Từ khóa: tính tổng hợp; Cao Đài; Hòa Hảo; Hệ phái Khất sĩ.

Abstract: Vietnamese culture in general, and Southern Vietnamese culture in particular, possess a synthesized nature. Thanks to this inherent synthesis, various world cultures and religions have been readily embraced upon their introduction to Vietnam. This spirit of syncretism is particularly strong in the Southern region, a land characterized by diverse ethnic groups and vibrant religious activities. Several new sects and religions emerged in this region during the early 20th century, most notably the Mendicant Sect, Hoa Hao Buddhism, and Caodaism. The synthesis found in the Mendicant Sect, Hoa Hao Buddhism, and Caodaism created new religious forms that were simultaneously novel and familiar, attracting a vast number of followers in Southern Vietnam. It can be affirmed that this synthetic character is the foundation for the birth and development of indigenous religious sects like the Mendicant Sect, Hoa Hao Buddhism, and Caodaism as they exist today.

Keywords: syntheticity; Caodaism; Hoa Hao Buddhism; Mendicant Sect.

z7449671147882_0b74205bae2a8e35cfa38d8340c0ce68.jpg
Tôn chỉ của đạo Hòa Hảo là “Học Phật, tu thân” - Ảnh: phatgiaohoahao.org.vn

1. Đặt vấn đề

Văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa Nam Bộ nói riêng đều có tính tổng hợp. Nhờ tính tổng hợp này mà khi các nền văn hóa ngoại lai du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận một cách có lựa chọn. Ở lĩnh vực tôn giáo, các tôn giáo ngoại lai du nhập vào Việt Nam đều được người Việt Nam chấp nhận. Trong quá trình giao lưu và tiếp biến, các tôn giáo ngoại lai và văn hóa Việt đã chấp nhận những khác biệt của nhau cùng hoạt động hòa bình trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

Trong quá trình lan tỏa, Tam giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo) vào Nam Bộ từ rất sớm và bền gốc sâu rễ tại vùng đất mới này. Trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, người Nam Bộ đã tiếp nhận Tam giáo có lựa chọn, phù hợp với phong tục, tập quán nơi đây. Văn hóa Nam Bộ tiếp nhận văn hóa Tam giáo để bổ sung cho văn hóa tâm linh nơi đây thêm phong phú. Hệ quả của tính tổng hợp là sự ra đời của các hệ phái Phật giáo, tôn giáo bản địa ở Nam Bộ. Hệ phái Khất sĩ đã tổng hợp Phật giáo Nam tông với hệ phái Phật giáo Bắc tông. Sự kết hợp Tam giáo, Công giáo và tín ngưỡng dân gian để thành lập tôn giáo Cao Đài. Trong Phật giáo Hòa Hảo có sự kết hợp giữa đạo Phật, đạo Nho và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Cả ba hệ phái, tôn giáo này ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh và đều có ảnh hưởng lớn đến một bộ phận cư dân Nam Bộ.

2. Phương pháp nghiên cứu

Phân tích, tổng hợp: dựa vào các dữ liệu đã có để phân tích, tổng hợp lại để làm rõ mục tiêu nghiên cứu của bài viết.

Điền dã: áp dụng phương pháp điền dã để khảo sát thực tế tại các cơ sở đạo. Từ 2002 đến nay, chúng tôi nhiều lần đi khảo sát thực địa tại Tòa thánh Cao Đài Tây Ninh, Tổ đình Minh Đăng Quang, Tổ đình An Hòa và nhiều thánh sở của ba tôn giáo này. Qua những lần khảo sát này, chúng tôi đã thu thập nhiều tài liệu thực tế liên quan bài viết.

