Từ khóa: quản lý văn hóa; nghệ thuật xiếc - tạp kỹ; công nghiệp văn hóa; Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội.

Abstract: In the context of cultural industries, circus and variety arts fulfill a dual role: as an aesthetic discipline and a high-potential economic sector within the cultural value chain. However, management practices in Vietnam, particularly at the Hanoi Circus and Variety Arts Theater, remain deeply rooted in traditional administrative models and have yet to fully adapt to market mechanisms. By applying a cultural management approach combined with empirical surveys, this paper analyzes core contradictions between artistic preservation and commercialization, public service and economic efficiency, and administrative control versus value chain governance. Consequently, the study proposes modern and flexible management strategies to transform circus and variety arts into a key component of the Capital’s cultural industries.

Keywords: cultural management; circus and variety arts; cultural industries; Hanoi Circus and Variety Arts Theater.

Untitlednl.jpg
Chương trình “Ngày hội Tây Nguyên” năm 2025 của Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội - Ảnh: tác giả cung cấp

1. Đặt vấn đề

Trong chiến lược phát triển văn hóa hiện nay, công nghiệp văn hóa được xác định là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng bền vững, góp phần chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực kinh tế. Nghệ thuật biểu diễn, với tư cách là một lĩnh vực kết tinh trực tiếp giữa sáng tạo nghệ thuật và hoạt động thị trường, giữ vai trò đặc biệt trong hệ thống các ngành công nghiệp
văn hóa.

Nghệ thuật xiếc - tạp kỹ là một loại hình có ưu thế về tính phổ quát văn hóa, khả năng tiếp cận đa dạng công chúng và tiềm năng phát triển thành sản phẩm văn hóa - du lịch. Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa, xiếc - tạp kỹ không chỉ là hoạt động nghệ thuật thuần túy mà còn là một sản phẩm văn hóa có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng.

Tuy nhiên, thực tiễn quản lý hoạt động biểu diễn xiếc - tạp kỹ ở Việt Nam nói chung và ở Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội nói riêng vẫn chủ yếu vận hành theo mô hình quản lý hành chính truyền thống, đặt trọng tâm vào chức năng quản lý nhà nước và phục vụ nhiệm vụ chính trị - xã hội, trong khi các yếu tố quản trị theo cơ chế thị trường, phát triển thương hiệu và khai thác giá trị kinh tế của nghệ thuật chưa được quan tâm tương xứng. Điều này dẫn đến sự chưa tương thích giữa tiềm năng phát triển của xiếc - tạp kỹ và hiệu quả hoạt động trong bối cảnh công nghiệp văn hóa.

Tại Hà Nội, trung tâm văn hóa lớn của cả nước, nơi có điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, hoạt động của Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội vừa có cơ hội mở rộng không gian phát triển, vừa phải đối mặt với thách thức từ sự cạnh tranh của các loại hình giải trí hiện đại và sự thay đổi nhanh chóng của thị hiếu công chúng. Điều đó đòi hỏi công tác quản lý phải chuyển từ mô hình hành chính sang tư duy quản trị văn hóa, từ cách tiếp cận bao cấp sang vận hành theo chuỗi giá trị văn hóa.

Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung phân tích quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật xiếc - tạp kỹ tại Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa tại Thủ đô Hà Nội, từ góc nhìn quản lý văn hóa, nhằm làm rõ những đặc thù của loại hình này, chỉ ra những bất cập trong mô hình quản lý hiện nay và đề xuất những định hướng quản lý theo hướng hiện đại, linh hoạt và bền vững.

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng khung lý thuyết về chuỗi giá trị văn hóa làm trục phân tích chính. Theo mô hình này, hoạt động của Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội được xem xét qua các khâu liên kết chặt chẽ: sáng tạo nội dung, tổ chức sản xuất chương trình, phân phối biểu diễn, quảng bá truyền thông và tiêu dùng nghệ thuật. Việc áp dụng cách tiếp cận này giúp nhận diện rõ những điểm nghẽn trong quá trình chuyển hóa từ ý tưởng nghệ thuật thành sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế trên thị trường.

