
1. Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị văn hóa trong du lịch di sản
Khái niệm bảo tồn giá trị di sản văn hóa được UNESCO đề xuất năm 2003, khái niệm nêu bật: “ Bảo vệ là các biện pháp có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệu hóa, nghiên cứu, bảo tồn, phát huy, củng cố, chuyển giao; đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc phi chính thức cũng như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản này” (UNESCO.2003. Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage. https://whc.unesco.org). Luật Di sản văn hóa (sửa đổi, năm 2024) cũng đưa ra các biện pháp bảo tồn di sản là hoạt động nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại lâu dài, ổn định của di sản văn hóa theo dạng thức vốn có của di sản văn hóa Bảo tồn di sản văn hóa bao gồm các nội dung: nghiên cứu, sưu tầm, nhận diện, kiểm kê, bảo vệ, tu bổ, tư liệu hóa, chuyển giao, phổ biến, giáo dục, nhận thức, truyền dạy…
Thuật ngữ phát huy gắn liền với bảo vệ di sản nhằm làm cho di sản “sống” trong cộng đồng, trở thành nguồn lực phát huy các giá trị di sản. “Phát huy” là những tác động làm cho các giá trị di sản lan tỏa và phát triển. “Phát huy” chính là nhấn mạnh những khai thác, sử dụng một cách có hiệu quả các giá trị di sản văn hóa, đảm bảo giữ gìn bản sắc dân tộc (Đỗ Thị Thanh Thủy. 2024. tr.41).
Mối quan hệ giữa “bảo tồn” và “phát huy” di sản văn hóa. Là mối quan hệ hữu cơ, hai chiều tạo nên hai mặt thống nhất của một quá trình. Bảo tồn di sản là nền tảng để phát huy; không có bảo tồn, di sản sẽ mất tính nguyên bản, không còn cả giá trị để khai thác. Phát huy là nguồn động lực để bảo tồn, phát huy làm cho di sản “sống” trong cộng đồng, không bị lãng quên. Mặt khác, mối quan hệ giữa “bảo tồn” và “phát huy” là một sự “cân bằng động”. Quá trình “bảo tồn” giúp di sản duy trì, bảo vệ được giá trị. Ngược lại,“phát huy” làm tái sinh giá trị trong bối cảnh mới. Nếu chỉ bảo tồn mà không phát huy, giá trị di sản sẽ ngưng tụ và “chết”. Nhưng chỉ phát huy mà thiếu bảo tồn thì sẽ làm sai lệch giá trị di sản. Vì vậy bảo tồn và phát huy là một quá trình luôn gắn liền với nhau, không tách rời nhau.
Kinh tế di sản là một khái niệm mới của liên ngành kinh tế và văn hóa. Kinh tế di sản mới được nghiên cứu ở Việt Nam khoảng một thập kỉ nay (Hà Hữu Nga, 2017; Nguyễn Công Thành, 2019; Bùi Minh Hào, 2021; Bùi Đại Dũng, 2021; Phạm Quỳnh Phương, 2022…). Kinh tế di sản (Heritage Economy) là một lĩnh vực kinh tế đặc biệt, dựa trên việc khai thác và phát huy các giá trị của di sản văn hóa và di sản thiên nhiên để tạo ra nguồn lực phát triển kinh tế, đồng thời gắn liền với công tác bảo tồn di sản.
