện về khí hậu… là môi trường sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi, khai thác nguồn lợi tự nhiên…) của con người. Đặc điểm của nguồn lực cảnh quan sinh thái nhân văn này, là không gian tự nhiên mà con người phải thích nghi, định hình tri thức - lối sống - cách ứng xử với từng loại hình cảnh quan cụ thể. Ví dụ, cảnh quan vùng châu thổ sông Hồng/ Bắc Bộ sẽ được chia thành: Thượng châu thổ; Trung châu thổ; Hạ châu thổ - định hình ba lối ứng xử hoặc tri thức dân gian khác nhau: i) Lối ứng xử châu thổ núi: chất phác, can trường, cởi mở, ½ hướng ngoại (½ núi rừng + ½ châu thổ: nông nghiệp + bán lâm nghiệp); ii) Lối ứng xử châu thổ đồng bằng: khôn ngoan, khép kín, tiết kiệm, hướng nội (100% châu thổ: nông nghiệp); iii) Lối ứng xử châu thổ biển: dũng cảm, hào sảng, hướng ngoại (½ châu thổ + ½ biển đảo: nông nghiệp + ngư nghiệp). Các đặc điểm trên được đúc rút từ kết quả nghiên cứu của Trần Quốc Vượng, khi ông “bắt mạch” địa lý mà “chẩn đoán” thành tính cách con người ở mỗi vùng miền (Trần Quốc Vượng, 1998).
Nguồn lực về văn hóa: còn được hiểu là nguồn tài nguyên văn hóa, tài sản văn hóa, gồm có các cổ tục - phong tục tập quán, đời sống tôn giáo tín ngưỡng, các thói quen sinh hoạt trong ăn uống, ở, mặc, đi lại; các công trình kiến trúc, lễ hội tâm linh, các tác phẩm điêu khắc, nghệ thuật; nghệ thuật trình diễn/ diễn xướng… Trong đó, ở Việt Nam rất đa dạng và phong phú về nguồn lực, về văn hóa tộc người, văn hóa vùng miền, văn hóa địa phương (tỉnh/ thành phố) (Đinh Đức Tiến, 2025, tr.261). Nguồn lực văn hóa hay còn gọi là nguồn tài nguyên, tài sản văn hóa và có thể đưa vào khai thác, ứng dụng hoặc sáng tạo để phát triển kinh tế, xã hội. Đặc biệt là, trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội cho quốc gia hay địa phương, thì nguồn tài nguyên văn hóa sẽ ít tác động đến môi trường sinh thái hơn là việc khai thác tài nguyên tự nhiên. Tuy nhiên, việc nhận diện, đánh giá trữ lượng của nguồn tài nguyên văn hóa cần có nhận thức đúng đắn và thông qua các nghiên cứu khoa học cơ bản.
Nguồn lực về kỹ thuật và công nghệ số: là hạ tầng thiết bị kỹ thuật về công nghệ số như: internet, thiết bị kỹ thuật, kho dữ liệu số (Big data), dữ liệu số thông minh (thông tin đã được sàng lọc), phần mềm, công nghệ thực hiện nội dung số và các thiết bị hỗ trợ cho việc số hóa, truyền tải dữ liệu, bảo mật, bản quyền… Về cơ bản nguồn lực này là một trong bốn nguồn lực nói chung của một quốc gia và dường như nó không liên quan đến nguồn lực xã hội - nhân văn. Tuy nhiên, nguồn lực này là công cụ, phương tiện quan trọng để truyền tải các nội dung của nguồn lực xã hội - nhân văn. Thông qua các dữ liệu về xã hội - nhân văn thu thập lên hệ thống, được sản xuất và phát hành trên các nền tảng kỹ thuật số, mang mục đích: truyền tải, quảng bá, hình thành các giá trị: giáo dục, nhận thức, cố kết cộng đồng, nghệ thuật, lịch sử, kinh tế, giải trí…