Untitled5.jpg
Con đò của mẹ (Bùi Vũ Minh), được tái hiện trên sân khấu Nhà hát Hồ Gươm
Ảnh: hoguomopera.vn

Với một dân tộc đã trải qua biết bao cuộc chiến tranh chống ngoại xâm như Việt Nam thì đề tài chiến tranh chiếm vị trí quan trọng trong các tác phẩm văn học, nghệ thuật. Đặc biệt, 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ là hiện thực sinh động và phong phú, là nguồn cảm hứng cho các văn nghệ sĩ sáng tác nên rất nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản sân khấu, ca khúc cách mạng để ngợi ca tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm của nhân dân, trong đó nổi bật lên hình tượng các chiến sĩ - anh lính Cụ Hồ. Ngay cả khi chiến tranh đã qua đi, đất nước thống nhất, nhân dân được sống trong hòa bình thì đề tài chiến tranh và người lính Cụ Hồ vẫn tiếp tục là một khuynh hướng không thể thiếu trong dòng chảy sáng tác của văn học nghệ thuật hiện đại.

Sau ngày đất nước thống nhất, sân khấu, chủ yếu là kịch nói, tiếp tục có nhiều tác phẩm về đề tài chiến tranh và người lính, phần lớn liên quan tới cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mỹ và chế độ ngụy quyền ở miền Nam vừa mới kết thúc.

Có thể khái quát một số nét tiêu biểu của sân khấu với mảng đề tài này:

Về đội ngũ tác giả: chủ yếu là những cây bút quen thuộc, đã có tên tuổi với các tác phẩm được đánh giá cao từ các thời kỳ trước, sau 1975 tiếp tục cống hiến một số kịch bản thành công về đề tài chiến tranh. Đó là các tác giả: Đào Hồng Cẩm (Tổ quốc, Tiếng hát), Tất Đạt (Tình yêu của anh, Mười đóa phong lan, Bài ca Điện Biên, Rồi sao nữa), Xuân Trình (Quê hương Việt Nam, Nửa ngày về chiều), Lưu Quang Vũ (Lời thề thứ 9, Điều không thể mất, Nguồn sáng trong đời), Lưu Quang Hà (Đêm trắng), Bùi Vũ Minh (Người không cô đơn, Con đò của mẹ...), Chu Lai (Hà Nội không trở gió, Gió không thổi từ biển, Ăn mày dĩ vãng, Biệt đội báo đen, Mưa đỏ...), Tạ Xuyên (Quán vắng, Lời nguyền của dòng sông, Khát vọng, Thời gian không im lặng), Xuân Đức (Người mất tích, Tổ quốc, Những mặt người thấp thoáng...), Hà Đình Cẩn (Huyền thoại biển, Người đàn bà mộng du), Sỹ Hanh (Tiếng hát cuộc đời, Tôi đi tìm tôi), Trần Đình Ngôn (Chuyện tình bên mái đình xưa)...

Về nội dung tư tưởng: Nhìn chung, các tác phẩm sân khấu về đề tài chiến tranh cách mạng đều có một điểm chung: ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và dân trong các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại; nêu bật lên hình tượng người chiến sĩ - anh bộ đội Cụ Hồ với nhiều phẩm chất tốt đẹp (yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, dũng cảm chiến đấu và sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, đạo đức trong sáng, trung thực, kiên định lý tưởng...).

Nhưng trong số những tác phẩm sân khấu được sáng tác sau 1975 còn có một mảng có nội dung mới, vấn đề mới mà chỉ sau khi đất nước thống nhất thì mới nảy sinh. Đó là những tác phẩm nói về thân phận của những người lính thời hậu chiến. Tiêu biểu có các vở như Nửa ngày về chiều (Xuân Trình), Lời thề thứ 9 (Lưu Quang Vũ), Con đò của mẹ (Bùi Vũ Minh)... Khi chiến tranh đã kết thúc, những người lính rời tay súng và trở về hậu phương, về với gia đình, với làng xóm quê hương, có người chuyển sang làm công tác ở địa phương, lại có những người trẻ nối bước cha anh, thực hiện nghĩa vụ quân sự... Cuộc sống thời bình nhưng chưa thật sự bình yên với bao vấn đề phức tạp, lộn xộn của một xã hội đang chuyển đổi, khiến cho những người lính cảm thấy bỡ ngỡ, lạc lõng, có khi phải bất bình, phản kháng... Nhưng dù trong hoàn cảnh nào thì những phẩm chất tốt đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ lại trỗi dậy, không khuất phục, lại đấu tranh với cái xấu, cái tiêu cực, cái lạc hậu...