Bảo tồn phát huy di sản và kinh tế di sản cũng có mối quan hệ hữu cơ tác động 2 chiều đến nhau. Bảo tồn và phát huy di sản sẽ tạo ra giá trị, lan tỏa giá trị. Từ đó các giá trị sẽ trở thành nguồn lực phát triển kinh tế di sản. Giá trị thiêng hóa gắn với lòng tôn kính tổ tiên, thần linh, anh hùng dân tộc, sẽ tạo ra nguồn lực cho du lịch tôn giáo tín ngưỡng. Bản sắc tộc người ẩn chứa trong nhà cửa, ẩm thực, diễn xướng... cũng tạo ra tài nguyên du lịch di sản, làm cho sản phẩm du lịch mang đặc trưng độc đáo, riêng biệt với các sản phẩm khác. Ngược lại kinh tế di sản là nguồn thu góp phần bảo tồn và phát huy di sản thuận lợi. Kinh tế di sản thực sự là “bệ đỡ” trong vấn đề bảo tồn và phát huy di sản được phát triển. Kinh tế di sản vừa hỗ trợ nguồn lực cho cộng đồng, doanh nghiệp vừa đóng góp cho quỹ bảo tồn di sản phát huy nhiều giá trị. Mặt khác kinh tế di sản còn tạo nguồn thu cho người dân làm du lịch. Do đó kinh tế di sản thực sự là nguồn lực khuyến kích các cộng đồng tham gia du lịch. Đồng thời, kinh tế di sản còn tạo điều kiện cho các nhà sáng tạo, các nhà tư vấn tạo ra các sản phẩm du lịch mới, sáng tạo những giá trị mới của di sản. Các ngành công nghiệp sáng tạo (công nghiệp điện ảnh, công nghiệp âm nhạc, công nghiệp làm đồ thủ công mỹ nghệ...) đều có đặc điểm chung là xuất phát từ giá trị của di sản. Vì thế các ngành công nghiệp này đều mang dấu ấn di sản có thể coi là một bộ phận của kinh tế di sản. Kinh tế di sản muốn phát triển đòi hỏi phải có năng lực sáng tạo trên nền tảng di sản. Do đó di sản sẽ tạo ra nguồn tài sản cho sự sáng tạo. Ngược lại, kinh tế di sản còn hỗ trợ nguồn lực kinh tế, kích thích sự sáng tạo phát triển. Như vậy bảo tồn - phát huy giá trị di sản và kinh tế di sản đều có mối quan hệ tương hỗ. Mối quan hệ này các thúc đẩy quá trình phát triển của kinh tế di sản cũng như nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
2. Các loại hình kinh tế di sản
Kinh tế di sản là một ngành kinh tế mới; trong ngành kinh tế này có nhiều loại hình khác nhau như: du lịch di sản, các sản phẩm nông nghiệp OCOP, ngành công nghiệp văn hóa “ăn theo” biểu tượng và giá trị của di sản, ẩm thực truyền thống, nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống… Các loại hình thuộc kinh tế di sản đều có đặc điểm chung là bắt nguồn từ di sản, là các loại hình kinh tế dựa vào giá trị của các di sản văn hóa.
Du lịch di sản
Du lịch di sản bao gồm việc tham quan các địa điểm có nhiều di sản (cả vật thể và phi vật thể). Du lịch di sản cũng thường dựa vào các yếu tố đã sinh ra, được bồi đắp và duy trì tồn tại của di sản văn hóa. Như vậy, có thể định nghĩa ngắn gọn: Du lịch di sản là loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị di sản văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống.
Các loại hình du lịch di sản ở Việt Nam chủ yếu như sau:
Du lịch tôn giáo tín ngưỡng là loại hình du lịch di sản phổ biến thu hút được đông đảo du khách. Du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố văn hóa tâm linh nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người. Như vậy, du lịch tâm linh là loại hình du lịch dựa vào việc gửi gắm niềm tin nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu của con người thông qua những lễ nghi, đáp ứng nguyện vọng của cá nhân và cộng đồng.
Du lịch cội nguồn là loại hình du lịch di sản đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, giáo dục truyền thống lịch sử dựng nước và giữ nước. Đó là các cuộc về nguồn lên căn cứ địa Việt Bắc, căn cứ miền Đông Nam Bộ, hoặc các loại hình du lịch “thăm chiến trường xưa” hoặc du lịch hoài niệm về các chiến trường xưa đang thịnh hành, phát triển mạnh trong những năm gần đây.
