
Niềm tin
Louis Aragon (1897-1982) là một nhà thơ Pháp nổi tiếng với sự nghiệp hoạt động sôi nổi, không chỉ trong thi ca mà còn trong cuộc đấu tranh vì hạnh phúc tự do, công bằng, bác ái của nhân dân Pháp. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp năm 1927 như một lời xác quyết về lý tưởng của cuộc đời mình - dấn thân vì sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản. Ông đã viết nên vần thơ dạt dào cảm xúc: “Đảng đã cho tôi màu sắc nước non nhà”.
Tự nhiên tôi, lại muốn liên tưởng tới mùa Xuân vì đó là thời điểm đánh dấu sự thay đổi của sắc màu của vũ trụ, của thiên nhiên. Nước non quê hương cũng bừng sáng với cỏ cây, hoa lá, rực rỡ dưới ánh nắng mặt trời.
Triết học phương Đông cho rằng: Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu thu, Đông tàng. Nghĩa là mùa Xuân sẽ bắt đầu hay khởi thủy một chu kỳ phát triển mới của vạn vật, với sinh lực mới. Nếu ai tinh ý một chút thì sẽ thấy rằng, Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tiến hành vào mùa Xuân năm 1930 - thời điểm tương tự như Đại hội Đảng lần thứ XIV vừa rồi. Cả hai sự kiện đều có ý nghĩa vô cùng quan trọng và lý thú vì nó bắt đầu kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc và kỷ nguyên “vươn mình” của dân tộc.
Triết học Mác-xít cũng nhấn mạnh về mối quan hệ biện chứng giữa Lượng và Chất. Trong quá trình phát triển liên tục, khi “Lượng” dần dần tích lũy thì đến một thời điểm nào đó, vật hay sự vật sẽ chuyển hóa về Chất để tạo ra một trạng thái mới với đặc tính mới. Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã phát động công cuộc Đổi mới toàn diện mà trước hết và quan trọng là đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước, là tiền đề để chúng ta tiến hành xây dựng, hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Rõ ràng là, nó đã tuyên ngôn về sự chấm dứt của mô hình phát triển quan liêu bao cấp, bảo thủ trì trệ đã không còn phù hợp để bắt đầu cho giai đoạn “sang trang” mới trong lịch sử dân tộc. Thực tế đã chứng minh rằng công cuộc Đổi mới là một bước ngoặt tất yếu, xuất phát từ đòi hỏi của hoàn cảnh khách quan, và đã đem lại một diện mạo mới cho đất nước. Chúng ta đã ra khỏi danh sách các nước chậm phát triển để đàng hoàng, tự tin bước vào tốp các nước đang phát triển!
Từ đó đến nay, lịch sử dân tộc đã trải một nhịp cầu dài 40 năm (1986-2026) với bao đổi thay ngoạn mục. Tuy nhiên, theo phép biện chứng, đó chính là quãng thời gian cần thiết để công cuộc Đổi mới tích lũy dần dần các điều kiện làm tiền đề cho bước nhảy vọt tiếp sau: Sự vươn mình của dân tộc để đạt được mục tiêu mà Đảng đã đề ra: phấn đấu để Việt Nam trở thành một nước phát triển vào năm 2045 - khi chúng ta kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập nước.
Thật không khó nhận ra rằng, Đại hội Đảng lần thứ XIV sẽ đóng một dấu son trên trang mới của lịch sử Đảng và câu chuyện kể về hành trình giữ nước và xây dựng đất nước của dân tộc ta. Đó là một đại hội Đảng vô cùng đặc biệt thậm chí ngay cả khi nó đang trong quá trình chuẩn bị.