Nghiên cứu tiến hành rà soát, đối chiếu hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Nhà hát và các nghị quyết chiến lược của Thành phố Hà Nội. Phương pháp này cho phép đánh giá mức độ tương thích giữa hành lang pháp lý hiện hành và nhu cầu tự chủ, đổi mới sáng tạo của đơn vị nghệ thuật trong bối cảnh thị trường.

Nghiên cứu đi sâu phân tích các dự án biểu diễn tiêu biểu của Nhà hát trong giai đoạn 2021-2025 và các chương trình lưu diễn quốc tế. Thông qua việc quan sát thực địa và phân tích dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chuyên môn, nghiên cứu làm rõ các đặc điểm về kỹ thuật biểu diễn, cách thức dàn dựng và phản ứng của công chúng đối với các sản phẩm xiếc - tạp kỹ hiện đại.

Bằng cách sử dụng dữ liệu từ các cuộc thi tài năng xiếc toàn quốc và các tiêu chuẩn quản lý văn hóa hiện đại, nghiên cứu tiến hành đánh giá năng lực cạnh tranh của Nhà hát. Cách tiếp cận hệ thống cho phép nhìn nhận Nhà hát như một thực thể trong hệ sinh thái văn hóa Thủ đô, chịu sự tác động tương hỗ từ các yếu tố cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và cơ chế quản lý nhà nước.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Kết quả

Thực trạng hoạt động biểu diễn tại Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội

Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội là đơn vị có lịch sử phát triển gắn liền với sự đổi mới tư duy quản lý nghệ thuật biểu diễn của chính quyền địa phương. Sự chuyển đổi mô hình từ Đoàn Xiếc Hà Nội lên Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội phản ánh quyết tâm của Thành phố trong việc nâng tầm quy mô và chất lượng nghệ thuật xiếc - tạp kỹ phục vụ công chúng Thủ đô.

Hiện nay, Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy nghệ thuật xiếc truyền thống, phục vụ nhiệm vụ chính trị - xã hội và đối ngoại văn hóa, đồng thời góp phần làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Thủ đô. Trong năm 2025, Nhà hát đã biểu diễn phục vụ chương trình nghệ thuật Chào mừng kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 95 năm ngày thành lập Đảng bộ thành phố Hà Nội; biểu diễn phục vụ nhân dân và cộng đồng người Việt Nam tại Vương quốc Thái Lan nhân dịp kỷ niệm 135 năm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh, chào mừng Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…

Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa, thực tiễn hoạt động Nhà hát còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trước hết, mô hình tổ chức và phương thức hoạt động nhưng vẫn còn chịu ảnh hưởng nhất định từ cơ chế hành chính truyền thống. Mặc dù đã được giao quyền tự chủ từng phần, song nguồn thu từ biểu diễn và xã hội hóa còn thấp, chưa đủ bảo đảm chi thường xuyên, khiến các đơn vị vẫn phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước. Cơ chế tự chủ hiện hành vì vậy chưa tạo được động lực mạnh mẽ cho việc đổi mới sáng tạo và mở rộng thị trường biểu diễn.

Về nội dung và hình thức biểu diễn, các chương trình xiếc - tạp kỹ hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên hệ thống tiết mục truyền thống, trong khi các thử nghiệm đổi mới còn hạn chế và thiếu tính ổn định. Trong năm 2025, Nhà hát đã báo cáo Hội đồng nghệ thuật thành phố Hà Nội 3 chương trình xiếc: Thánh Gióng, Dế mèn phiêu lưu kýNgày hội Tây Nguyên. Tuy nhiên, Nhà hát chưa hình thành được các sản phẩm nghệ thuật có khả năng khai thác dài hạn, phục vụ thường xuyên cho khán giả và gắn kết hiệu quả với hoạt động du lịch. Đối tượng khán giả của xiếc - tạp kỹ vẫn tập trung chủ yếu vào thiếu nhi và các chương trình phục vụ theo nhiệm vụ, trong khi việc thu hút khán giả trẻ và khán giả đại chúng còn gặp nhiều khó khăn.