Du lịch trải nghiệm văn hóa: hiện nay, cuộc sống đang biến đổi mạnh mẽ, nhiều nước phát triển đã vượt qua thời kỳ công nghiệp, chuyển sang hậu công nghiệp. Các nước đang phát triển cũng đã vượt qua giai đoạn kinh tế nông nghiệp, chuyển sang kinh tế công nghiệp. Vì vậy, nhu cầu khám phá về nền văn minh nông nghiệp, văn minh cộng đồng đang trở thành một nhu cầu lớn từ phía du khách đô thị. Các du khách quốc tế muốn đến các nước đang phát triển để trải nghiệm trong nền văn hóa nông nghiệp. Các du khách ở đô thị cũng muốn trở về thôn quê nhằm khám phá kỹ thuật canh tác, tri thức bản địa. Vì thế, xu hướng du lịch trải nghiệm đang trở thành một xu hướng quan trọng chi phối các hoạt động du lịch. Các phương thức canh tác ở miền núi như làm ruộng bậc thang, “chọc lỗ tra hạt”, các ngành nghề thủ công như chạm khắc bạc của người Mông, người Dao, dệt thổ cẩm của người Tày, người Thái, người Mường, nghề làm gốm của người Chăm, tri thức dân gian trong ứng xử với rừng của người Hà Nhì…
Du lịch di sản còn bao gồm các loại hình đi tham quan các bảo tàng, các di tích cổ, các địa điểm khai quật khảo cổ…
Như vậy, du lịch di sản bao gồm nhiều loại hình khác nhau nhưng đều liên quan đến di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Du lịch di sản không chỉ có chức năng khám phá, nâng cao hiểu biết mà còn giáo dục truyền thống của quê hương, đất nước với du khách. Chức năng này đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành lòng yêu nước, kính trọng truyền thống của cha ông.
Sản xuất OCOP
Nước ta đang triển khai chương trình mỗi xã phường có một sản phẩm gọi là OCOP. Đây là tên viết tắt của cụm từ “One Commune One Product” được hiểu là “Mỗi xã một sản phẩm”. Trọng tâm của chương trình OCOP là phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị, do các thành phần kinh tế tư nhân (doanh nghiệp, hộ, tổ hợp tác) và kinh tế tập thể thực hiện. Các sản phẩm này đều là sản phẩm truyền thống được kết tinh vốn tri thức bản địa của cộng đồng qua nhiều thế hệ và ở các vùng. Hàng nghìn năm lịch sử cộng đồng cư dân ở các vùng khác nhau đã dựa vào điều kiện tự nhiên sáng tạo ra tri thức dân gian (tri thức bản địa, tri thức tộc người). Các tri thức này chính là các di sản văn hóa được chọn lọc và trao truyền cho nhiều thế hệ. Do đó các sản phẩm đều chứa đựng giá trị của di sản văn hóa phi vật thể. Nhờ có di sản này, nhờ có vốn văn hóa của cộng đồng nên các sản phẩm OCOP đều trở thành đặc sản, thậm chí, trở thành một nguồn lực phát triển ở các bản làng nông thôn (Bùi Minh Hào. 2021. tr.34).
Như vậy, các sản phẩm OCOP kết tinh tinh hoa của di sản cộng đồng. Quá trình sản xuất sản phẩm OCOP cũng chính là quá trình sản xuất kinh tế di sản, chương trình sản xuất OCOP là chương trình kinh tế di sản. Tuy nhiên không phải toàn bộ các mặt hàng OCOP có nguồn gốc từ di sản (có loại hàng dùng công nghệ chế biến đặc thù). Vì vậy chỉ các mặt hàng OCOP được tri thức dân gian của cộng đồng sáng tạo thì gọi là xuất phát từ kinh tế di sản.
