Từ khóa: truyền thống; lịch sử văn hóa; Ký ức dòng Lam.
Abstract: The article focuses on analyzing the dance work Memories of the Lam river to illuminate the cultural identity and resilient spirit of the people in the Nghe region. The author portrays Nghe An as a land of harsh natural conditions yet rich historical traditions, where the Lam River serves as a central, recurring cultural symbol. The dance is structured into four parts: Purity - Turbidity - Humiliation - Glory. The work is not merely an artistic creation but also a testament to the proactive role of artists in preserving and promoting national identity. Through this, the article affirms that dance is an effective medium for connecting traditional values with contemporary aesthetic sensibilities in the era of integration.
Keywords: tradition; cultural history; Memories of the Lam river.

1. Đặt vấn đề
Ký ức dòng Lam là một câu chuyện về lịch sử đấu tranh của nhân dân xứ Nghệ bên dòng sông Lam. Con sông đã trở thành người bạn, người anh hùng không chỉ cùng sống với con người xứ Nghệ mà còn cùng họ chiến đấu để bảo vệ sự bình yên cho quê hương, đất nước. Họ lao động, họ sống, họ mưu sinh và chiến đấu, có những đau thương, có những mất mát. Họ đã cùng nhau đấu tranh và chiến thắng bằng tất cả sự đoàn kết, tình yêu quê hương đất nước và hơn hết là tình yêu với dòng Lam - người mẹ dịu hiền, che chở cho con người xứ Nghệ suốt bao đời.
Bài viết này, người viết lựa chọn tác phẩm múa Ký ức dòng Lam để phân tích và chỉ ra những thành tố đặc trưng bản sắc nhất về vùng đất, con người xứ Nghệ đã được biên đạo lựa chọn để minh chứng cho sự vào cuộc mang tính chủ động của giới nghệ sĩ, biên đạo múa trong sự nghiệp gìn giữ và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc thời kỳ hội nhập.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được vấn đề đặt ra của bài viết, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp tổng thuật tư liệu: đây là phương pháp giúp tác giả tổng thuật những bài viết có liên quan trực tiếp đến vấn đề mà bài viết này muốn đề cập. Việc tổng thuật và tìm hiểu các bài viết của các tác giả khác nhau giúp người viết tìm ra được khoảng trống trong các bài viết đó và bổ khuyết những vấn đề có thể còn thiếu, chưa được phân tích sâu hoặc đóng góp một góc nhìn khác về văn hóa lịch sử vùng đất Nghệ An qua ngôn ngữ nghệ thuật, cụ thể là nghệ thuật múa.
Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả đã gặp gỡ biên đạo múa, diễn viên múa… những người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm để thu thập, tìm hiểu về tư tưởng, chủ đề, hình tượng nghệ thuật hay ngôn ngữ động tác, bối cảnh… được biên đạo sử dụng trong tác phẩm. Lý giải tại sao họ lại chọn những yếu tố đó để thể hiện văn hóa, bản sắc, lịch sử của vùng đất và con người Nghệ An.
Ngoài 2 phương pháp chính trên, tác giả còn sử dựng các phương pháp như: phương pháp quan sát tham dự, phương pháp điền dã nghiên cứu thực địa.
3. Kết quả và thảo luận
Khái quát đặc trưng vùng đất, văn hóa và con người Nghệ An
Nghệ An là một trong những không gian văn hóa - lịch sử tiêu biểu của khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam, nơi hội tụ và giao thoa nhiều yếu tố địa lý, lịch sử, xã hội và văn hóa đặc thù, tạo nên một diện mạo văn hóa riêng biệt, bền vững và giàu bản sắc. Là một trong những tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất cả nước, địa hình đa dạng gồm miền núi, trung du, đồng bằng và ven biển, Nghệ An vừa là vùng đất có điều kiện sinh tồn khắc nghiệt, vừa là không gian tích tụ lâu dài các giá trị văn hóa truyền thống. Chính điều kiện tự nhiên nhiều thử thách ấy đã góp phần hình thành nên tính cách con người xứ Nghệ: cần cù, bền bỉ, kiên cường và giàu ý chí vượt khó.
Xét về phương diện địa - văn hóa, Nghệ An nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa Bắc Bộ và Trung Bộ, đóng vai trò như một “bản lề” văn hóa, nơi tiếp nhận và biến đổi các luồng ảnh hưởng từ cả hai khu vực. Hệ thống sông ngòi, trong đó, nổi bật là sông Lam, không chỉ giữ vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội mà còn là trục văn hóa gắn liền với lịch sử định cư, sinh hoạt tinh thần và sáng tạo nghệ thuật của cư dân bản địa. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sông Lam là “dòng chảy văn hóa” nuôi dưỡng tâm thức xứ Nghệ, in đậm dấu ấn trong dân ca, thơ ca, âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn dân gian của vùng đất này (Trần Quốc Vượng, 2000, tr.250-260).