Công tác marketing, truyền thông và xây dựng thương hiệu xiếc chưa được chú trọng tương xứng. Hoạt động quảng bá còn mang tính hình thức, thiếu chiến lược phát triển khán giả dài hạn và chưa khai thác hiệu quả các nền tảng truyền thông số. Việc ứng dụng công nghệ trong quản lý, bán vé, quản lý dữ liệu khán giả và khai thác tài sản trí tuệ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của môi trường công nghiệp văn hóa hiện nay.

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất phục vụ biểu diễn xiếc tại Nhà hát còn nhiều bất cập. Mặc dù đã nỗ lực khắc phục, nhưng việc Nhà hát chưa có rạp biểu diễn chuyên biệt vẫn là một rào cản khách quan, ảnh hưởng đến tính chủ động trong việc xây dựng lịch diễn dài hạn. Các điều kiện tập luyện, kho đạo cụ, trang thiết bị kỹ thuật còn thiếu và không đồng bộ, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghệ thuật cũng như an toàn biểu diễn.

Về chuyên môn, đối với Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội, khó khăn về chuyên môn mang tính “kép”. Một mặt, quy mô nhân sự nhỏ (38 viên chức và 3 trường hợp hợp đồng), cơ chế đãi ngộ hiện hành chưa thực sự tạo ra sức hút đủ mạnh để giữ chân các tài năng trẻ trước sự cạnh tranh của thị trường giải trí tự do. Mặt khác, đội ngũ quản lý của Nhà hát ít có cơ hội tiếp cận các mô hình quản trị tiên tiến và hợp tác chuyên môn chất lượng cao với các đơn vị trong nước và quốc tế. Việc mời đạo diễn, chuyên gia giỏi trong và ngoài nước tham gia dàn dựng các chương trình xiếc - tạp kỹ gặp nhiều khó khăn do hạn chế về tài chính và cơ chế.

Tóm lại, Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội gặp khó khăn ngay từ những điều kiện cơ bản về hạ tầng và nguồn lực chuyên môn, khiến quá trình phát triển theo hướng chuyên nghiệp và thị trường hóa diễn ra chậm và thiếu ổn định. Khó khăn này đặt ra yêu cầu phải có các giải pháp quản lý và đầu tư mang tính phân hóa, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng đơn vị trong chiến lược phát triển nghệ thuật xiếc - tạp kỹ tại Thủ đô Hà Nội.

Quản lý hoạt động biểu diễn xiếc - tạp kỹ trong mối quan hệ với công nghiệp văn hóa

Công nghiệp văn hóa được hiểu là hệ thống các hoạt động sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm, dịch vụ văn hóa dựa trên tri thức và sáng tạo, trong đó, giá trị văn hóa và giá trị kinh tế cùng tồn tại và bổ trợ cho nhau. Khác với các ngành công nghiệp truyền thống, công nghiệp văn hóa vận hành theo chuỗi giá trị văn hóa gồm các khâu: sáng tạo - sản xuất - phân phối - quảng bá - tiêu dùng - tái sáng tạo. Mỗi khâu đều góp phần hình thành và gia tăng giá trị tổng thể của sản phẩm văn hóa.

Trong bối cảnh đó, quản lý văn hóa không chỉ dừng lại ở chức năng hành chính hay kiểm soát hoạt động, mà bao hàm cả việc hoạch định chiến lược, xây dựng chính sách và tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo cũng như phát triển thị trường văn hóa. Quản lý hoạt động nghệ thuật biểu diễn, vì vậy, cần được tiếp cận theo hướng “quản trị văn hóa”, tức là kết hợp hài hòa giữa quản lý nhà nước, quản trị tổ chức nghệ thuật và quản trị thị trường, trong đó yếu tố sáng tạo nghệ thuật giữ vai trò trung tâm.

