Câu hỏi đặt ra là, chúng ta phải bảo tồn như thế nào để những giá trị di sản văn hóa có thể phục vụ thiết thực chiến lược phát triển văn hóa nêu ở trên.

Untitled2.jpg
Danh thắng Tràng An - Ảnh: Ninh Mạnh Thắng

1. Kiến tạo và duy trì những điều kiện cần và đủ cho phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam

Điều kiện cần là những tiền đề cơ bản phải được thiết lập để quá trình xây dựng và phát triển văn hóa có thể diễn ra, đặc biệt trong bối cảnh khát vọng vươn mình của Việt Nam và quá trình toàn cầu hóa, cách mạng công nghiệp 4.0 trên toàn thế giới. Có 4 điều kiện quan trọng là:

Về mặt nhận thức xã hội, văn hóa phải được đặt ngang hàng, bình đẳng với kinh tế và chính trị. Đưa văn hóa và con người vào vị trí trung tâm của tất cả các chiến lược phát triển phải có sự quán triệt thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến tận cơ sở làng xã, gia đình và trường học…

Về mặt thể chế và luật pháp, phải xây dựng hệ thống pháp lý đồng bộ và hoàn chỉnh. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích sự sáng tạo cho phát triển văn hóa. Thể chế cởi mở để giải phóng năng lực sáng tạo của các cá nhân, chuyển đổi từ chức năng quản lý Nhà nước sang chức năng phục vụ và kiến tạo phát triển văn hóa.

Về môi trường văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Tạo ra sự hài hòa giữa các môi trường: văn hóa gia đình (nếp nhà/ gia phong) - văn hóa học đường (kỷ cương, trí tuệ) - văn hóa xã hội (công bằng, thượng tôn pháp luật). Phải coi đây là bộ lọc văn hóa - sức đề kháng giúp chống lại sự xâm nhập của văn hóa phẩm độc hại, ngăn chặn sự xuống cấp đạo đức.

Về đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư tương xứng và hiệu quả cho những hoạt động cần ưu tiên. Coi đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho con người và phát triển bền vững và cũng là đầu tư cho tương lai. Phải tăng cường mức chi ngân sách cho văn hóa, đặc biệt là giáo dục, y tế và các thiết chế văn hóa cơ sở trong đó có bảo tồn di sản văn hóa, bảo tàng, thư viện, nhà hát v.v.

Điều kiện đủ là những yếu tố thúc đẩy phát triển văn hóa một cách mạnh mẽ, có tính chất đột phá, giúp cho văn hóa và con người Việt Nam không chỉ tồn tại mà còn tạo ra ưu thế cạnh tranh và vươn tầm quốc tế (thương hiệu quốc gia, đóng góp cho văn hóa thế giới) với 4 yếu tố cơ bản là:

Hệ giá trị cốt lõi, xác lập và hiện thực hóa hệ giá trị con người Việt Nam mới. Phải làm sao cho hệ giá trị cốt lõi mang tính truyền thống và tính thời đại: yêu nước - đoàn kết - tự cường - nghĩa tình - trung thực - trách nhiệm - kỷ cương - sáng tạo được thấm nhuần, sâu rộng trong mọi lĩnh vực đời sống.

Về năng lực sáng tạo, khởi động và phát huy tối đa năng lực sáng tạo của cá nhân và đặc biệt là thế hệ trẻ. Thúc đẩy tư duy phản biện, khuyến khích tôn trọng sự khác biệt, tôn trọng hiền tài trong lĩnh vực văn hóa, khoa học, nghệ thuật. Con người phát triển toàn diện phải là người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và có khả năng đổi mới.

Phát triển công nghiệp văn hóa, biến văn hóa thành sức mạnh mềm và nguồn thu kinh tế. Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa (âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, thời trang, du lịch văn hóa, nội dung số…) nhằm tạo ra giá trị gia tăng, tạo việc làm chất lượng cao và quảng bá văn hóa quốc gia một cách chuyên nghiệp, làm cho hình ảnh Việt Nam ngày càng đẹp hơn, đáng tin cậy hơn trong lòng bạn bè quốc tế.