3. Kết quả và thảo luận

Tính tổng hợp của Hệ phái Khất sĩ

Đạo Phật vốn là tôn giáo chủ trương từ bi, khoan dung, yêu chuộng sự hòa thuận. “Khi vào Việt Nam, Phật giáo đã tiếp xúc ngay với các tín ngưỡng truyền thống của dân tộc và, do vậy, đã được tổng hợp chặt chẽ ngay với chúng” (Trần Ngọc Thêm, 2006, tr.463). Những tín ngưỡng truyền thống dân tộc Việt Nam là những niềm tin, sùng bái các vị thần tự nhiên (Mây, Mưa, Sấm, Chớp), thờ đá, thờ các thần, các thánh, các Mẫu, thành hoàng bổn cảnh, các anh hùng dân tộc… Đối với các tông phái Phật giáo, Phật giáo Việt Nam cũng có sự tôn trọng, tổng hợp. Nên “Phật giáo Việt Nam là sự tổng hợp các tông phái với nhau. Ở Việt Nam, không có tông phái Phật giáo nào thuần khiết. Tuy Thiền tông có chủ trương bất lập ngôn, song ở Việt Nam chính các thiền sư đã để lại nhiều trước tác có giá trị. Dòng Thiền Tỳ - ni - đa - lưu - chi thì pha trộn với Mật giáo; nhiều thiền sư, nhất là những vị sống vào thời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không,…đều nổi tiếng là giỏi pháp thuật, có tài thần thông biến hóa. Phật giáo Việt Nam cũng dung hợp chặt chẽ con đường giải thoát bằng tự lực với con đường giải thoát bằng tha lực, phối hợp Thiền tông với Tịnh độ” (Trần Ngọc Thêm, 2006, tr.464).

Phật giáo vào Việt Nam đã thành công nhờ vào tính từ bi, bao dung, tôn trọng các nền văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo khác. Hệ phái Khất sĩ là một trường hợp tiêu biểu. Hệ phái Khất sĩ chủ trương dung hòa truyền thống tu học của Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông. Thời điểm Hệ phái Khất sĩ ra đời, ở Nam Bộ có nhiều hệ phái Phật giáo hoạt động. Mỗi chi phái đạo Phật có cách thực hành nghi lễ thờ tự, cúng tế, giới luật, trang phục riêng. Trong đó, có hai hệ phái lớn là Nam Tông và Bắc tông có ảnh hưởng đến Hệ phái Khất sĩ. Hai hệ phái Phật giáo này có những nét khác nhau rõ rệt. Tổ sư Minh Đăng Quang đã khéo léo tổng hợp hai hệ phái Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông để thành lập ra một hệ phái mới gọi là Hệ phái Khất sĩ. Hệ phái Khất sĩ ra đời bảo đảm đúng truyền thống tu hành của hai hệ phái nhưng cũng phù hợp tâm lý thích sự dung hòa của người Nam Bộ. Sự dung hòa của hệ phái Khất sĩ được thể hiện rõ qua giới luật, trang phục, ẩm thực.

Về giới luật

Bộ Luật của Hệ phái Khất sĩ thể hiện sự dung hòa giữa giới luật Nam tông và giới luật Bắc tông. Truyền thống Nam tông chỉ nhận tu sĩ nam giới xuất gia. Trong khi đó, Phật giáo Bắc tông có cho phép nữ giới xuất gia. Kết hợp hai truyền thống tu hành của Nam tông và Bắc tông, Tổ sư Minh Đăng Quang cho lập Tăng đoàn và Ni đoàn. Đây là một sáng kiến mở ra cho nữ giới con đường tu học, giải thoát. Tổ sư Minh Đăng Quang đã tham khảo Bộ luật Dharmaguptaka của Phật giáo Đại thừa để soạn thảo luật cho Hệ phái Khất sĩ. Theo đó, Tỳ kheo (tu sĩ nam) phải giữ 250 giới, Tỳ kheo ni (tu sĩ nữ) giữ 348 giới. Ngoài ra, Tổ sư Minh Đăng Quang còn dung hòa nhiều quan điểm, tư tưởng của Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông khác. Ngài chú trọng Tứ y pháp Trung đạo của Phật giáo Nam tông nhưng Ngài cũng đề cao Tứ thánh chủng của Phật giáo Bắc tông.

