
NHÀ KHOA HỌC “NGOÀI LỀ”, DẤN THÂN
Từ Chi (Nguyễn Đức Từ Chi, 1925-1995), sinh tại Huế, trong một gia đình Nho học có truyền thống yêu nước, gốc ở xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Thời học sinh, ông theo học Trường Trung học Pellerin ở Huế, đỗ tú tài toàn phần Ban Triết học văn chương năm 1945. Kháng chiến bùng nổ, ông vào bộ đội, là chính trị viên đại đội, tham gia chiến đấu tại chiến trường Nam Trung Bộ, được kết nạp vào Đảng tại mặt trận.
Từ Chi đến với Dân tộc học rất sớm và tự nhiên. Khi còn học phổ thông, ông theo cha là Bác sĩ Nguyễn Kinh Chi và chú ruột là Giáo sư Nguyễn Đổng Chi lên Kon Tum, nơi hai bậc cha chú tìm hiểu về tộc người Ba-na. Ông cũng từng gặp gỡ nữ học giả người Pháp Jeanne Cuisinier (1891-1965), chuyên gia nghiên cứu người Mường, qua đó thêm gắn bó với Dân tộc học.
Năm 1953, Từ Chi tham gia giảm tô và cải cách ruộng đất ở một số địa phương. Ngoài nhiệm vụ “Thư ký đội”, ông tranh thủ tìm hiểu Dân tộc học theo kiểu “tay trái”, ghi chép về sở hữu ruộng đất, các giai tầng, giai cấp và quan hệ xã hội nông thôn qua quan sát thực địa và hỏi han người dân. Từ những tư liệu, số liệu đó, ông đưa ra luận điểm về “Ba thông số cơ bản” quy định diện mạo làng Việt trước Cách mạng, sau được dẫn lại trong Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền: chế độ ruộng đất tư và sự tồn tại của công điền, công thổ; xã hội phân hóa giai cấp; xã hội tiểu nông.
Năm 1960, Từ Chi tốt nghiệp Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, về công tác tại Thông tấn xã Việt Nam một thời gian, rồi được cử đi làm chuyên gia giáo dục tại Ghinée. Tại đây, lòng đam mê và trí thông minh trời phú, cùng óc khái quát cao đã giúp ông phát hiện ra nhiều vấn đề của dân tộc học châu Phi. Ông dành thời gian sưu tầm các nguồn tư liệu Dân tộc học trong các cơ quan lưu trữ và tiến hành nhiều cuộc điền dã ở một số địa bàn để đi vào nghiên cứu Đế quốc Songhai Tây Phi (Gao), xây dựng luận án Phó tiến sĩ về đề tài này. Nhưng rồi, việc ông kết duyên với một người phụ nữ Việt lưu lạc tại đây đã buộc ông phải rời Ghinée, bỏ dở công việc chuyên gia, cũng bỏ dở nghiên cứu và làm luận án.
Về nước, ông phải “bôn ba” ở nhiều cơ quan, có thời gian làm việc ở Viện Dân tộc học, nhưng rồi cũng không trụ lại được lâu vì nhiều người đố kỵ với tài năng và tính cách của ông. Điểm cuối cùng ông trụ lại, tương đối lâu là Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật (nay là Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật). Trong 15 năm công tác ở đây (1973-1987), ông “hóa thân” thành người rất đỗi bình thường, thậm chí “người xuềnh xoàng” (thể hiện nhất qua cách ăn mặc), khiến cho nhiều người tiếp xúc ban đầu với ông đều không thiện cảm. Nhưng ông “buông bỏ” tất cả, dồn trí, lực và thời gian vào nghiên cứu Dân tộc học. Ông nghiên cứu không chịu theo sự định hướng của một cơ quan chuyên môn nào, mà theo sở thích, độc lập mày mò. Chính vì thế, nhiều người gọi ông là “Nhà dân tộc học ngoài lề”. Nhưng chính sự “ngoài lề” đó giúp ông thoải mái, tự do và chủ động hơn trong nghiên cứu. Đối tượng được ông chọn để tìm hiểu là người Mường - tộc người có cùng nguồn gốc với người Việt, để nhằm tới đích xa hơn: giải mã các khía cạnh xã hội và văn hóa của người Việt. Trong 12 năm (từ 1967 đến cuối 1978), mỗi năm, ông đạp xe lên vùng người Mường, ăn ở với đồng bào hằng tháng trời và luân phiên các tháng theo từng năm, để nắm trọn được cuộc sống, nếp sống và nhịp sống trong một năm của người dân sở tại. Có năm ông ở lại thực địa ăn Tết với đồng bào, hòa vào nhịp sống chuyển giao năm cũ - năm mới của người dân sở tại. Ông tìm hiểu khá toàn diện về người Mường, từ trang phục nữ, trong đó, mấu chốt là hoa văn trên cạp váy Mường, đến các món ăn, nhà cửa; từ chế độ ruộng đất công và phân tầng xã hội đến mo Mường, tín ngưỡng của người Mường… Kết quả của những năm tháng lao động khoa học miệt mài, thầm lặng này là những tác phẩm để đời, như Hoa văn Mường (với ý tưởng chính là hoa văn trên cạp váy Mường tương đồng với hoa văn trên trống đồng Đông Sơn; từ đó, chứng minh văn hóa Đông Sơn, trống đồng Đông Sơn có nguồn gốc sở tại ở Bắc Bộ, mà chủ nhân là người Việt; cuốn Người Mường ở Hòa Bình giải mã các vấn đề về tín ngưỡng người Mường, với trọng tâm là vũ trụ luận Mường “ba tầng, bốn thế giới”, thông qua những đêm đọc mo, đưa người chết về cõi vĩnh hằng. Từ các tư liệu về người Mường, nhất là thiết chế giáp của tộc người này, ông quay về nghiên cứu đối sánh với người Việt trên nền tư liệu ông thu thập từ cuối thập niên 1950, giải mã được một vấn đề hệ trọng của xã hội người Việt: cấu trúc của làng trước Cách mạng Tháng Tám 1945, với tác phẩm để đời Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ. Đấy là hướng nghiên cứu “tìm hóa thạch trên biên”, mà gần như ông là người mở đường.