Về phương diện lịch sử, Nghệ An là vùng đất có truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng lâu đời. Từ các cuộc khởi nghĩa chống phong kiến phương Bắc, phong trào Cần Vương cuối TK XIX, đến phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930-1931, lịch sử Nghệ An luôn gắn liền với tinh thần quật cường, ý thức cộng đồng và khát vọng độc lập, tự do. Trong Lịch sử Việt Nam (tập IV, Nxb Khoa học xã hội), Nghệ Tĩnh được đánh giá là “một trong những cái nôi tiêu biểu của phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX”, nơi hun đúc bản lĩnh chính trị và tinh thần dấn thân của con người địa phương. Truyền thống lịch sử ấy không chỉ được bảo lưu trong các sự kiện chính trị mà còn được chuyển hóa thành các giá trị văn hóa, đạo đức và thẩm mỹ, thấm sâu vào đời sống tinh thần của cộng đồng cư dân.
Văn hóa Nghệ An trước hết là văn hóa của một cộng đồng cư dân nông nghiệp lâu đời, gắn bó chặt chẽ với làng xã, gia đình và các thiết chế truyền thống. Hệ giá trị văn hóa của người Nghệ đề cao tính cộng đồng, tinh thần tương trợ, ý thức trách nhiệm với quê hương, dòng họ và quốc gia. Các phong tục, lễ nghi, hương ước làng xã, sinh hoạt tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc điều tiết đời sống xã hội và duy trì trật tự văn hóa truyền thống. Theo nhận định của Ngô Đức Thịnh, “văn hóa làng ở Nghệ An mang đậm tính bền chặt, vừa nghiêm cẩn trong khuôn phép, vừa linh hoạt trong ứng xử, phản ánh rõ nét tâm lý cộng đồng của cư dân vùng Bắc Trung Bộ” (2004, tr.218).
Một trong những biểu hiện nổi bật nhất của bản sắc văn hóa Nghệ An là kho tàng văn học, nghệ thuật dân gian phong phú, đặc biệt là dân ca ví, giặm. Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh không chỉ là hình thức sinh hoạt nghệ thuật dân gian mà còn là phương thức giao tiếp, bộc lộ tâm tư, tình cảm và triết lý sống của người dân lao động. Năm 2014, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, khẳng định giá trị văn hóa - nhân văn sâu sắc của loại hình nghệ thuật này. Trong hồ sơ di sản, UNESCO nhấn mạnh rằng ví, giặm “phản ánh đời sống lao động, đạo lý, tình cảm và bản sắc văn hóa của cộng đồng cư dân Nghệ Tĩnh”.
Con người Nghệ An là sản phẩm tổng hợp của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, lịch sử đấu tranh lâu dài và môi trường văn hóa đặc thù. Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra những nét tính cách nổi trội của người xứ Nghệ như: cứng cỏi, thẳng thắn, chịu thương chịu khó, giàu ý chí và có tinh thần hiếu học. Trong Con người Việt Nam - từ truyền thống đến hiện đại, Trần Ngọc Thêm nhận định: “Người Nghệ có xu hướng biểu hiện rõ cá tính, không dễ thỏa hiệp trước khó khăn và thường bộc lộ thái độ trực diện trong giao tiếp xã hội”, đồng thời coi đây là kết quả của quá trình thích ứng lâu dài với môi trường tự nhiên và xã hội nhiều biến động (1996, tr.486).
Tinh thần hiếu học là một đặc trưng nổi bật khác của con người Nghệ An, được thể hiện rõ qua truyền thống khoa bảng trong lịch sử cũng như sự coi trọng giáo dục trong đời sống đương đại. Nhiều danh nhân văn hóa, chí sĩ yêu nước, trí thức lớn của Việt Nam xuất thân từ Nghệ An, góp phần tạo nên hình ảnh một vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Truyền thống ấy không chỉ dừng lại ở quá khứ mà còn tiếp tục được kế thừa và phát huy trong bối cảnh hiện đại, khi giáo dục được xem là con đường quan trọng để nâng cao vị thế cá nhân và cộng đồng.