Về hội nhập quốc tế, chủ động tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại và quảng bá bản sắc văn hóa Việt Nam ra thế giới. Đặt mục tiêu phát huy “sức mạnh mềm” của văn hóa Việt Nam trong quan hệ quốc tế, tiếp thu khoa học, công nghệ và các giá trị tiến bộ của nhân loại đồng thời khẳng định rõ bản sắc văn hóa của Việt Nam.

Trong bối cảnh mới (trong nước và thế giới), điều kiện cần là phải hóa giải thách thức nội tại (sự xuống cấp đạo đức, thể chế chưa hoàn thiện) bằng cách đặt văn hóa và con người vào vị trí nền tảng. Điều kiện đủ là phải tận dụng cơ hội từ bên ngoài (công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế) bằng cách phát triển năng lực sáng tạo và công nghệ để con người Việt Nam trở thành nguồn lực và động lực mạnh mẽ nhất cho phát triển đất nước.

2. Tích hợp các mặt giá trị văn hóa gia đình, văn hóa học đường và văn hóa xã hội làm nền tảng để phát triển toàn diện con người Việt Nam

Để phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và con người Việt Nam theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần các Nghị quyết quan trọng (Nghị quyết Trung ương 5, khoá VIII, Kết luận số 76 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội XIII và Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng) chúng ta cần nhận thức rõ nội hàm và giá trị cốt lõi của ba khái niệm văn hóa gia đình, văn hóa học đường và văn hóa xã hội.

Thứ nhất, văn hóa gia đình là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần tốt đẹp được sáng tạo, tích lũy, gìn giữ và truyền lại qua nhiều thế hệ trong một gia đình cụ thể/ “tế bào cơ bản” của xã hội. Nó được thể hiện qua: tư tưởng thái độ (quan điểm về đạo đức, lối sống trách nhiệm); hành vi ứng xử (cách nói năng, ăn uống, đi đứng, đối xử hiếu thảo với cha mẹ, yêu thương con cái, chung thủy vợ chồng); môi trường sống (sự ngăn nắp, sạch sẽ, bầu không khí hòa thuận, đầm ấm giữa các thành viên trong gia đình).

Các giá trị cốt lõi của văn hóa gia đình Việt Nam được đúc kết từ 1000 năm lịch sử và được Đảng và Nhà nước định hướng phát triển trong giai đoạn hiện nay là: tình yêu thương, chung thủy vợ chồng - nền tảng bền vững của gia đình; hiếu thảo và kính trọng ông bà, cha mẹ. Đây là giá trị truyền thống quan trọng nhất thể hiện sự biết ơn và tôn kính; nuôi dưỡng và giáo dục (thái độ, tình yêu của cha mẹ với con cái) - đây là trường học đầu đời và quan trọng nhất cho mỗi cá nhân; hòa thuận, hạnh phúc và chia sẻ. Đó không chỉ là không khí hòa hợp, không bạo lực, xung đột, các thành viên trong gia đình luôn lắng nghe, thấu hiểu và nhường nhịn lẫn nhau, cùng nhau gánh vác công việc gia đình, chăm sóc lúc ốm đau, giúp nhau khi hoạn nạn; tinh thần học tập và lao động. Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo được bắt nguồn từ gia đình, bởi các thế hệ cha ông luôn khuyến khích con cháu tự nguyện học tập, tu dưỡng để thành người, hướng dẫn tinh thần học tập, ý thức lao động chân chính và sống có trách nhiệm với bản thân và xã hội.

Văn hóa gia đình chính là giá trị tạo nên sức mạnh nội tại, giúp gia đình vượt qua thử thách, là nơi nuôi dưỡng tâm hồn và tôi luyện những công dân tốt cho xã hội, góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, thịnh vượng.