Nghệ thuật xiếc - tạp kỹ, với đặc trưng ngôn ngữ hình thể, tính hấp dẫn thị giác cao và khả năng vượt qua rào cản ngôn ngữ, có nhiều lợi thế khi tham gia vào hệ thống công nghiệp văn hóa. Đây là loại hình nghệ thuật dễ dàng tiếp cận công chúng rộng rãi, có tiềm năng phát triển thành sản phẩm văn hóa - du lịch và có khả năng giao lưu quốc tế mạnh mẽ. Xét theo chuỗi giá trị văn hóa, hoạt động biểu diễn xiếc - tạp kỹ bao gồm các khâu từ sáng tạo chương trình, tổ chức sản xuất, phân phối biểu diễn, quảng bá truyền thông đến tiếp nhận của công chúng và tái sáng tạo nội dung.

Trong mô hình quản lý truyền thống, hoạt động xiếc - tạp kỹ chủ yếu chịu sự chi phối của cơ chế hành chính và phục vụ nhiệm vụ chính trị - xã hội, trong khi các yếu tố thị trường, thương hiệu và hiệu quả kinh tế chưa được chú trọng đúng mức. Điều này khiến tiềm năng của xiếc - tạp kỹ trong công nghiệp văn hóa chưa được khai thác đầy đủ.

Vì vậy, quản lý hoạt động biểu diễn xiếc - tạp kỹ trong bối cảnh công nghiệp văn hóa cần được đặt trong quá trình chuyển đổi từ mô hình quản lý hành chính sang mô hình quản trị văn hóa. Sự chuyển đổi này nhấn mạnh tính tự chủ của đơn vị nghệ thuật, khả năng vận hành theo chuỗi giá trị văn hóa, cũng như sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu bảo tồn và phát triển nghệ thuật với yêu cầu thương mại hóa và mở rộng thị trường. Đây chính là nền tảng lý luận để phân tích thực trạng và đề xuất các định hướng quản lý phù hợp cho hoạt động xiếc - tạp kỹ tại Thủ đô Hà Nội.

3.2. Thảo luận

Những vấn đề đặt ra từ thực tiễn quản lý

Thứ nhất, tồn tại mâu thuẫn giữa mục tiêu bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật với yêu cầu thương mại hóa sản phẩm văn hóa. Xiếc - tạp kỹ vừa phải thực hiện chức năng phục vụ nhiệm vụ chính trị - xã hội, vừa phải thích ứng với cơ chế thị trường để tạo nguồn lực tài chính. Tuy nhiên, việc chưa xác lập được sự cân bằng hợp lý giữa hai mục tiêu này khiến hoạt động nghệ thuật thường rơi vào trạng thái lưỡng nan: hoặc thiên về tính nghệ thuật thuần túy nhưng khó thu hút khán giả, hoặc chạy theo thị trường nhưng có nguy cơ làm suy giảm chiều sâu nghệ thuật.

Thứ hai, mô hình quản lý hành chính truyền thống vẫn chi phối mạnh, trong khi yêu cầu của công nghiệp văn hóa đòi hỏi phải chuyển sang mô hình quản trị văn hóa hiện đại. Công tác quản lý hiện nay vẫn nặng về thủ tục và kiểm soát hoạt động, chưa chú trọng đầy đủ đến xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm, quản trị thương hiệu và mở rộng thị trường. Điều này làm hạn chế tính chủ động, sáng tạo và khả năng thích ứng của các đơn vị xiếc - tạp kỹ.

Thứ ba, cơ chế tự chủ tài chính chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Mặc dù chủ trương tự chủ đã được triển khai, nhưng trên thực tế các đơn vị nghệ thuật vẫn phụ thuộc nhiều vào ngân sách nhà nước. Nguồn thu từ thị trường chưa đủ mạnh để trở thành động lực thúc đẩy đầu tư cho những chương trình có tính dài hạn, có khả năng hình thành sản phẩm nghệ thuật mang tính thương hiệu.