Có đặc điểm nổi bật là phần lớn các tác giả viết nhiều về chiến tranh, về người lính Cụ Hồ là những người đã từng mặc áo lính (cựu chiến binh), có một số tác giả gắn bó với binh nghiệp suốt đời. Vì thế, đề tài chiến tranh và người lính luôn là nỗi ám ảnh đối với các tác gia đã từng trải qua chinh chiến, và những “đứa con tinh thần” của họ thường là những vở kịch đầy ắp chi tiết chân thực và rất sinh động, rất đời.

Đáng tiếc là càng về sau, nhất là mươi năm trở lại đây, sân khấu của chúng ta càng xuất hiện thưa dần những kịch bản sân khấu được sáng tác mới về đề tài chiến tranh và người lính. Có thể lý do là vì nhiều tác giả nổi tiếng trước đây ở mảng đề tài này nay đã lớn tuổi, một số người đã ra đi. Hơn nữa, chiến tranh đã lùi xa, lứa tác giả hiện nay thiếu trải nghiệm thực tế so với thế hệ trước nên ít kinh nghiệm và hứng thú với mảng đề tài này

Thăng trầm sân khấu xã hội hóa - những vấn đề còn bỏ ngỏ

Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986), mở ra thời kỳ đổi mới trên mọi lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Chính sách đổi mới của Đảng và Chính phủ đã đưa nền kinh tế đất nước từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là sự thay đổi căn bản, tác động đến mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống văn hóa, nghệ thuật của đất nước.

Ngày 21-8-1997, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90/CP về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa. Tiếp sau đó, Nhà nước đã lần lượt ban hành nhiều chính sách xã hội hóa một số lĩnh vực hoạt động sự nghiệp có tính dịch vụ xã hội là y tế, giáo dục và văn hóa, nhằm từng bước thực hiện chủ trương xóa bỏ cơ chế bao cấp.

Đối với lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, “Xã hội hóa hoạt động văn hóa thực chất là xã hội hóa quyền tổ chức và điều hành các hoạt động sản xuất văn hóa theo hướng đa dạng hóa chủ thể quản lý, nhằm thu hút đông đảo lực lượng xã hội, các tập thể và tư nhân đứng ra chăm lo các hoạt động văn hóa, tổ chức và điều hành quá trình sản xuất theo đúng pháp luật của Nhà nước” (5).

Trước năm 1975, trong bối cảnh đất nước bị chia cắt và ở hai miền Bắc, Nam có chế độ chính trị khác nhau, chính quyền khác nhau, nên chính sách quản lý và cơ chế hoạt động của lĩnh vực văn hóa nghệ thuật rất khác nhau: Ở miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, toàn bộ mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội được vận hành theo cơ chế tập trung, bao cấp, vì thế, trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, tất cả mọi hoạt động, từ tổ chức cho đến biểu diễn, đều được Nhà nước bao cấp. Ở miền Nam, dưới chế độ ngụy quyền, hoạt động nghệ thuật hoàn toàn do tư nhân quản lý, vận hành theo cơ chế thị trường. Từ ngày đất nước thống nhất (30-4-1975), hai miền Nam, Bắc “về chung một nhà”, hoạt động văn hóa nghệ thuật thống nhất thực hiện cơ chế bao cấp do Nhà nước quản lý.

Khi chính sách xã hội hóa được ban hành, phản ứng của các đơn vị nghệ thuật ở hai miền rất khác nhau: trong khi các đoàn, nhà hát nghệ thuật ở miền Bắc tỏ ra dè dặt, hoang mang, lúng túng thì, ngược lại, ở miền Nam các nghệ sĩ hồ hởi tiếp nhận chính sách mới, nhanh chóng nắm bắt cơ hội và thỏa sức bung ra chiếm lĩnh thị trường...

Sân khấu xã hội hóa ở TP.HCM

Như ở trên chúng tôi đã đề cập, trong khoảng 20 năm, từ thập niên cuối của TK XX đến thập niên đầu tiên của TK XXI, sân khấu xã hội hóa ở TP.HCM đã phát triển rực rỡ, làm cho đời sống văn hóa của cư dân thành phố trở nên tươi mới, phong phú, đời sống của nghệ sĩ cũng được cải thiện rõ rệt, tài năng nghề nghiệp được phát huy.