Thứ hai, văn hóa học đường/văn hóa nhà trường là hệ thống giá trị, chuẩn mực, niềm tin, thói quen và truyền thống được hình thành, duy trì và phát triển trong môi trường giáo dục (nhà trẻ, mẫu giáo, trường phổ thông, đại học, dạy nghề) nó bao gồm: văn hóa vật thể (cấu trúc): kiến trúc, cơ sở vật chất, đồng phục, logo, khẩu hiệu và các nghi lễ, sự kiện của trường; văn hóa phi vật thể là các quy tắc ứng xử (thày trò/ bạn hữu) phương pháp giảng dạy, thái độ làm việc, học tập, mối quan hệ giữa các thành viên: giáo viên - giáo viên,  giáo viên - học sinh, học sinh - học sinh, nhà trường - phụ huynh và truyền thống lịch sử của nhà trường.

Trong bối cảnh phát triển đất nước và hội nhập quốc tế, chúng ta cần tôn vinh và xây dựng các giá trị cốt lõi trong văn hóa học đường là:

(i) tôn trọng và lắng nghe - coi đây là giá trị nền tảng của mọi quan hệ trong môi trường giáo dục: học sinh tôn trọng thầy cô, cán bộ quản lý, người lao động trong trường. Giáo viên tôn trọng học sinh, lắng nghe ý kiến, thấu hiểu khát vọng của học trò. Tôn trọng sự khác biệt về năng lực, hoàn cảnh, giới tính, vùng miền, tộc người của mỗi cá nhân, tạo điều kiện bình đẳng cho mọi học sinh có cơ hội phát triển;

(ii) học tập sáng tạo suốt đời. Tri thức cũng chính là giá trị cốt lõi của nhà trường cần được tôn vinh. Trước hết là khuyến học, đề cao tinh thần ham học hỏi, tự tìm tòi, nghiên cứu và chủ động tiếp cận tri thức. Tiếp theo là sáng tạo, khuyến khích tư duy phản biện, đổi mới, không rập khuôn, tạo không gian cho học sinh thể hiện ý tưởng và giải quyết vấn đề. Và cuối cùng là tinh thần tự chủ, rèn luyện cho học sinh khả năng tự học tập, tự quản lý, chuẩn bị cho việc học tập suốt đời;

(iii) trách nhiệm và “kỷ luật tích cực” được hiểu theo nghĩa xây dựng ý thức trách nhiệm cá nhân và cộng đồng với 3 biểu hiện cụ thể: giáo dục học sinh có trách nhiệm với việc học tập, giữ gìn tài sản chung và bảo vệ môi trường; thực hiện nghiêm túc các quy định của nhà trường một cách tự nguyện thay vì bị ép buộc. Thay thế các hình thức kỷ luật tiêu cực bằng kỷ luật tích cực theo cách đối thoại, khích lệ; xây dựng tinh thần đoàn kết, hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, đặc biệt trong hoạt động nhóm/ xây dựng cộng đồng học tập thân thiện;

(iv) tính liêm chính và trung thực. Đây là giá trị cốt lõi không thể thiếu trong môi trường giáo dục và học thuật. Nó được biểu hiện ở hai khía cạnh chính là: liêm chính trong học đường là tinh thần học thật, chống gian lận trong thi cử, sao chép (đạo văn); tôn trọng bản quyền và thành quả nghiên cứu của người khác; tính trung thực thể hiện sự thật thà trong lời nói/ hành động và báo cáo.

Văn hóa học đường yêu cầu không chỉ xây dựng cơ sở vật chất đẹp đẽ mà quan trọng hơn là xây dựng một hệ thống giá trị tinh thần giúp học sinh “học làm người” trước khi “học làm nghề”, từ đó hình thành những công dân có tri thức, đạo đức và trách nhiệm cao đối với xã hội.

Thứ ba, văn hóa xã hội. Việc làm rõ khái niệm văn hóa xã hội và giá trị cốt lõi của nó là điều kiện tiên quyết để định hướng mọi chiến lược phát triển quốc gia.