Thứ tư, việc phát triển thị trường khán giả còn thiếu chiến lược bài bản. Xiếc - tạp kỹ vẫn chủ yếu gắn với nhóm khán giả truyền thống là thiếu nhi và gia đình, trong khi chưa khai thác hiệu quả các nhóm công chúng mới, đặc biệt là giới trẻ và khách du lịch. Công tác nghiên cứu khán giả và phân tích nhu cầu thị trường còn hạn chế, dẫn đến việc xây dựng sản phẩm nghệ thuật chưa thực sự bám sát xu hướng tiêu dùng văn hóa đương đại.

Thứ năm, hoạt động truyền thông và xây dựng thương hiệu chưa được coi là một bộ phận cấu thành của quản lý tổng thể. Việc thiếu đội ngũ chuyên trách và thiếu chiến lược truyền thông dài hạn khiến hình ảnh của xiếc - tạp kỹ chưa tạo được dấu ấn mạnh mẽ trong đời sống văn hóa đô thị, làm giảm khả năng cạnh tranh với các loại hình giải trí hiện đại khác.

Thứ sáu, chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa của xiếc - tạp kỹ chưa được hình thành đầy đủ. Hoạt động quản lý mới chủ yếu tập trung vào khâu tổ chức biểu diễn, trong khi các khâu như liên kết với du lịch, giáo dục nghệ thuật, kinh tế đêm, phân phối đa kênh và hợp tác quốc tế còn rời rạc, chưa tạo thành một hệ sinh thái phát triển bền vững.

Nhìn tổng thể, những vấn đề trên cho thấy quản lý hoạt động biểu diễn xiếc - tạp kỹ tại Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy “duy trì hoạt động nghệ thuật” sang tư duy “phát triển ngành công nghiệp văn hóa”, trong đó, nghệ thuật, kinh tế và quản trị văn hóa phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất.

Đề xuất những định hướng quản lý

Từ thực tiễn quản lý hoạt động biểu diễn xiếc - tạp kỹ tại Hà Nội, có thể khẳng định yêu cầu cốt lõi hiện nay là chuyển đổi tư duy quản lý từ mô hình hành chính sang mô hình quản trị văn hóa theo định hướng công nghiệp văn hóa. Xiếc - tạp kỹ cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị - xã hội, mà còn là một lĩnh vực sản xuất sản phẩm văn hóa có khả năng tham gia thị trường và tạo giá trị kinh tế.

Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế tự chủ cho các đơn vị nghệ thuật, gắn tự chủ với trách nhiệm giải trình. Tự chủ phải được mở rộng trên các phương diện tài chính, tổ chức sản xuất chương trình, hợp tác trong và ngoài nước, đồng thời có hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động dựa trên cả giá trị nghệ thuật, giá trị xã hội và hiệu quả kinh tế.

Thứ hai, cần xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm xiếc - tạp kỹ như sản phẩm công nghiệp văn hóa. Mỗi chương trình biểu diễn nên được coi là một “dự án văn hóa” có vòng đời, có khả năng xây dựng thương hiệu và khai thác lâu dài, thay vì chỉ mang tính thời vụ hoặc phục vụ nhiệm vụ ngắn hạn.

Thứ ba, cần thúc đẩy liên kết liên ngành trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, đặc biệt giữa xiếc - tạp kỹ với du lịch văn hóa, tổ chức sự kiện, truyền thông sáng tạo và kinh tế đêm. Sự liên kết này sẽ giúp mở rộng không gian biểu diễn, đa dạng hóa nguồn thu và gia tăng giá trị xã hội của nghệ thuật xiếc - tạp kỹ.

Thứ tư, cần đổi mới công tác phát triển thị trường khán giả và truyền thông. Việc nghiên cứu thị trường, phân loại công chúng, ứng dụng công nghệ số trong quảng bá, bán vé và tương tác với khán giả cần được coi là một nội dung trọng tâm trong quản lý hoạt động biểu diễn.