Về trang phục

Trang phục giữa các hệ phái khác nhau. Phật giáo theo truyền thống Nam tông như Ấn Độ, Tích Lan (Sri Lanka), Thái Lan, Myanmar, Lào, Campuchia… đắp y giống như đức Phật lúc còn tại thế, tức là đắp y để một cánh tay trần. Trang phục Phật giáo Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Tây Tạng, Mông Cổ, Việt Nam… dựa trên chiếc y của đức Phật đã biến tấu, kết hợp cùng yếu tố trang phục truyền thống từng nước.

Tăng sĩ Nam tông đắp y, để một cánh tay trần. Tăng sĩ Bắc tông mặc áo kín đáo, không để tay trần. Hệ phái Khất sĩ quy định: Nam tu sĩ đắp y để một tay trần. Nữ tu sĩ đắp y, nhưng phải mặc một áo dài, tay dài bên trong. Như vậy trang phục ni giới của Hệ phái Khất sĩ đẹp, kín đáo. Tổ sư Minh Đăng Quang đã kết hợp những nét đẹp trong trang phục của hai trường phái để “tạo nên một sắc thái độc đáo vừa phù hợp với hình thức và tinh thần của Phật tăng xưa, lại cũng rất phù hợp với thẩm mỹ của người Việt và truyền thống Phật giáo Đại thừa” (Thích Trí Quảng, Thích Giác Toàn, Nguyễn Quốc Tuấn (chủ biên), 2016, tr.543).

Về ẩm thực

Phật giáo Nam tông quy định tu sĩ xuất gia mỗi ngày chỉ ăn hai cữ: sáng ăn điểm tâm, trưa ăn cữ chính lúc 11 giờ. Do đi khất thực, vật thực tín chủ cúng dường đa dạng có thể là thực phẩm chay, cũng có cả thực phẩm mặn, nên các sư Phật giáo Nam tông không chú trọng việc ăn chay. Các sư được phép ăn mặn với điều kiện vật phẩm đó là Tam tịnh nhục. Có nghĩa là các sư ăn thịt động vật nhưng các sư không thấy, không nghe tiếng kêu la của con vật bị giết và không nghĩ con vật đó bị giết vì mình.

Phật giáo Bắc tông không quy định khắt khe mỗi ngày tu sĩ ăn bao nhiêu lần. Ngoài bữa ăn chính ra, các tu sĩ còn có thể ăn thêm bữa phụ. Tuy nhiên, Phật giáo Bắc tông quy định rõ ràng tu sĩ phải ăn chay.

Tổ sư Minh Đăng Quang kế thừa những tinh hoa của hai hệ phái Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông. Từ đó, Ngài đưa ra giới luật về khất thực và thọ trai. Theo đó, tu sĩ hệ phái bắt buộc ăn chay, mỗi ngày chỉ được ăn một lần vào giờ ngọ (11 giờ - 13 giờ). Từ giờ ngọ hôm nay đến giờ ngọ hôm sau, tu sĩ không được dùng bất cứ vật thực gì. Khi đi khất thực, quý sư chỉ được nhận vật thực chay. Nên khi tín chủ cúng dường, các sư phải hỏi vật thực là chay hay mặn. Nếu vật thực là chay, các sư mới được nhận.

Tính tổng hợp của Phật giáo Hòa Hảo

Tôn chỉ của đạo Hòa Hảo là “Học Phật, tu thân”. Học Phật là học giáo lý nhà Phật. Tu thân là sửa mình theo học thuyết của Khổng Tử. Tuy tôn chỉ này không nói sự tổng hợp Phật giáo và Nho giáo của đạo Hòa Hảo nhưng qua đó cho thấy rằng đạo Hòa Hảo thoáng mở, dung hòa. Danh xưng “Hòa Hảo” cũng đã nói lên sự dung hòa hữu hảo.