NGƯỜI THẦY NHÂN TỪ, HẾT LÒNG VÌ HỌC TRÒ
Ngoài những đóng góp “sừng sững” với ngành Dân tộc học, với các vấn đề của lịch sử - văn hóa nước nhà, Từ Chi dù không mang danh cán bộ giảng dạy của một trường đại học nào cả, nhưng đã truyền dạy không tính toán, không ngừng nghỉ, hết mình về nghề nghiệp với bao kiến thức và kinh nghiệm cho rất nhiều cán bộ nghiên cứu trẻ của các viện, các trường đại học khác nhau vào thập niên 1980. Các học trò không chỉ được ông truyền dạy các lý thuyết phương Tây, mà quan trọng nhất là chỉ bảo các phương pháp nghiên cứu, nhất là phương pháp điền dã. Với mỗi học trò, ông chỉ cho nhiều hướng (ý tưởng) nghiên cứu khác nhau phù hợp với năng lực, nói cho học trò biết với các đề tài đó, những gì ông đã làm được, chưa làm được và khuyên, gợi những việc học trò nên làm và cần làm. Đấy là lòng bao dung rất lớn của người làm khoa học, một người thầy chân chính. Ông cũng khuyên học trò làm khoa học phải thủy chung với đề tài nghiên cứu, không đứng núi này trông núi nọ, không nóng vội, ăn xổi, không vì bị đố kỵ, chê bai mà bỏ dở; trong nghiên cứu phải cố gắng dựa vào tư liệu gốc, hạn chế việc trích dẫn tư liệu của người khác; cũng luôn phải nghi ngờ (hay đặt lại vấn đề) với các nhận định, lập luận ý kiến của người đi trước mới đi đến cùng của chân lý khoa học. Rất nhiều cán bộ trẻ được ông dìu dắt trong thập niên 1980, nay đã trưởng thành, là các chuyên gia của nhiều khía cạnh lịch sử - văn hóa. Cùng với phong cách và kết quả nghiên cứu rực rỡ, việc truyền dạy của ông đã tạo nên một khuynh hướng nghiên cứu rất riêng trong ngành Dân tộc học Việt Nam, có thể hiểu như là một trường phái: Trường phái Dân tộc học Từ Chi.
NGƯỜI BIỆN TẬP THẬN TRỌNG, TẬN TỤY
Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật là nơi Từ Chi làm việc lâu nhất. Tại môi trường làm việc này, Từ Chi thể hiện rõ phẩm chất của một người làm khoa học thận trọng, tận tụy, năng lực tuyệt vời trong việc biên tập. Với mỗi bài, ông thận trọng dò từng câu chữ, để có thể sắp xếp lại, thay đổi vị trí các đoạn, các câu cho phù hợp, thay từ cho “đắt”. Nhiều đoạn của một bài được ông biên tập nhiều khi chữ của ông (viết chân phương, nắn nót, rất đẹp) nhiều hơn cả chữ của tác giả, cắt dán chi chít, ở trên, ở dưới, bên phải, bên trái của nhiều trang viết. Nhiều trường hợp, chưa hiểu hoặc nghi ngờ ý của tác giả bài viết, ông trực tiếp đến gặp để trao đổi, rồi mới biên tập. Các bài viết sau khi được ông biên tập từ chỗ rời rạc trở thành liên mạch, logic hơn rất nhiều; nhiều đoạn từ khô khan trở nên nhuần nhị, có hồn, hút người đọc.
Cuộc đời nghiên cứu Dân tộc học của Từ Chi âm thầm, lặng lẽ, nhưng dấn thân, quên mình, để cho ra đời những công trình riêng có, với những phát hiện mang tính “Đột sáng”, “Rực sáng” và “Độc sáng” (lời Giáo sư Trần Quốc Vượng). Ba cuốn sách về người Việt và người Mường đã nêu ở trên cùng cuốn Hoa văn các dân tộc Gia-rai, Ba-na của ông đã được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật, năm 2000. Ông được Nhà nước phong học hàm Phó Giáo sư (năm 1984). GS Trần Quốc Vượng đã tôn ông là “trí tuệ bậc thầy” và “Danh bất xứng kỳ tài, kỳ đức”. Tổng thống Pháp Jacques Chirac, trong bài phát biểu tại lễ khai trương Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (1997), đã tôn Từ Chi cùng với Nguyễn Văn Huyên là những bác học lớn, một tấm gương làm khoa học.
Tại cuộc Hội thảo kỷ niệm 100 năm ngày sinh, 30 năm ngày mất của Từ Chi do Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam và Viện Nghiên cứu Văn hóa tín ngưỡng Việt Nam tổ chức ngày 28/12/2025, các nhà khoa học đã kiến nghị cần sớm đặt tên Từ Chi cho một đường phố ở Hà Nội để tôn vinh những đóng góp của ông.
BÙI XUÂN ĐÍNH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 632, tháng 1-2026