Trong bối cảnh hội nhập và phát triển hiện nay, văn hóa Nghệ An đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Quá trình đô thị hóa, toàn cầu hóa và sự tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường đã làm thay đổi cấu trúc xã hội, lối sống và hệ giá trị truyền thống. Tuy nhiên, chính trong bối cảnh ấy, ý thức bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa địa phương ngày càng được chú trọng, không chỉ trong chính sách văn hóa của địa phương mà còn trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật của đội ngũ văn nghệ sĩ. Nhiều công trình nghiên cứu và thực tiễn sáng tác cho thấy, việc khai thác các chất liệu văn hóa xứ Nghệ trong nghệ thuật đương đại là một hướng đi quan trọng nhằm kết nối truyền thống với hiện đại, tạo nên sức sống mới cho di sản văn hóa địa phương.
Có thể nói: vùng đất, văn hóa và con người Nghệ An là một chỉnh thể thống nhất, trong đó điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa và con người luôn tác động qua lại, bổ sung và định hình lẫn nhau. Những đặc trưng ấy không chỉ làm nên bản sắc riêng của Nghệ An trong không gian văn hóa Việt Nam, mà còn cung cấp nguồn chất liệu phong phú cho các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và thực hành nghệ thuật đương đại. Việc nhận diện và phân tích sâu các đặc trưng này là cơ sở quan trọng để hiểu rõ hơn vai trò của văn hóa Nghệ An trong tiến trình phát triển chung của văn hóa dân tộc, đồng thời góp phần định hướng cho các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa địa phương trong thời kỳ hội nhập.
Nhận diện các yếu tố bản sắc qua phân tích tác phẩm Ký ức dòng Lam
Ký ức dòng Lam, biên đạo: Lữ Kiều Lê, Phạm Thanh Tùng, Nguyễn Thanh Hằng được chia làm 4 phần: Trong - Đục - Nhục - Vinh.
Phần 1 Trong: Là bức tranh sinh động, đẹp nên thơ của người nông dân xứ Nghệ. Biên đạo múa sử dụng tất cả những hình ảnh đặc trưng nhất về người nông dân Việt Nam (người Kinh vùng đồng bằng Trung Bộ) như: hình ảnh chiếc nón lá - một hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp dịu dàng, chăm chỉ, nết na của người con gái Việt, không chỉ vậy chiếc nón lá còn là biểu tượng cho sự che chở của người mẹ chồng khi đón con dâu về nhà mình (trong lễ đón dâu của người Việt tại một số vùng quê hiện nay vẫn còn giữ tục mẹ chồng che nón cho con dâu khi bước qua cửa nhà, ngụ ý muốn nói: Con sẽ được che chở như ở nhà mình, gia đình chồng cũng chính là mái nhà thứ 2 và cha mẹ chồng cũng sẽ yêu thương con như cha mẹ ruột…). Trang phục của người nông dân được biên đạo sử dụng chính là những bộ quần áo bà ba màu nâu sòng, hình ảnh vô cùng thân thuộc của bất kỳ người Việt nào trên mọi vùng miền của Tổ quốc Việt Nam. Trong những bộ trang phục ấy, họ miệt mài lao động, mưu sinh bên dòng sông của mình, những người nông dân khỏe mạnh, rắn rỏi, chân lấm tay bùn đang hằng ngày cần mẫn nâng niu, chắt lọc từng vị ngọt cuộc sống.
Ngôn ngữ múa là những động tác miêu tả những hành động, cử chỉ lao động thường nhật của cuộc sống, được khái quát hóa, nghệ thuật hóa thành những động tác múa dân gian dân tộc, những động tác mềm mại, uyển chuyển cùng sự chuyển động nhịp nhàng của tuyến múa, tạo hình, đội hình… (chèo thuyền, guộn ngón, múa nón…) tất cả đã tạo nên một bức tranh làng quê yên bình, thơ mộng trên cánh đồng quê hương trù phú.
Âm nhạc được sử dụng trong phần 1 là những thanh âm quen thuộc của tiếng đàn bầu kết hợp với câu hò ví - đặc trưng âm nhạc dân gian của người dân xứ Nghệ. Những thanh âm rất đỗi quen thuộc ấy đã dẫn dắt tâm hồn người xem, nhẹ nhàng vuốt ve từng cảm xúc sâu lắng nhất và đánh thức mọi cảm giác, tri giác về một miền quê nơi có dòng sông ngọt ngào êm ái như vòng tay của mẹ - người mẹ quê hương.
Suốt chiều dài của dòng chảy lịch sử và chiều dài của không gian, dòng Lam đã chở đầy những chiến công oanh liệt và cũng không ít lần thấm máu của thế hệ tiền nhân để đổi lấy cuộc sống thanh bình hôm nay.