Lúc thiếu thời, ông Huỳnh Phú Sổ đã lên núi học Phật. Ông đã thấm nhuần giáo lý nhà Phật. Khi xuống núi, ông Huỳnh Phú Sổ về quê ở làng Hòa Hảo, An Giang để mở đạo. Đạo của ông dựa trên nền tảng đạo Phật và chủ trương hòa hợp, tốt đẹp nên gọi là Phật giáo Hòa Hảo. Chính vì vậy mà giáo lý của Phật giáo Hòa Hảo thấm đậm giáo lý Phật giáo. Những triết lý về Tam nghiệp, Tứ diệu đế, Bát chính đạo của nhà Phật đều được thể hiện trong Phật giáo Hòa Hảo. Ông Huỳnh Phú Sổ khẳng định Bát chính đạo rất quan trọng và người tín đồ cần phải biết. Ông còn biến cải Ngũ luân (Mối quan hệ: quân - thần, phụ - tử, phu - thê, anh - em, bằng hữu) của Nho giáo, kết hợp với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, lập nên thuyết Tứ ân:

Ân Tổ tiên cha mẹ

Đây là mối quan hệ giữa cha, mẹ và con cái. “Cây có cội, nước có nguồn” là truyền thống tốt đẹp của người Việt. Tổ tiên, cha mẹ là những người đã cưu mang, nuôi dưỡng và dạy dỗ con cháu từ thuở bé cho đến khi trưởng thành. Ông bà, cha mẹ tạo dựng sự nghiệp cho con cháu. Vì vậy, bổn phận con cháu phải biết nhớ ơn và hiếu thảo với tổ tiên, cha mẹ.

Ân đất nước

Đây là mối quan hệ giữa người dân với đất nước, lãnh tụ. Đất nước, quê hương là nơi “chôn nhau, cắt rốn”. Đất nước, quê hương là nơi mọi người được che chở, dưỡng nuôi khôn lớn. Đất nước bình yên, người dân mới an cư lạc nghiệp. Dù người tu hay người đời ai cũng mang ân quốc gia. Ông Huỳnh Phú Sổ cho rằng khi đất nước lâm nguy, người tu sĩ không thể thờ ơ, lo tụng kinh, gõ mõ mà phải biết tham gia chống giặc. Khi đất nước thanh bình thì tu sĩ tiếp tục con đường tu luyện: “Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa/ Tuốt gươm vàng lên ngựa song pha/ Đền xong nợ nước thù nhà/ Thiền môn trở gót Phật Đà Nam Mô” (Nguyễn Văn Hầu, 2017, tr.213).

Ân Tam Bảo

Tam bảo tức là Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. Phật là bậc giác ngộ đã tìm ra con đường giải thoát giúp chúng sinh thoát khỏi mọi sự khổ đau. Ngài đã xây dựng một hệ thống giáo lý để chúng sinh có thể dựa vào đó mà giải thoát khổ đau. Đó chính là Pháp. Tăng chính là những đệ tử của Đức Phật, những người tu hành theo Pháp và có thể giúp chúng sinh hiểu được thêm về Pháp của Phật để chúng sinh càng gần hơn đến con đường giác ngộ. Nên tín đồ Hòa Hảo phải kính ngưỡng Phật, nghiêm cẩn tuân hành theo Pháp và tôn trọng chư Tăng.

Ân đồng bào và nhân loại

Đây là mối quan hệ cộng đồng. Trong cuộc sống, ai cũng cần có sự giúp đỡ của cộng đồng, nhân loại. Vì vậy, Phật giáo Hòa Hảo khuyên nhủ tín đồ phải biết nhớ ơn đồng bào, nhân loại và phải nỗ lực giúp đỡ cộng đồng nếu có điều kiện.

Tính tổng hợp của đạo Cao Đài

Với tôn chỉ “Tam giáo quy nguyên, Ngũ chi hiệp nhất”, đạo Cao Đài đã khéo léo tổng hợp giáo lý Tam giáo. Đạo Cao Đài tuyển chọn giáo lý Tam giáo để lập nên hệ thống giáo lý mới cho tôn giáo Cao Đài.