Các sản phẩm mang theo giá trị biểu tượng của di tích, di sản
Một đặc điểm nổi trội của di sản, di tích là tính biểu tượng, tượng trưng rất cao. Các di tích ở Hội An, Hà Nội (ví dụ như: Hồ Gươm, Văn Miếu, Hoàng thành Thăng Long…) đều trở thành các biểu tượng xuất hiện trên truyền thông đi vào các loại sản phẩm “ăn theo” như trò chơi điện tử, các đồ lưu niệm (áo, mũ, túi, bút, sổ…). Đây là một đặc điểm về con đường phát huy giá trị di sản trong hàng hóa. Tính biểu tượng của di sản càng được quảng bá, càng hàm chứa giá trị nổi tiếng thì biểu tượng đó càng trở thành đắt giá. Tuy nhiên, không có hiện tượng bán biểu tượng trong hàng hóa thông thường mà biểu tượng đó phải được kết tinh trong các loại hàng hóa khác nhằm nâng cao lợi nhuận. Chiếc mũ có chữ “Hội An” hoặc các đồ vật có logo của Văn Miếu Quốc Tử Giám thì giá trị hàng hóa đó cao gấp nhiều lần giá trị thật. Vì thế các điểm tham quan di tích, điểm trải nghiệm, nơi có các biểu tượng văn hóa, có giá trị danh tiếng thì giá trị kinh tế của các sản phẩm mang tính biểu tượng của di tích, các di tích văn hóa, các di sản văn hóa phi vật thể đã tạo ra một ngành sản xuất mới – ngành sản xuất đồ lưu niệm, quà tặng mang tính biểu tượng của di sản. Di tích càng nổi tiếng thì giá trị kinh tế của các sản phẩm mang tính biểu tượng càng lớn.
Bên cạnh các loại hình kinh tế di sản chủ yếu trình bày ở trên, còn nhiều loại hình sản phẩm kinh tế di sản như các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm lương thực thực phẩm, các ẩm thực gắn liền với di sản phi vật thể nổi tiếng ở trong nước (ví dụ như phở Việt Nam, bánh đa Việt Nam, nước mắm Phú Quốc, trà Thái Nguyên…). Các sản phẩm có nguồn gốc khác nhau nhưng đều chung một đặc điểm: đấy là sản phẩm mang giá trị di sản. Nhờ có di sản nên các sản phẩm này trở thành những mặt hàng nổi tiếng, giá cao bất thường.
3. Đặc điểm của kinh tế di sản
Kinh tế di sản là ngành kinh tế có nhiều tính đặc thù. Vì vậy cần coi trọng tính đặc thù tác động đến thực tiễn. Từ đó xây dựng các chính sách, giải pháp phù hợp.
Kinh tế di sản có nhiều loại giá trị khác nhau
Giá trị kinh tế của di sản có hai loại hình giá trị phổ biến là giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Giá trị sử dụng bao gồm ba nhánh nhỏ là giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị gián tiếp và giá trị lựa chọn; giá trị phi sử dụng bao gồm giá trị để lại và giá trị tồn tại. Theo TS Nguyễn Công Thành, giá trị sử dụng đem lại gồm: thẩm mỹ, biểu tượng, lịch sử… Giá trị sử dụng có thể là giá trị sử dụng trực tiếp (ví dụ như đi du lịch giải trí tại di sản văn hóa; học tập và nghiên cứu tại di sản; lựa chọn sinh sống gần di sản), hoặc giá trị sử dụng gián tiếp (như kinh doanh phục vụ khách du lịch đến khu vực di sản; sản xuất các sản phẩm mang hình ảnh đặc trưng của di sản). Giá trị lựa chọn cũng được xem là giá trị sử dụng, phản ánh nhu cầu của những người mong muốn bảo tồn di sản nhằm phục vụ hành động hưởng thụ các giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp của những người đó trong tương lai. Cùng theo ông “Giá trị phi sử dụng phản ánh nhu cầu của những người mặc dù không hề có hành động hưởng thụ các giá trị của di sản ở hiện tại cũng như trong tương lai, nhưng vẫn mong muốn bảo tồn di sản văn hóa. Giá trị phi sử dụng bao gồm giá trị để lại và giá trị tồn tại. Giá trị để lại (lưu truyền) phản ánh sự hài lòng khi biết rằng các thế hệ tương lai có thể hưởng thụ các giá trị của di sản văn hóa. Giá trị tồn tại nhằm đảm bảo giá trị của toàn bộ hệ thống lịch sử và văn hóa” (Nguyễn Công Thành. (2019, 19 tháng 12). https://taichinhdoanhnghiep.net.vn).
