
Khi làng quê hóa thành pháo đài
Làng Văn La hôm nay đã khoác lên mình diện mạo thanh bình. Những cánh đồng trải dài, những ngôi làng nép mình bên dòng sông, con đường mới mở nối các vùng quê… Ít ai hình dung nơi đây từng là một trong những địa bàn hứng chịu bom đạn ác liệt trong những năm chiến tranh.
Địa đạo Văn La - công trình phòng tránh bom đạn được người dân địa phương xây dựng trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Không đồ sộ, không được tạo nên bởi những phương tiện hiện đại, địa đạo hình thành từ những nhát cuốc, xẻng và đôi bàn tay của người dân. Nhưng chính sự giản dị ấy lại làm nên giá trị đặc biệt của công trình.
Ông Trần Văn Chường, người nghiên cứu lịch sử địa phương cho biết, đầu năm 1966, trước tình hình địch tăng cường đánh phá khu vực Quán Hàu và các vùng phụ cận nhằm cắt đứt tuyến giao thông, chi viện vào chiến trường, huyện Quảng Ninh (bấy giờ) chủ trương xây dựng làng chiến đấu, củng cố thế trận phòng không nhân dân, tổ chức sơ tán người già, trẻ em khỏi những khu vực trọng điểm.
Ở Lương Ninh khi ấy, tinh thần “mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi thôn xóm là một pháo đài” lên cao và được cụ thể hóa bằng những giao thông hào chạy quanh làng, những căn hầm trú ẩn dưới mỗi mái nhà cùng một hệ thống địa đạo kiên cố trong lòng đất.
Ban đầu, những hầm trú ẩn trong nhà còn có thể giúp người dân tránh bom. Nhưng khi bom đạn ngày càng dữ dội, những căn hầm nhỏ không còn đủ an toàn. Một ý tưởng táo bạo được đưa ra: Đào một địa đạo lớn, sâu trong lòng đất để bảo vệ người dân, đồng thời duy trì hoạt động sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến trường.
Địa điểm được lựa chọn là một khu đồi không có cây lớn, chủ yếu trồng hoa màu. Phía trước là đồng ruộng, phía sau gắn với khu dân cư và mạng lưới giao thông hào. Cách lựa chọn vị trí ấy cho thấy sự tính toán kỹ lưỡng của người dân: Địa đạo vừa kín đáo, vừa thuận tiện để người đang làm đồng có thể nhanh chóng tìm nơi trú ẩn khi máy bay địch xuất hiện.

360 ngày đào đất, dựng “thành đồng”
Giữa tháng 6/1966, công việc đào địa đạo Văn La bắt đầu. Một trung đội dân quân gồm 36 người được lựa chọn từ các đội sản xuất của xã Lương Ninh đảm nhiệm công việc. Lực lượng được chia thành ba tiểu đội thay phiên nhau đào. Trong đó có một tiểu đội nữ do bà Lê Thị Chĩu làm tiểu đội trưởng.
Công việc chủ yếu diễn ra vào ban đêm để bảo đảm bí mật. Mỗi ca đào thường chỉ có ba người. Hai người trực tiếp đào đất, người còn lại chuyển đất ra ngoài. Khi đường hầm ngày một ăn sâu, đất được đưa lên bằng những chiếc xe cút kít bằng gỗ rồi đổ vào những vị trí đã tính toán từ trước để không làm lộ dấu vết công trình.
Không có máy móc, không có thiết bị chiếu sáng chuyên dụng. Trong lòng đất, những ngọn đèn dầu ma dút là nguồn sáng duy nhất. Khói đèn quẩn trong đường hầm khiến không khí ngột ngạt, cay xè mắt mũi. Mỗi nhát cuốc vì thế không chỉ là công việc nặng nhọc mà còn là một thử thách về sức chịu đựng.
Khó khăn là vậy nhưng người đào địa đạo không nhụt chí. Trong điều kiện không có phương tiện định vị, người dân Văn La đã nghĩ ra cách dùng cọc ba tiêu để xác định hướng. Cứ đào được vài mét, họ lại kiểm tra độ thẳng của đường hầm, nếu phát hiện lệch thì điều chỉnh ngay từ hai bên thành. Cách làm thủ công nhưng hiệu quả, giúp các hướng đào cuối cùng gặp nhau với sai số chỉ vài phân.