Phần 2 Đục: Nối tiếp với phần Trong là câu chuyện về những con người lam lũ, luôn phải đối mặt với những nguy hiểm của thiên nhiên, trời đất… Họ phải oằn mình che chở cho sự yên bình của quê hương, cho cuộc sống và hạnh phúc tổ ấm của chính mình. Bão giông kéo đến, dòng sông Lam cuộn đỏ dữ dội cuốn trôi làng mạc và cướp đi sinh mang của biết bao người dân. Trước những sóng to, gió lớn ấy họ vẫn đoàn kết cùng nắm tay nhau vượt qua khó khăn, thử thách, bám trụ nơi dòng Lam ruột thịt để vươn tới cuộc sống hạnh phúc, bình yên. Bằng sự sáng tạo trong khai thác ngôn ngữ, nhóm biên đạo đã tạo điểm nhấn ấn tượng cho phần Đục thông qua những tạo hình ấn tượng.
Phần 3 Nhục: Khai thác sử dụng các chuyển động múa theo sự tự nhiên của cơ thể biểu đạt nỗi đau mất mát. Sự bần hàn khổ cực, ý chí mạnh mẽ kiên cường, đoàn kết đứng lên, cùng với đó là những thanh âm như xé lòng của tiếng đàn bầu khiến cảnh diễn càng trở nên bi thương, đau xót. Những bước chân mạnh mẽ, tay siết chặt, từng đoàn người rũ bùn đứng dậy kết thành đài sen, làm bệ đỡ cho một đứa trẻ, vun đắp ước mơ về một tương lai tươi sáng là điểm nhấn kết tụ trong vở múa. Đó cũng là hình ảnh ẩn dụ sâu sắc, hình ảnh của dân tộc trải qua biết bao khó khăn do thiên tai, chiến tranh, giặc ngoại xâm tàn phá nhưng vẫn kiên cường, đoàn kết đứng lên. Hình tượng em bé trên đài sen là ẩn dụ về một sự sống đang bắt đầu, đó là tinh thần lạc quan, luôn tin tưởng vào ngày mai tươi sáng, một tinh thần đã trở thành khí chất dân tộc độc đáo - “rũ bùn đứng lên…” bất diệt. Cách sử dụng âm nhạc và khai thác sáng tạo ngôn ngữ, hình tượng nghệ thuật và tạo hình múa tinh tế đã làm nổi bật nội dung, ý tưởng của phần 3, cũng là sự thể hiện rõ nét tính cách, phẩm chất đáng quý của con người xứ Nghệ.
Phần 4 Vinh: Cơn bão qua đi, bằng sự quả cảm, kiên cường và tinh thần đoàn kết, nhân dân xứ Nghệ đã chiến thắng hoàn cảnh, vượt lên trên những thử thách của cuộc sống. Phần Vinh kết lại vở thơ múa là cảnh làng quê thanh bình, giàu đẹp với các nghề truyền thống phát triển, lung linh sắc màu của làng vải, làng chài... Ngôn ngữ múa được khai thác đậm đặc múa dân gian dân tộc Kinh, thể hiên rõ nét cảnh làng quê trù phú thông qua các lễ hội, các trò chơi dân gian. Âm nhạc trong trẻo, vui tươi, nhộn nhịp, bên thì kéo chài, kéo lưới, bên thì chơi hội… cùng tiếng trống, tiếng sáo, tiếng hò, đối đáp tạo nên không khí vui tươi của hội làng. Một đặc trưng thể hiện văn hóa truyền thống của làng quê Việt Nam. Những cánh diều mang trở những ước mơ về một cuộc sống thanh bình lại bay cao, bay xa trên dòng sông Lam thơ mộng, êm đềm cùng những câu hò điệu ví mang nặng tình quê.
4. Kết luận
Thực tiễn sáng tạo nghệ thuật cho thấy, chủ đề quê hương - đất nước, gắn với những đặc trưng về lịch sử, văn hóa và con người của từng vùng đất, luôn là một trong những mạch nguồn bền vững, có sức hấp dẫn lâu dài đối với các thế hệ nghệ sĩ ở mọi thời điểm lịch sử. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, khi quá trình toàn cầu hóa vừa mở ra nhiều cơ hội giao lưu, tiếp biến văn hóa, vừa đặt ra không ít thách thức đối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, việc lựa chọn và khai thác các giá trị văn hóa truyền thống trong sáng tác nghệ thuật càng trở nên có ý nghĩa. Điều này đặc biệt phù hợp với chủ trương xây dựng nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” - một định hướng xuyên suốt, nhất quán trong các chiến lược phát triển văn hóa của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập.