Trong thực tiễn, giá trị phi sử dụng nhiều khi đem lại lợi ích kinh tế lớn hơn gấp nhiều lần so với giá trị sử dụng. Một chiếc túi thổ cẩm của người Mông ở Sapa chỉ giá trị sử dụng từ 15.000 đến 20.000 Việt Nam đồng nhưng khi người Mông thuê thợ ở làng nghề cụ thể thì giá trị đã nâng lên gấp đôi từ 50.000 tới vài trăm nghìn Việt Nam đồng. Tương tự như vậy, các mặt hàng OCOP có thêm giá trị văn hóa (tính biểu tượng, tính thẩm mỹ, giá trị lịch sử, kết tinh tri thức dân gian…) có thể tăng lên vài chục lần so với giá trị sử dụng. Vì vậy, trong kinh tế di sản, phải coi trọng cả giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng.
Vai trò của các bên tham gia kinh tế di sản rất chặt chẽ
Bất cứ một sản phẩm của kinh tế di sản nào cũng đều có sự đóng góp công sức, phối hợp quản lý và sản xuất. Một sản phẩm du lịch “ruộng bậc thang” của Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái muốn trở thành hàng hóa có nhiều du khách đến tham quan, chiêm ngưỡng thì phải có sự kết hợp quản lý, định hướng, quy hoạch của chính quyền địa phương. Đồng thời, quy trình canh tác ruộng bậc thang có kết tinh tri thức dân gian của cộng đồng người Mông được trao truyền qua nhiều thế hệ. Mặt khác, có sự tham gia của các doanh nghiệp đưa khách đến Mù Cang Chải tham quan. Đồng thời, cũng có sự tư vấn, nghiên cứu của các nhà khoa học nhằm làm giàu giá trị của sản phẩm. Ngoài ra, sản phẩm “ruộng bậc thang” còn được quảng bá của hệ thống thông tin đại chúng, mạng xã hội… Một sản phẩm OCOP của bất cứ xã nào mang tính truyền thống cũng đều có sự tham gia của nhiều bên. Vì vậy, cần xây dựng mối quan hệ hài hòa lợi ích trong phát triển kinh tế di sản.
Kinh tế di sản dễ xảy ra xâm phạm bản quyền sở hữu trí tuệ
Các di sản đều là thành tựu, giá trị của một cộng đồng, một địa phương, một quốc gia hoặc của toàn nhân loại. Giá trị để lại được kết tinh qua nhiều đời, nhiều thế hệ. Tính lịch sử càng cao thì di sản càng có giá trị. Nhưng trong thực tiễn, nhiều khi, quá trình bảo tồn, phục chế thì cuối cùng lại trở thành di sản của nhà nước chứ không phải di sản của dòng họ, của cộng đồng người dân (trường hợp một số di tích của dòng họ Vương -Hà Giang, dòng họ Hoàng - Lào Cai…). Trong lĩnh vực phi vật thể, hiện tượng này trở thành phổ biến. Hiện nay, các hội xuân ở nhiều nơi đang diễn ra khắp nơi, chính quyền địa phương có hỗ trợ một phần kinh phí để quảng bá, thu hút khách du lịch nhưng các lễ hội đều có băng - rôn, sân khấu ghi rõ “Ủy ban nhân dân xã X, xã Y - Lễ hội xuống đồng, Lễ hội Gầu Tào…”. Thậm chí có nhiều nơi, chính quyền thôn còn đứng ra thu lệ phí tham quan của du khách. Nhiều trường hợp ở các vùng du lịch, di sản thuộc cộng đồng địa phương nhưng doanh nghiệp đầu tư một số sản phẩm và bán vé còn người dân chỉ để hưởng lợi rất ít. Điển hình như làng du lịch Cát Cát của người Mông ở thị xã Sapa, mỗi năm doanh nghiệp thu hàng chục tỷ Việt Nam đồng nhưng chi cho người dân trong làng một vài trăm triệu. Cảnh quan thôn bản, nghề thủ công của người Mông, sinh hoạt văn hóa của người Mông trong thôn… Họ là chủ nhân của điểm du lịch nhưng lại trở thành người làm thuê chịu sự bóc lột của doanh nghiệp. Hiện tượng này càng phổ biến ở các mặt hàng OCOP. Mỗi mặt hàng trở thành hàng hóa trao đổi trên thị trường đều kết tinh tinh hoa của cả cộng đồng, của dân tộc, gọi là vốn văn hóa, nhưng khi doanh nghiệp làm thương hiệu và sản xuất bán hàng loạt trên thị trường thì cộng đồng mất quyền sở hữu di sản.