Thứ năm, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực quản lý văn hóa chuyên nghiệp, có năng lực kết hợp giữa hiểu biết nghệ thuật và kỹ năng quản trị hiện đại, nhằm nâng cao hiệu quả vận hành các đơn vị xiếc - tạp kỹ trong môi trường công nghiệp văn hóa.

Cuối cùng, cần tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế thông qua việc xây dựng các chương trình biểu diễn đạt chuẩn quốc tế, mở rộng giao lưu, học hỏi mô hình quản trị tiên tiến và từng bước xây dựng thương hiệu xiếc - tạp kỹ của Hà Nội trên thị trường văn hóa khu vực và quốc tế.

4. Kết luận

Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa trở thành định hướng chiến lược của phát triển văn hóa Việt Nam, nghệ thuật biểu diễn xiếc - tạp kỹ cần được nhìn nhận không chỉ như một hoạt động nghệ thuật thuần túy mà như một lĩnh vực của công nghiệp văn hóa, vừa mang giá trị thẩm mỹ, vừa có tiềm năng kinh tế. Quản lý xiếc - tạp kỹ vì thế phải chuyển từ mô hình quản lý hành chính truyền thống sang mô hình quản trị văn hóa hiện đại, gắn với chuỗi giá trị sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng văn hóa.

Bài viết cho thấy thực tiễn quản lý xiếc - tạp kỹ tại Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội hiện nay đang tồn tại nhiều vấn đề và cần thiết phải xây dựng một mô hình quản lý mới theo hướng: tăng cường tự chủ gắn với trách nhiệm, coi trọng quản trị sáng tạo và phát triển sản phẩm nghệ thuật như sản phẩm công nghiệp văn hóa, đẩy mạnh liên kết liên ngành và hội nhập quốc tế. Nếu được quản lý theo đúng định hướng này, xiếc - tạp kỹ không chỉ bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật truyền thống, mà còn có thể trở thành một sản phẩm văn hóa đặc trưng của Hà Nội, đóng góp tích cực vào phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng thương hiệu văn hóa đô thị và nâng cao vị thế văn hóa của Thủ đô trong bối cảnh hội nhập.

____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.

2. Thủ tướng Chính phủ. (2016). Quyết định số 1755/QĐTTg ngày 8/9/2016 phê duyệt “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

3. Thành ủy Hà Nội. (2022). Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/02/2022 về “Phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

4. Thủ tướng Chính phủ. (2021). Quyết định số 1909/QĐTTg ngày 12/11/2021 phê duyệt “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030”.

5. Nguyễn Duy Bắc. (2003). Nghệ thuật và việc đáp ứng nhu cầu giải trí của công chúng hiện nay. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. (3).

6. Phạm Ngọc Chi (sưu tầm và biên dịch). (2002). Âm nhạc và Múa trên thế giới. Nhà xuất bản Thế giới.

7. Nguyễn Việt Hùng. (2017). Quản lý Nhà hát Thể nghiệm Trường Trung cấp Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ Quản lý văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.

8. Hoàng Minh Khánh. (2009). Nghệ thuật Xiếc Việt Nam - Quá trình hình thành và phát triển. Luận án Tiến sĩ. Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam.

9. Hoàng Minh Khánh. (2010). Đại cương Nghệ thuật Xiếc. Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin.

10. Lưu Văn Phúc. (2003). Ngành xiếc Việt Nam nhìn từ góc độ nghề. Kỷ yếu Hội thảo Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo ngành xiếc Việt Nam, Bộ Văn hóa - Thông tin.

11. Nguyễn Thị Lan Thanh, Hoàng Tùng. (2016). Hoạt động phát triển khán giả đối với nghệ thuật xiếc. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. (389).

12. Trần Trí Trắc. (2001). Nghĩ về nghệ thuật biểu diễn xiếc. Kỷ yếu Hội thảo 40 năm hình thành và phát triển Trường Trung học Xiếc Việt Nam.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 25/1/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 10/2/2026; Ngày duyệt bài: 20/2/2026.

Ths BÙI THẾ ANH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 636, tháng 3-2026