Giáo chủ đạo Cao Đài có danh xưng là “Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”. “Tự thân danh hiệu này đã là sự tổng hợp của ba tôn giáo cơ bản: Nho (Cao Đài), Đạo (Tiên Ông), Phật (Đại Bồ Tát Ma Ha Tát)” (Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.562).

Hình ảnh của Đức Thượng Đế được thể hiện qua biểu tượng “Thiên Nhãn” (Mắt Trời). Thiên Nhãn là “biểu tượng cho tâm linh vô hình, Mắt Trời là duy nhất và thống nhất ở khắp mọi nơi (không như tranh tượng mỗi nơi làm mỗi khác), là một sản phẩm của tinh thần tổng hợp vạn giáo” (Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.565).

Ngoài Thiên Nhãn, tín đồ Cao Đài còn thờ Thích Ca Mâu Ni, Quan Âm Bồ Tát (Phật); Thái Thượng Lão Quân, Lý Thái Bạch (Tiên); Khổng Thánh Tiên Sư, Quan Vân Trường, Chúa Giê Su (Thánh); Khương Thái Công (Thần).

Hệ thống chức sắc được phân bổ: 1 vị Giáo tông đại diện cho Phật trong Hội thánh; 3 vị Chưởng pháp: Thái Chưởng pháp đại diện Phật giáo, Thượng Chưởng pháp đại diện Tiên giáo, Ngọc Chưởng pháp đại diện Nho giáo; 3 vị Đầu sư: Thái Đầu sư đại diện Phật giáo, Thượng Đầu sư đại diện Tiên giáo, Ngọc Đầu sư đại diện Nho giáo; 36 vị Phối sư: có 12 vị Thái Phối sư đại diện Phật giáo, có 12 vị Thượng Phối sư đại diện Tiên giáo, có 12 vị Ngọc Phối sư đại diện Nho giáo; 72 vị Giáo sư: có 24 vị Thái Giáo sư đại diện Phật giáo, có 24 vị Thượng Giáo sư đại diện Tiên giáo, có 24 vị Ngọc Giáo sư đại diện Nho giáo; 3.000 Giáo hữu: có 1.000 vị Thái Giáo hữu đại diện Phật giáo, có 1.000 vị Thượng Giáo hữu đại diện Tiên giáo, có 1.000 vị Ngọc Giáo hữu đại diện Nho giáo.

Chức sắc phái Thái là phái Phật mặc đại phục màu vàng (màu Phật giáo). Chức sắc phái Thượng là phái Tiên mặc đại phục màu xanh (màu Tiên giáo). Chức sắc phái Ngọc là phái Nho mặc đại phục màu đỏ (màu Nho giáo).

Đạo Cao Đài chủ trương sống hòa cùng trời đất và đề xướng pháp tu không ngoài tam quy, ngũ giới của nhà Phật; Tam cang, ngũ thường của nhà Nho; Tam bửu ngũ tạng của đạo Lão. Giáo lý Cao Đài chỉ ra được sự tương đồng giữa ba pháp tu của Tam giáo qua bảng đối chiếu sau:

Cơ quan phổ thông giáo lý Đại Đạo, một cơ quan ngôn luận của đạo Cao Đài đã nêu quan điểm rằng đạo Cao Đài không phải muốn làm bá chủ các tôn giáo mà mục đích là tổng hợp những gì tinh túy nhất của Tam giáo, phát huy tối đa vai trò Tam giáo trong đạo Cao Đài. Cơ quan phổ thông giáo lý Đại Đạo cho rằng: “Sự tổng hợp này không có ý nghĩa phủ nhận Tam giáo để lập nên Cao Đài giáo mà là thống nhất lại chân truyền thành một cơ cấu nhất quán, trong đó mỗi thành phần có một giá trị trọng yếu của nền Đại Đạo” (Cơ quan phổ thông giáo lý Đại Đạo, 1994, tr.97).