Nội hàm khái niệm văn hóa xã hội: văn hóa xã hội là toàn bộ hệ thống các giá trị, chuẩn mực, niềm tin, phong tục, lối sống, các hình thái nghệ thuật và quan hệ xã hội được con người sáng tạo tạo ra, tích lũy qua lịch sử và được chấp nhận, chia sẻ rộng rãi trong một cộng đồng, quốc gia nhằm đáp ứng nhu cầu sinh tồn và mục đích sống của xã hội đó. Nó bao gồm 5 yếu tố cấu thành quan trọng là:

 (i) hệ giá trị và niềm tin (trong đó có tín ngưỡng, tôn giáo), trong đó yếu tố cốt lõi nhất là nguyên tắc đạo đức, triết lý sống (tinh thần yêu nước, Ý thức đoàn kết cộng đồng, khả năng thích ứng vượt qua mọi thử thách, tinh thần nhân hòa, vị tha, tinh thần hòa hiếu…) được xã hội thừa nhận là tốt đẹp và tiếp tục theo đuổi trong xã hội hiện đại;

(ii) chuẩn mực và luật lệ. Đó là những quy tắc ứng xử, pháp luật và đạo lý điều chỉnh hành vi của cá nhân trong quan hệ xã hội;

(iii) phong tục tập quán là những thói quen, nếp sống được lưu truyền qua nhiều thế hệ, thể hiện bản sắc riêng của cộng đồng;

(iv) những sản phẩm vật thể mang dấu ấn tinh thần và kỹ thuật của cộng đồng (kiến trúc, trang phục truyền thống, đặc sản địa phương);

(v) hoạt động tinh thần trong các lĩnh vực sáng tạo tạo tri thức và cảm xúc (khoa học giáo dục, nghệ thuật, tôn giáo, truyền thống…).

Giá trị cốt lõi của văn hóa xã hội chính là những giá trị cơ bản, bền vững nhất, được đa số thành viên trong xã hội thừa nhận, tạo nên bản sắc và hiện thực chức năng định hướng hành vi của các cá nhân và cả cộng đồng. Giá trị cốt lõi của văn hóa xã hội được thể hiện qua ba vai trò quan trọng không thể thay thế:

(i) là nền tảng tinh thần, bởi vì văn hóa là gốc rễ, là hệ điều hành định hướng cho sự phát triển của chính trị, kinh tế và xã hội;

(ii) là động lực nội sinh, văn hóa khơi dậy ý chí tự cường và khát vọng phát triển trong mỗi cá nhân và dân tộc. Nó chuyển hóa thành sức mạnh vật chất thông qua đổi mới và sáng tạo để phát triển đất nước;

(iii) thể hiện bản sắc dân tộc, văn hóa là yếu tố duy nhất giúp Việt Nam khác biệt trên trường quốc tế, tạo nên sức mạnh mềm, giúp bảo vệ độc lập, chủ quyền và khẳng định vị thế quốc gia trong quá trình hội nhập.

Văn hóa xã hội là chiếc khung định hình tư duy và hành động tập thể, và giá trị cốt lõi của nó là kim chỉ nam hướng con người đến sự phát triển toàn diện, làm cho dân tộc trở nên phồn vinh và hạnh phúc, có thể sánh vai với các cường quốc năm châu như lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu.

Qua những nội dung trình bày ở trên, có thể tạm kết luận: văn hóa xã hội là nền tảng tinh thần - gia đình là tế bào tạo ra những công dân có đạo đức - học đường là nơi nâng cao tri thức và kỹ năng sống, từ đó cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội. Đây là chu trình liên hoàn giúp văn hóa thúc đẩy kinh tế và chính trị. Và việc tích hợp các mặt giá trị mang tính tương hỗ giữa văn hóa gia đình, văn hóa học đường và văn hóa xã hội là tạo ra một hệ sinh thái văn hóa đồng bộ và bền vững, đảm bảo cho mục tiêu phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam toàn diện được thực hiện hiệu quả, không bị mâu thuẫn và đứt gãy trong suốt cuộc đời của mỗi con người.

3. Đổi mới sáng tạo trong bảo tồn di sản văn hóa - đòn bẩy phát triển văn hóa và con người Việt Nam thời kỳ mới

Thời kỳ mới với đặc trưng là hội nhập quốc tế sâu rộng và sự bùng nổ của công nghệ đặt ra yêu cầu phải thay đổi căn bản cách tiếp cận đối với di sản văn hóa. Bảo tồn truyền thống không còn là việc “giữ nguyên trạng” “tĩnh tại và đông cứng”, mà phải là quá trình đổi mới sáng tạo để di sản trở nên sống động, hấp dẫn và phải tạo ra được giá trị mới: việc áp dụng tư duy sáng tạo trong bảo tồn di sản văn hóa chính là chìa khóa để biến di sản thành nguồn lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam toàn diện.