4. Quan điểm và giải pháp phát triển kinh tế di sản
Quan điểm phát triển bền vững của kinh tế di sản
Kinh tế di sản phải xác định phát triển bền vững là định hướng lâu dài, xuyên suốt. Kinh tế di sản phát triển bền vững cần phải dựa theo 4 trụ cột: văn hóa - môi trường - xã hội - kinh tế.
Bảo tồn di sản văn hóa: Phải xác định bảo tồn di sản là nguyên tắc hàng đầu, không hy sinh di sản để phát triển kinh tế bằng mọi giá, trong đó phải chú trọng “tích hợp một cách cẩn thận kinh tế vào văn hóa địa phương chứ không phải tích hợp văn hóa vào kinh tế”. Đặc biệt chú ý đến vòng đời, “tuổi thọ” của điểm và khu du lịch, chống sự quá tải trong việc đón khách.
Bảo vệ môi trường: Cần xây dựng một chiến lược sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường, xác định môi trường tự nhiên và cảnh quan sinh thái là điều kiện tiên quyết trong phát triển kinh tế di sản tương lai.
Về xã hội: Cần giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa lợi ích của các bên tham gia hoạt động kinh tế di sản, trong đó phải đề cao vai trò chủ nhân của cộng đồng địa phương trong hưởng lợi kinh tế di sản. Mặt khác, kinh tế di sản bền vững cũng phải chú ý đến vấn đề giới, vấn đề tỷ lệ thất nghiệp theo mùa, xóa bỏ các tệ nạn chèo kéo khách.
Về kinh tế: Bảo đảm sự hoạt động kinh tế di sản tồn tại lâu dài, trong đó khuyến khích toàn bộ người dân chuyển sang làm kinh tế du lịch, mà cần định hướng cộng đồng địa phương thực hành kinh tế truyền thống tham gia kinh doanh du lịch. Lợi nhuận của kinh tế di sản cần phải được phân bổ một cách công bằng, ổn định, đóng góp cho việc xóa đói giảm nghèo ở địa phương, cân bằng giữa sự phát triển kinh tế truyền thống và phát triển du lịch.
Giải pháp phát triển kinh tế di sản
(i) Về ban hành các thể chế, hoạch định chính sách quản lý: Trước mắt, cần bổ sung các quy định về di sản văn hóa; sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch về vai trò của cộng đồng với bảo tồn di sản, vai trò và quyền lợi của cộng đồng trong phát triển kinh tế di sản. Nêu rõ các điều, khoản về sự hài hòa giữa bảo tồn di sản văn hóa với phát triển du lịch, đặc biệt chú trọng đến quyền sở hữu của di sản…
(ii) Xây dựng chính sách linh hoạt, hiệu quả về trùng tu, tôn tạo di tích, về bảo tồn di sản: chủ động phân cấp quản lý di tích cho chính quyền và cộng đồng cư dân địa phương phù hợp với thực tiễn. Mặt khác, xây dựng chính sách xã hội hóa và trùng tu tôn tạo di tích, trong đó quy định về quyền lợi và trách nhiệm của người đóng góp vốn trùng tu tôn tạo, quyền lợi và trách nhiệm của chính quyền địa phương quản lý di tích.