Tam giáo đều có vai trò quan trọng trong đạo Cao Đài. Chính nhờ sự tổng hợp khéo léo đã giúp cho đạo Cao Đài trở nên thành công. Trần Ngọc Thêm đã kết luận: “Đạo Cao Đài đã xây dựng trên tinh thần tổng hợp - dung hợp khá rộng rãi: Đó là sự tổng hợp các tôn giáo, từ Nho - Phật - Đạo đến các tôn giáo phương Tây; tổng hợp các truyền thống văn hóa dân tộc, từ việc cầu tiên giáng bút đến lối tư duy bằng các con số biểu trưng, hướng tới sự hài hòa âm dương... Chính nhờ sự tổng hợp tạo nên ấn tượng “vừa lạ, vừa quen” ấy mà, vào thời điểm ra đời, đạo Cao Đài đã thu hút được khá nhiều người (vốn từng là hoặc đang là tín đồ của những tôn giáo khác) tin theo và nhanh chóng phát triển”. Ông còn ghi chú thêm: nếu “Không hiểu được cội nguồn sâu xa này (tức là tính tổng hợp của đạo Cao Đài), có người chỉ nhìn bề ngoài mà vội vã đánh giá một cách sai lầm rằng đạo Cao Đài là một tôn giáo mang tính “hổ lốn” của nông dân” (Trần Ngọc Thêm, 1996, tr.567).

Người Nam Bộ nói chung, tín đồ Cao Đài nói riêng, vốn khoan hòa, cởi mở, trọng tình nên họ không muốn bỏ tôn giáo nào, vị Giáo tổ nào và họ muốn tôn thờ cả thảy. Đạo Cao Đài với tinh thần tổng hợp đã đáp ứng tâm lý của họ. Tính tổng hợp được thể hiện toàn diện trong đạo Cao Đài từ giáo lý, nghi thức thờ tự, kiến trúc, tổ chức giáo hội và cả trong tâm thức tín đồ. Nhờ tính tổng hợp cao nên tại Hội nghị tôn giáo quốc tế họp ở London năm 1936, đạo Cao Đài được nhìn nhận là “một tôn giáo khoan dung nhất thế giới” (Đồng Tân, 1972, tr.435).

4. Kết luận

Văn hóa Nam Bộ có đặc tính tổng hợp. Sống trong môi trường văn hóa đó, các tộc người ở Nam Bộ cũng có tinh thần cởi mở, phóng khoáng, yêu chuộng sự hòa hợp. Nhờ có sự tương đồng về tính tổng hợp là tiền đề cho sự ra đời của các hệ phái, tôn giáo mang tính tổng hợp tại Nam Bộ như Hệ phái Khất sĩ, Phật giáo Hòa Hảo và đạo Cao Đài. Ba tôn giáo này ra đời mang yếu tố vừa mới lạ, vừa thân quen nên đã thu hút rất đông quần chúng Nam Bộ tin tưởng và quy thuận, trở thành những tôn giáo lớn, nội sinh có tác động lớn đến đời sống của một bộ phận cư dân Nam Bộ.

___________________________

Tài liệu tham khảo

1. Đồng Tân. (1972). Lịch sử Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Phần phổ độ. Nxb Cao Hiên.

2. Trần Ngọc Thêm (chủ biên). (1996). Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

3. rần Ngọc Thêm. (2014). Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ. Nxb Văn hóa - Văn nghệ.

4. Nguyễn Thanh Xuân. (2005). Một số tôn giáo ở Việt Nam. Nxb Tôn giáo.

5. Tổ sư Minh Đăng Quang. (2016). Chơn Lý, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Hệ phái Khất sĩ. (2016). Hệ phái Khất sĩ: Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập. Nxb Hồng Đức.

7. Cơ quan phổ thông giáo lý Đại Đạo. (1994). Tìm hiểu tôn giáo Cao Đài.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 1/12/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/12/2025; Ngày duyệt bài: 6/1/2026.

TS NGUYỄN MẠNH TIẾN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 630, tháng 1-2026