Định hướng lớn nêu trên cũng đã từng bước được thể hiện trong nội dung các Nghị quyết của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam. Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ 12 định hướng (hay mục tiêu) phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030, trong đó có định hướng thứ 4 đã khẳng định “phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước” (Toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. https://moj.gov.vn/). Một trong những nội dung cần góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, phần liên quan tới văn hóa có ghi rõ: “về phát triển mạnh mẽ, toàn diện văn hóa và xây dựng con người Việt Nam; xây dựng, thực hiện và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc” (Góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, 2025, 16 tháng 10. Báo Nhân Dân, tr.5).

Vấn đề đặt ra là, chúng ta cần đổi mới sáng tạo như thế nào trong bảo tồn di sản văn hóa góp phần thực hiện các mục tiêu cao đẹp nêu ra ở trên. Thực tế cho thấy, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và bùng nổ công nghệ, đổi mới sáng tạo trong bảo tồn di sản văn hóa có khả năng mang lại những đóng góp to lớn sau đây.

Thứ nhất, tác động đột phá lên chiến lược phát triển bằng sự kết hợp giữa di sản và đổi mới sáng tạo tạo ra những đột phá mạnh mẽ cho phát triển văn hóa:

(i) góp phần xây dựng nền tảng văn hóa tiên tiến qua công nghệ (công nghệ số hóa giúp di sản được giới thiệu một cách toàn diện, đa chiều và dễ tiếp cận hơn bao giờ hết). Điều này giúp tăng cường sự hiểu biết, minh bạch và dân chủ hóa văn hóa. Sáng tạo trong bảo tồn giúp tái tạo các yếu tố văn hóa truyền thống, sáng tạo các giá trị mới, xác lập thương hiệu quốc gia;

(ii) thúc đẩy sáng tạo và phát triển công nghiệp văn hóa bền vững (các di tích lịch sử, làng nghề, thiết kế văn hóa có thể trở thành các “phòng thí nghiệm sáng tạo”/ không gian thúc đẩy sáng tạo, nơi các nghệ nhân truyền thống có thể hợp tác với các nhà thiết kế, lập trình viên trẻ, tạo ra hệ sinh thái phát triển với việc hình thành các doanh nghiệp xã hội và khởi nghiệp văn hóa dựa trên các di sản được bảo tồn bền vững. Một khu di sản tự tạo ra sinh kế và nguồn thu, nó sẽ trở nên bền vững về tài chính, giảm gánh nặng cho ngân sách và thúc đẩy văn hóa thực sự là động lực phát triển.

Thứ hai, bảo tồn bền vững di sản góp phần nâng tầm con người Việt Nam bằng tinh thần đổi mới. Đổi mới sáng tạo trong bảo tồn di sản văn hóa có tác dụng sâu sắc trong việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, tự tin vào bản lĩnh:

(i) bồi dưỡng lòng tự hào đi đôi với tư duy mở thông qua kết nối thế hệ. Sử dụng công nghệ thành cầu nối giúp thế hệ trẻ cảm thấy di sản gần gũi và thú vị, từ đó tự nguyện học hỏi và tham gia bảo tồn di sản văn hóa. Lòng tự hào dân tộc được củng cố bằng phương tiện hiện đại; khuyến khích tư duy phản biện và sáng tạo thông qua việc giải mã, phục dựng, tu bổ và phát huy giá trị di sản, tuổi trẻ sẽ học được phương pháp tư duy hệ thống, khoa học và khả năng giải quyết vấn đề sáng tạo, giúp rèn luyện phẩm chất, kỹ năng sống của con người thời kỳ cách mạng 4.0;

(ii) hình thành nhân cách tích cực và có trách nhiệm. Xây dựng Ý thức cộng đồng mỗi khi tham gia vào các dự án bảo tồn di sản thông qua nền tảng số hoặc cộng đồng giúp đỡ cá nhân nâng cao trách nhiệm xã hội, không chỉ với gia đình, tổ quốc mà còn đối với di sản của nhân loại; ứng dụng công nghệ trong bảo tồn còn giúp cộng đồng được trải nghiệm thực tế ảo hoặc tương tác trực tiếp qua phương tiện công nghệ hiện đại, từ đó việc giáo dục đạo đức, nhân cách sẽ có hiệu quả và tạo ấn tượng sâu sắc hơn.