Gần chỗ tôi ở, có mấy ông già hay đánh cờ tướng hằng ngày. Như một lẽ tự nhiên, sau khi kết thúc cuộc chơi thế nào họ cũng phải bàn luận thời sự - trong đó có Đại hội Đảng lần thứ XIV sắp được tiến hành - cùng với các bình luận và ý kiến cá nhân. Lắng nghe chuyện của các ông, tôi có thể bắt mạch được cảm xúc của xã hội ta nói chung: Đó là sự pha trộn giữa hào hứng vì công cuộc sắp xếp lại giang sơn và sự hồi hộp, chờ mong kết quả về giai đoạn đổi mới ở tầm cao hơn - chuyển biến về Chất so với thời kỳ Đổi mới. Có thể nói, tuyệt đại ý kiến là ủng hộ chủ trương, hướng đi trong đường lối của Đảng. Tâm trạng chung là mong đợi một cách lạc quan.
Đại hội Đảng XIV đã thành công tốt đẹp, đúng theo chương trình nghị sự đề ra. Khánh tiết tại hội trường được tiết giảm, trang trí giản dị, không gian trang nghiêm, thể hiện rõ tinh thần tập trung bàn thảo và quyết định những chiến lược mới nhằm phát triển đất nước một cách thiết thực, hiệu quả, đúng với chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm. Đồng thời, nội dung các báo cáo được tích hợp một cách hệ thống vào văn kiện theo hướng ngắn gọn, dễ đọc, dễ nhớ, tạo thuận lợi cho việc triển khai, đưa nghị quyết của Đại hội vào đời sống và từng bước biến thành hiện thực. Qua đó, tác động của các chủ trương, chính sách đối với đời sống xã hội được thể hiện rõ nét hơn. Đây có thể xem là một điểm cộng đáng ghi nhận của Đại hội Đảng lần này.
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ chiến lược cấp cao do Đại hội lựa chọn quy tụ những gương mặt ưu tú của Đảng, nhiều cán bộ trẻ tham gia Trung ương thuộc thế hệ sinh vào thập niên 1970-1980, mang lại luồng sinh khí mới cho bộ tham mưu cao nhất của Đảng. Danh sách các Ủy viên Bộ Chính trị và Ủy viên Trung ương Đảng cho thấy sức bật mạnh mẽ, tiềm năng phát triển, tư duy đổi mới và tinh thần hành động quyết liệt.
Tuy nhiên, theo truyền thống, sự đổi mới ấy vẫn gắn liền với tính kế thừa trong các thế hệ lãnh đạo nhằm bảo đảm sự nhất quán của đường lối phát triển đất nước - một quá trình đã được khởi động từ trước Đại hội và thể hiện rõ qua cuộc “sắp xếp lại giang sơn”. Kế thừa là truyền thống tốt đẹp của Đảng ta, khi các thế hệ cùng chung vai sát cánh, chia sẻ lý tưởng, mục tiêu chung và truyền lại cho nhau những kinh nghiệm lãnh đạo quý báu.

Đất nước sẽ phát triển ra sao?
Trong công việc đối ngoại của mình, tôi thường xuyên được các bạn bè quốc tế đặt câu hỏi: “Việt Nam sẽ đi về đâu?”, hay “Vì sao Việt Nam không sao chép các mô hình phát triển của châu Âu, châu Mỹ hoặc các nước Đông Nam Á để sớm trở thành một “con rồng mới” của châu Á?”
Tôi thường nhã nhặn trả lời, trước hết xin cảm ơn tình cảm và sự quan tâm mà các bạn dành cho đất nước và con người Việt Nam. Tuy nhiên, tôi cũng chia sẻ để các bạn hiểu rằng, mỗi quốc gia, rộng hơn là mỗi dân tộc, đều có những đặc thù riêng, được hình thành và quy định bởi vị trí địa lý, bản sắc văn hóa, tâm lý dân tộc, cũng như bởi chính lịch sử xây dựng và phát triển của mình. Chính sự đa dạng đó đã tạo nên một thế giới phong phú, như một vườn hoa xuân rực rỡ với muôn sắc hoa khác nhau.
Việt Nam có hoàn cảnh lịch sử riêng, và thực tiễn phát triển cho thấy chúng tôi chỉ có thể học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình phát triển của các nước, chứ không thể áp dụng nguyên vẹn vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, bởi sẽ không có một mô hình nào hoàn toàn phù hợp.
Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải lựa chọn cho mình một con đường đi riêng, một mô hình phát triển phù hợp, thoát khỏi tư duy quán tính và những cách tiếp cận đã lỗi thời trong bối cảnh thế giới đang thay đổi sâu sắc. Thế giới hiện nay đang trải qua những biến động mạnh mẽ dưới tác động của số hóa, của trí tuệ nhân tạo và những tiến bộ nhanh chóng của khoa học - công nghệ. Hơn bao giờ hết, các quốc gia, trong đó có Việt Nam, cần chủ động thích ứng với xu hướng phát triển tất yếu này.
Hội nhập và bắt nhịp với những xu thế đó chính là con đường đi riêng của Việt Nam. Cá nhân tôi đặc biệt tâm đắc với việc Đại hội Đảng lần thứ XIV đã nhấn mạnh định hướng chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế sang kinh tế số. Chỉ có như vậy, Việt Nam mới có thể không lỡ nhịp thời đại, không bị bỏ lại phía sau, và vững vàng, tự tin tiến về phía trước, từng bước trở thành một thành viên của nhóm các nước phát triển trong tương lai không xa.

Mùa xuân của hi vọng
Đại hội Đảng lần thứ XIV đã đề ra những định hướng quan trọng cho sự phát triển của đất nước, trong đó có mô hình phát triển kinh tế mà Việt Nam hướng tới là kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Trong bối cảnh thế giới, trong đó có Việt Nam, đang phải đối mặt với biến đổi khí hậu và ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, sự tồn tại của loài người và của Trái đất trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Nếu con người tiếp tục khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách thái quá, thiếu hợp lý, tàn phá môi trường sống, đặc biệt là hệ thống cây xanh - “lá phổi” cung cấp ô-xy cho sự sống - thì những hệ lụy sẽ ngày càng nặng nề. Ngay cả nguồn thực phẩm và nước uống hằng ngày của chúng ta cũng đang bị ô nhiễm, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Trước thực trạng đó, câu hỏi đặt ra là chúng ta phải hành động như thế nào. Theo tôi, nhiều nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách đã thống nhất rằng cần áp dụng đồng bộ các giải pháp nhằm hạn chế khai thác tài nguyên thiên nhiên, đồng thời khôi phục và bảo vệ môi trường xanh, sạch. Nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn - dựa trên những thành tựu tiên tiến của khoa học và công nghệ - có tiềm năng lớn để giải quyết những thách thức này, đồng thời bảo đảm cho các thế hệ mai sau được hưởng một cuộc sống hạnh phúc, thịnh vượng, không chỉ đầy đủ về vật chất mà còn khỏe mạnh về thể chất và tinh thần. Đó chính là mục tiêu tối thượng của mô hình kinh tế xanh, kinh tế số mà Việt Nam đang hướng tới. Hy vọng rằng, mô hình phát triển ấy sẽ mang lại một màu xanh bền vững cho Trái đất của chúng ta.
Khi mùa Xuân đến, sắc xanh không chỉ đem lại sức sống mới cho thiên nhiên mà còn khơi dậy niềm hy vọng trong mỗi con người về một năm mới với những sáng tạo mới và những thành công mới. Vì thế, không quá lời khi nói rằng màu xanh chính là màu của hy vọng, làm rạng rỡ non sông, đất nước.
Năm 1285, sau khi đánh bại quân Nguyên lần thứ hai, Vua Trần Nhân Tông đã nhìn thấy hai con ngựa đá ở Chiêu Lăng bị lấm bùn và xúc động cảm tác hai câu thơ:
“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”
(Vì xã tắc, hai lần ngựa đá lấm bùn,
Nhưng non sông nghìn thuở vững bền như âu vàng.)
Hai câu thơ ấy như một lời cảm thán đầy niềm tin và hy vọng, gợi liên tưởng đến Xuân Bình Ngọ - mùa Xuân đầu tiên triển khai thực hiện nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XIV đưa đất nước ta tiến vào kỷ nguyên phát triển mới: phồn vinh, văn minh, hạnh phúc!
ĐÔNG VĨNH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 632, tháng 1-2026