(iii) Xây dựng “Quỹ trùng tu tôn tạo di sản”: trong đó quy định rõ nguồn thu từ kinh tế di sản đóng góp, các nguồn thu do doanh nghiệp, nhà hảo tâm ủng hộ cho “Quỹ trùng tu tôn tạo di sản”. Xây dựng các quy định về quản lý Quỹ mang tính chất minh bạch, công khai, khoa học và hiệu quả.
(iv) Tăng cường nghiên cứu kinh tế di sản và quy hoạch kinh tế di sản: Kinh tế di sản là một ngành kinh tế mới. Kinh tế di sản sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế. Kinh tế di sản là động lực quan trọng để bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc. Vì vậy, cần phải chú trọng nghiên cứu khoa học về kinh tế di sản. Trước hết là cần nhận diện các loại hình kinh tế trong ngành kinh tế di sản. Từ đó, phân tích đặc trưng, đặc điểm cũng như giá trị của kinh tế di sản, xử lý các mâu thuẫn phát sinh khi phát triển kinh tế di sản ở cơ sở. Mặt khác, cũng cần phải tiến hành quy hoạch các loại hình trong ngành kinh tế di sản. Xây dựng cơ chế chính sách nhằm khuyến khích, phát triển kinh tế di sản theo ba nguyên tắc: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa.
5. Kết luận
Kinh tế di sản là một ngành kinh tế còn non trẻ. Các nhà khoa học trên thế giới mới đề cập đến kinh tế di sản vào thập kỷ 90 của TK XX. Còn các nhà khoa học Việt Nam mới nghiên cứu trong một vài năm gần đây. Vận dụng ba nguyên tắc văn hóa: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa nhằm tìm hiểu đặc điểm, cơ chế chung như quan điểm và giải pháp phát triển của kinh tế di sản ở Việt Nam. Từ đó, hy vọng kinh tế di sản Việt Nam sẽ được nhiều nhà khoa học coi trọng, góp phần tạo động lực cho văn hóa Việt Nam phát triển.
___________________________
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Tuấn An. (2023, 23 tháng 8). Kinh tế là gì? Các loại mô hình kinh tế ở Việt Nam, luatminhkhue.vn.
2. Đặng Thị Phương Anh - Bùi Thị Thu Vân. 2018. Phát triển du lịch bền vững. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Bùi Đại Dũng. (2022, 8 tháng 2). Lượng giá trị di sản văn hóa vật thể, lý thuyết & nghiên cứu thực tế tại phố cổ Hội An. vnu.edu.vn.
4. Bùi Minh Hào. 2021. Nhận thức về kinh tế di sản và việc phát triển kinh tế di sản ở Nghệ An hiện nay. Tạp chí Khoa học - công nghệ Nghệ An, số 8, tr.34.
5. Hà Hữu Nga. (2017, 18 tháng 12), Kinh tế học Di sản, https://kattigara-echo.blogspot.com.
6. Hà Hữu Nga. (2023, 13 tháng 2). Kinh tế học Di sản - Giá trị & Định giá. https://kattigara-echo.blogspot.com.
7. Phạm Quỳnh Phương. 2022. Kinh tế học di sản: vốn văn hóa, định giá di sản và những thách thức. Khoa các Khoa học Liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội.
8. Nguyễn Công Thành. (2019, 19 tháng 12). Ước lượng giá trị kinh tế di sản trong tiến trình phát triển. https://taichinhdoanhnghiep.net.vn
9. Nguyễn Công Thành. (2020, 20 tháng 7). Ước lượng giá trị kinh tế văn hóa trong tiến trình phát triển đô thị bền vững. https://khoamoitruongdothi.neu.edu.vn.
10. Đỗ Thị Thanh Thủy (Chủ biên). 2024. Bảo vệ và phát huy tài nguyên di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh bền vững ở Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
11. UNESCO. 2003. Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage, Article 2.3 (Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa Phi vật thể, Điều 2(3)).
TS TRẦN HỮU SƠN, Viện trưởng Viện Văn hóa dân gian ứng dụng
Nguồn: Tạp chí VHNT số 630, tháng 1-2026