Thứ ba, đổi mới sáng tạo trong bảo tồn di sản văn hóa cần có sự hậu thuẫn của công nghệ số. Công nghệ tiên tiến trợ lực cho việc giải quyết những vấn đề đặt ra trong yêu cầu bảo tồn di sản văn hóa:

(i) công nghệ số cho phép lập bản đồ di sản, tạo mô hình tham quan ảo và phục dựng các giá trị văn hóa phi vật thể đang có nguy cơ bị mai một (tạo cơ sở dữ liệu về di sản). Đây là cách bảo tồn vĩnh cửu và phổ biến nhất;

(ii) Công nghệ hỗ trợ chuyển từ mô hình bảo tồn bằng ngân sách Nhà nước sang mô hình kinh tế di sản sáng tạo. Di sản trở thành trung tâm để hình thành các chuỗi giá trị kinh tế mới (du lịch di sản, công nghiệp văn hóa);

(iii) công nghệ cho phép sử dụng mạng xã hội và các nền tảng số để thu hút thế hệ trẻ tham gia vào quá trình bảo tồn, biến họ từ người thụ hưởng thụ động thành chủ thể tích cực trong việc bảo vệ và làm giàu di sản.

Thứ tư, đổi mới sáng tạo trong bảo tồn di sản văn hóa yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đột phá. Để bảo tồn di sản thực sự trở thành nguồn lực phát triển cần thực hiện đồng bộ các giải pháp:

(i) đổi mới nhận thức và cơ chế, chính sách: thực hiện nhất quán quan điểm bảo tồn gắn với phát triển hay bảo tồn trong sự phát triển tiếp nối. Xây dựng cơ chế đột phá khuyến khích xã hội hóa và thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào bảo tồn và phát huy giá trị di sản dưới hình thức “hợp tác công - tư trong bảo tồn di sản văn hóa”;

(ii) đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong bảo tồn di sản văn hóa: xây dựng ngân hàng dữ liệu số quốc gia về di sản, xây dựng VR/AR để quảng bá, giáo dục di sản một cách hấp dẫn, đặc biệt là giới trẻ. Ứng dụng công nghệ để xây dựng hồ sơ về các di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một;

(iii) phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng: đặt con người là trung tâm các hoạt động bảo tồn. Đề cao vai trò của nghệ nhân và cộng đồng địa phương, tạo điều kiện để họ trở thành chủ thể chính trong việc quản lý và thụ hưởng lợi ích từ di sản. Đưa giáo dục di sản vào các chương trình chính khóa và ngoại khóa của các trường học, cơ sở đào tạo, biến di sản thành nội dung giáo dục thường xuyên trong văn hóa gia đình và văn hóa học đường.

Tóm lại, bảo tồn di sản văn hóa là mệnh lệnh của lịch sử và là chìa khóa cho sự thịnh vượng bền vững. Bằng cách đổi mới sáng tạo trong bảo tồn di sản văn hóa, Việt Nam không chỉ giữ được “căn cước văn hóa” của mình mà còn tạo ra nguồn lực nội sinh vô tận, đảm bảo rằng văn hóa và con người Việt Nam sẽ trở thành sức mạnh mềm vững chắc, giúp đất nước phát triển, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới (1).

_______________________

1. Tham luận tại hội thảo khoa học “Những quan điểm mới của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa trong Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV” do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tổ chức ngày 30-10-2025.

PGS,TS ĐẶNG VĂN BÀI,

Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản Văn hóa quốc gia, Nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa

Nguồn: Tạp chí VHNT số 630, tháng 1-2026