Di dan 1_result.jpg
Tuyên Quang mùa hoa Tam giác mạch

Tình trạng di cư lao động từ nông thôn ra thành thị đang tạo ra nhiều thay đổi đối với cấu trúc xã hội, trong đó có dời sống văn hóa truyền thống ở các làng quê. Đây là vấn đề đã được các nhà khoa học nghiên cứu và xác định được một số vấn đề tác động. Trước hết là vấn đề đứt gãy truyền thống văn hóa. Lực lượng lao động vốn là chủ thể kế thừa văn hóa truyền thống, tuy nhiên khi rời đi khỏi làng quê của mình, họ sẽ ít có thời gian để tham gia các hoạt động văn hóa truyền thống như các lễ hội truyền thống – nơi diễn ra tổng hòa các hoạt động văn hóa dân tộc của quê hương họ như: lễ nghi, tín ngưỡng, ngôn ngữ, văn nghệ dân gian, trang phục, ẩm thực… Vì vậy, họ không được thường xuyên kế thừa các giá trị văn hóa truyền thống. Thứ hai, đó là nguy cơ mai một văn hóa truyền thống. Văn hóa truyền thống thường được truyền lại qua hình thức truyền khẩu, thực hành từ thế hệ cao niên cho thế hệ trẻ, tuy nhiên khi lực lượng lao động rời khỏi làng quê, người ở lại là các thế cao niên nếu không được truyền dạy văn hóa dân tộc kịp thời khi họ mất đi nguy cơ mai một văn hóa sẽ xảy ra. Thứ ba, nguy cơ thay đổi hệ giá trị văn hóa và lối sống. Khi người lao động đến lao động ở nơi khác, trong thời gian đó, họ sẽ được tiếp thu nhiều giá trị văn hóa và lối sống khác so với nơi họ sinh ra và lớn lên và vì vậy khi họ trở lại làng quê của mình họ mang theo những giá trị văn hóa và lối sống đó hòa với không gian văn hóa truyền thống thì nguy cơ biến đổi văn hóa dễ xảy ra.  

Tuy nhiên, nhìn từ góc độ khác, việc di cư lao động cũng có nhiều tác động tích cực đến đời sống văn hóa truyền thống ở làng quê. Trước hết, góp phần lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống. Lực lượng lao động được sinh ra và lớn lên ở làng quê khoảng thời gian dài trong độ tuổi trưởng thành được tiếp thu kế thừa văn hóa truyền thống, khi họ rời đi họ mang theo giá trị văn hóa đó và họ thực hành nơi họ đến lao động sẽ làm giá trị văn hóa đó được lan tỏa. Thứ hai, xây dựng ý thức về bản sắc quê hương và nâng cao trách nhiệm gìn giữ bảo vệ bản sắc văn hóa quê hương. Văn hóa là sợi dây kết nối, trong môi trường mới họ tìm đến nhau thông qua văn hóa và từ đó tạo thành cộng đồng văn hóa chung mang đậm bản sắc quê hương. Khi tình yêu quê hương được tôn vinh, việc gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy. Thứ ba, ở nơi lao động mới, người lao động được tiếp thu nhiều giá trị văn hóa mới và nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp, tiên tiến được họ tiếp cận khi quay trở về làng quê họ có ý thức vận dụng vào đời sống góp phần làm tăng giá trị văn hóa làng quê và cải tiến nhiều hủ tục, tập quán lạc hậu trong cộng đồng. 

Di dan 2_result.jpg
Ruộng bậc thang ở Thông Nguyên

Có thể nói rằng, di cư lao động là xu hướng trong quá trình phát triển kinh tế. Vấn đề không phải là ngăn cản di cư lao động mà là tìm cách duy trì sự kết nối giữa người rời làng và đời sống văn hóa của làng để bản sắc văn hóa địa phương không bị đứt gãy.

Đối với Tuyên Quang, địa phương đa dân tộc với những giá trị văn hóa truyền thống độc đáo, song cũng có lực lượng di cư đi lao động tương đối lớn. Với mục tiêu bảo tồn văn hóa truyền thống, tỉnh có nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề này. Trước hết, tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn về văn hóa của tỉnh đã tổ chức kiểm kê nhận diện các giá trị văn hóa truyền thống của tỉnh, lập hồ sơ di sản, số hóa di sản, phục dựng bảo tồn di sản… để di sản văn hóa dân tộc được bảo lưu, bảo tồn, phát huy sâu rộng trong cộng đồng. Thứ hai, đối với các chủ thể sáng tạo ra văn hóa dân tộc được sống, được tìm hiểu, được kế thừa, được giáo dục về văn hóa dân tộc mình với những giá trị cốt lỗi, với  tình yêu, niềm tự hào dân tộc. Điều này thể hiện ở các chính sách đưa văn hóa vào trong trường học, tổ chức các hoạt động trải nghiệm văn hóa và tham gia thực hành văn hóa dân tộc của tỉnh. Thứ ba, tập trung nguồn lực và các chính sách đặc thù để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Trong những năm qua, tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề, nhiều dự án, kế hoạch bảo tồn văn hóa và đặc biệt là đã tranh thủ nguồn lực từ các chương trình mục tiêu về văn hóa, phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi… tỉnh đã đầu tư nguồn lực lớn để phục dựng bảo tồn văn hóa. Ban hành chính sách hỗ trợ các nghệ nhân dân gian trong lĩnh vực văn hóa để tạo động lực và phát huy vai trò của chủ thể văn hóa trong việc truyền dạy văn hóa dân tộc trong cộng đồng. Thứ tư, biến văn hóa trở thành tài sản để phát triển kinh tế du lịch tạo sinh kế và thu nhập cho cộng đồng. Điều này vừa làm tỏa sáng văn hóa, vừa lấy văn hóa làm nguồn lực phát triển kinh tế xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng và đang tạo ra nhiều sinh kế cho lực lượng lao động ở địa phương. Thứ năm, thường xuyên thực hiện các chiến lược tôn vinh, quảng bá văn hóa thông qua các hoạt động tổ chức các sự kiện văn hóa truyền thống như lễ hội truyền thống, liên hoan dân ca dân vũ, nhạc cụ dân tộc…. và tham gia các chiến dịch bình chọn điểm đến văn hóa trong nước và quốc tế góp phần củng cố niềm tin, lòng tự hào dân tộc để bảo tồn văn hóa. Thứ sáu, tỉnh đã và đang khôi phục các làng nghề truyền thống, phát triển một số ngành công nghiệp văn hóa để đưa giá trị văn hóa thành các giá trị kinh tế thực hiện mục tiêu kép phát triển kinh tế gắn với bảo tồn văn hóa dân tộc… Đó là những hành động cụ thể để Tuyên Quang thực hiện mục tiêu vừa phát triển kinh tế, xã hội vừa bảo tồn các giá trị văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, cũng cần có cơ chế phối hợp với các cơ sở tuyển dụng lao động có chính sách bảo tồn văn hóa dân tộc như: hình thành nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng, tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa và các hoạt động trải nghiệm văn hóa… cho đối tượng lao động tại khu, cụm công nghiệp để người lao động có không gian sinh hoạt, trình diễn văn hóa dân tộc mình góp phần nuôi dưỡng văn hóa.

Bài và ảnh: NGUYỄN HOÀI

Nguồn: Tạp chí VHNT số 637, tháng 3-2026