Địa chất cứng khiến địa đạo không thể đạt hoàn toàn kích thước như thiết kế ban đầu. Đường hầm sâu khoảng 5m, rộng khoảng 1m, cao 1,3m, trần hình vòm cung để tăng khả năng chịu lực. Địa đạo Văn La có dạng chữ L với ba cửa ra vào, các cửa cách nhau từ 50 đến 100m, được bố trí kín đáo nhằm hạn chế thiệt hại nếu một khu vực bị bom đánh trúng.
Sau hơn 360 ngày đào đắp liên tục, địa đạo Văn La hoàn thành. Một công trình dài khoảng 150m đã hình thành dưới lòng đất. Với những con người chỉ có cuốc, xẻng và sức lao động, đó thực sự là một kỳ công.

Nơi giữ nhịp sống giữa lòng đất
Khi đường hầm mới đào được khoảng 10m, người dân đã bắt đầu xuống ngủ ban đêm. Những ngày bom đạn ác liệt, người già, trẻ nhỏ và dân quân tìm đến đây trú ẩn. Đến khi hoàn thành, địa đạo có thể chứa khoảng 300 người.
Trong không gian chật hẹp dưới lòng đất, sự sống hồi sinh và tiếp diễn. Có nơi dùng để hội họp, cất giữ lương thực, vũ khí; có vị trí được kê ván gỗ làm chỗ cho người bị thương, bệnh nhân ở các cơ sở y tế lân cận tránh bom. Những giao thông hào nối từ các khu dân cư về địa đạo trở thành những “mạch máu” giúp người dân nhanh chóng rút xuống lòng đất khi máy bay địch bất ngờ đánh phá.
Không chỉ người dân Văn La đến đây tránh trú bom đạn giặc Mỹ. Lực lượng bảo vệ bến phà Quán Hàu khi bị thương cũng được đưa về địa đạo. Những chiến sĩ lái xe vận chuyển hàng hóa vào chiến trường miền Nam, khi gặp máy bay địch hoặc pháo kích từ biển, cũng tìm đến đây trú ẩn. Trên mặt đất, bom đạn có thể cày xới ruộng đồng, phá hủy làng mạc nhưng dưới lòng đất, một làng quê vẫn tồn tại, bảo đảm sản xuất, che chở con người và góp phần giữ cho tuyến chi viện không bị đứt đoạn.
Địa đạo Văn La vì thế không đơn thuần là một công trình quân sự. Đó là biểu hiện sinh động của thế trận chiến tranh nhân dân, nơi mỗi người dân đều góp sức tạo nên một “pháo đài” bảo vệ quê hương.
Chứng tích của lòng dân
Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Trên mặt đất làng Văn La hôm nay, cuộc sống đã hồi sinh. Những con đường mới mở, những ngôi nhà mới mọc lên, cánh đồng vẫn xanh theo mùa vụ. Nhưng sâu dưới lòng đất, địa đạo vẫn còn đó. Cấu trúc cơ bản của đường hầm, hệ thống cửa ra vào và những đoạn giao thông hào là những dấu tích giúp thế hệ hôm nay hình dung phần nào về cuộc sống của người dân trong những năm tháng chiến tranh.
Địa đạo Văn La được UBND tỉnh Quảng Bình (trước đây) công nhận là Di tích lịch sử cấp tỉnh theo Quyết định số 65 ngày 28/12/2005. Cùng với Bến phà Quán Hàu, Long Đại và nhiều di tích khác, Địa đạo Văn La trở thành một địa chỉ để các thế hệ tìm về, tri ân những người đã sống, chiến đấu và hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Có thể, với thời gian, những dấu tích chiến tranh sẽ dần phai mờ. Những người từng trực tiếp đào địa đạo cũng ngày một ít đi. Nhưng giá trị của Văn La không chỉ nằm ở những mét đường hầm còn lại. Điều đáng nhớ hơn cả là câu chuyện về những con người bình dị đã biết biến lòng đất thành nơi che chở sự sống; biến một làng quê thành pháo đài; biến khó khăn, thiếu thốn thành động lực sáng tạo và biến tình yêu quê hương thành sức mạnh vượt qua bom đạn.
Đứng bên Địa đạo Văn La hôm nay, chúng tôi hình dung tiếng cuốc vang lên trong lòng đất năm xưa thể hiện ý chí của người dân tuyến lửa. Từ đôi tay và khối óc cùng với lòng căm thù giặc, người dân Văn La đã xây dựng nên “pháo đài trong lòng đất” để bảo vệ từng người dân, từng mái nhà… trong khói lửa chiến tranh.
Bài và ảnh: TÂN BÌNH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 652, tháng 8/2026