Từ việc khái quát những đặc trưng cơ bản của vùng đất, văn hóa và con người Nghệ An, bài viết đã chỉ ra rằng, bản sắc xứ Nghệ được hình thành từ sự tổng hoà của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, truyền thống lịch sử đấu tranh bền bỉ, đời sống văn hóa cộng đồng phong phú và những phẩm chất nổi trội của con người địa phương. Những yếu tố ấy không tồn tại rời rạc mà kết tinh thành một hệ giá trị văn hóa đặc thù, vừa mang tính địa phương sâu sắc, vừa phản ánh những giá trị phổ quát của văn hóa dân tộc Việt Nam. Chính hệ giá trị này đã trở thành nguồn chất liệu quan trọng, tạo nền tảng cho các hình thức sáng tạo nghệ thuật, trong đó có nghệ thuật múa.
Trên cơ sở đó, việc phân tích tác phẩm múa Ký ức dòng Lam ở mục 2, thông qua bốn phân đoạn Trong - Đục - Nhục - Vinh, cho thấy sự lựa chọn có chủ ý và mang tính hệ thống của biên đạo trong việc chuyển hóa các giá trị lịch sử - văn hóa - con người xứ Nghệ thành hình tượng nghệ thuật múa. Thông qua bối cảnh, ngôn ngữ động tác, âm nhạc, tạo hình và trang phục… tác phẩm không chỉ tái hiện những lát cắt của ký ức lịch sử và đời sống tinh thần địa phương, mà còn khái quát hành trình số phận của con người trong dòng chảy lịch sử dân tộc: từ những thử thách, khắc nghiệt, đau thương đến ý chí vươn lên, khẳng định giá trị và phẩm giá con người. Cách tiếp cận này cho thấy nghệ thuật múa hoàn toàn có khả năng đảm nhận vai trò như một phương tiện biểu đạt hiệu quả các vấn đề văn hóa, lịch sử, xã hội, chứ không chỉ dừng lại ở chức năng minh họa hay giải trí thuần túy.
Từ trường hợp nghiên cứu cụ thể của Ký ức dòng Lam, có thể khẳng định rằng việc xây dựng các tác phẩm múa lấy cảm hứng từ bản sắc dân tộc, từ lịch sử và văn hóa vùng miền, không chỉ là một lựa chọn mang tính thẩm mỹ, mà còn là một định hướng phù hợp với yêu cầu phát triển văn hóa, nghệ thuật trong bối cảnh hội nhập. Tuy nhiên, sự trở về với truyền thống không đồng nghĩa với việc sao chép hay phục dựng giản đơn các yếu tố dân gian, mà đòi hỏi người nghệ sĩ, biên đạo phải có tư duy sáng tạo chủ động, biết chọn lọc, khái quát và tái cấu trúc các giá trị truyền thống trong hình thức biểu đạt mới, phù hợp với cảm quan thẩm mỹ đương đại và nhu cầu tiếp nhận của công chúng hôm nay.
Như vậy, Ký ức dòng Lam không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mang dấu ấn cá nhân của người biên đạo, mà còn là minh chứng sinh động cho sự vào cuộc chủ động, có ý thức của đội ngũ nghệ sĩ múa trong việc hiện thực hóa các định hướng phát triển văn hóa của quốc gia. Từ trường hợp này, bài viết góp phần khẳng định vai trò quan trọng của nghệ thuật múa trong việc bảo tồn, phát huy và lan toả bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời mở ra những gợi ý nghiên cứu và sáng tác tiếp theo cho nghệ thuật múa Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
_______________________________
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Văn hóa Thông tin. (1999). Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Văn phòng Bộ VHTT.
2. Bùi Thanh Sơn. (2015). Hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
3. Trần Quốc Vượng. (2000). Văn hóa Việt Nam - tìm tòi và suy ngẫm. Nxb Văn hóa dân tộc.
4. Ngô Đức Thịnh. (2004). Bản sắc văn hóa vùng miền ở Việt Nam. Nxb Giáo dục.
5. Nhiều tác giả. (1993). Những vấn đề dân tộc hiện đại trong nghệ thuật múa. Kỷ yếu hội thảo khoa học. Nxb Nông nghiệp.
6. Trần Ngọc Thêm. (1996). Con người Việt Nam - từ truyền thống đến hiện đại. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
7. UNESCO. (2014). Nomination file of Ví and Giặm folk songs of Nghệ Tĩnh (Hồ sơ đề cử Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh).
Ngày Tòa soạn nhận bài: 6/12/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 19/12/2025; Ngày duyệt bài: 6/1/2026.
TS NGUYỄN THU HẰNG
Nguồn: Tạp chí VHNT số 630, tháng 1-2026