Tuy nhiên, khoảng mươi năm trở lại đây, các đơn vị sân khấu kịch xã hội hóa ở TP.HCM lại gặp nhiều khó khăn, cũng lâm vào tình trạng thiếu vắng khán giả như sân khấu miền Bắc. Qua vài thập niên hoạt động, sân khấu xã hội hóa đã bộc lộ nhiều điều bất cập và đặt ra một số vấn đề đáng để các nhà quản lý và các nghệ sĩ suy nghĩ, rút kinh nghiệm.

Những nguyên nhân khách quan tạo cơ hội thành công

Môi trường tự nhiên thuận lợi: với khí hậu chỉ có hai mùa, không khí ban đêm mát mẻ là điều kiện lý tưởng cho người dân thành phố có thể tham gia vào các hoạt động giải trí quanh năm, tạo cho người dân có thói quen ra đường vào buổi tối để vui chơi giải trí cả gia đình.

Thị trường khán giả lý tưởng: TP.HCM là trung tâm kinh tế lớn nhất nước ta, mức sống trung bình của người dân thành phố khá cao. Lối sống của người dân ở miền Nam nói chung, ở TP.HCM (Sài Gòn xưa) nói riêng, vốn phóng khoáng, có thói quen tiêu dùng, hưởng thụ khá thoải mái; sống ở thành phố đông dân nhất nước, người dân nơi đây dễ tiếp nhận và thích nghi với cái mới. Cùng với đó là các yếu tố thuận lợi tạo nên một thị trường lý tưởng cho các ngành dịch vụ, trong đó có dịch vụ văn hóa, nghệ thuật, cũng có nghĩa là mang lại một thị trường khán giả lý tưởng cho sân khấu.

Sau ngày đất nước thống nhất, có một bộ phận không nhỏ là người miền Bắc, hoặc người miền Nam tập kết ra Bắc, sau giải phóng chuyển vào TP.HCM sinh sống, công tác, vốn quen thuộc với sân khấu kịch nói, nay vẫn giữ tình yêu đối với sân khấu kịch.

Thể loại kịch nói mới lạ, hấp dẫn: Trước năm 1975, loại hình nghệ thuật sân khấu được ưa chuộng nhất ở miền Nam là cải lương, kịch nói chủ yếu hoạt động ở thành phố, nên có một vị trí khá khiêm tốn trong sinh hoạt văn hóa của quảng đại công chúng. Nhưng từ khi đất nước thống nhất, nhiều đoàn, nhà hát của miền Bắc đã mang kịch nói đến với khán giả miền Nam. Kịch nói được khán giả miền Nam nhanh chóng đón nhận và yêu thích vì cái chất hiện đại phù hợp với nhịp sống công nghiệp nơi đây, trong khi nghệ thuật cải lương trở nên cũ kỹ, nghèo nàn do không được cải tiến, cách tân. Vì vậy, phần lớn công chúng của cải lương những thời kỳ trước giờ đây là khán giả thường xuyên của sân khấu kịch.

Những nguyên nhân chủ quan làm nên thành công

Đội ngũ quản lý và nghệ sĩ sân khấu TP.HCM đam mê nghề và năng động: Các nghệ sĩ sân khấu TP.HCM vốn không xa lạ với phương thức hoạt động xã hội hóa của lĩnh vực sân khấu vốn tồn tại ở miền Nam từ mấy thế kỷ trước gắn với rất nhiều gánh hát cải lương, họ đã quen thuộc với cơ chế thị trường, với phương thức quản lý của các “ông bầu”, “bà bầu” của các gánh hát tư nhân... Vì vậy, khi Đảng và Nhà nước có chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa, nghệ thuật, trong đó có sân khấu, thì các nghệ sĩ lập tức hưởng ứng, chớp lấy cơ hội để làm nghề. Phần lớn những người đứng đầu các đơn vị sân khấu xã hội hóa đầu tiên ở TP.HCM là những nghệ sĩ trẻ tài năng, tự do, năng động, say mê với nghề, dám xả thân với nghề, nhạy bén trong việc nắm bắt thị hiếu và đáp ứng nhu cầu của công chúng...

Các đơn vị sân khấu kịch của TP.HCM có một lực lượng diễn viên trẻ được đào tạo khá bài bản từ các trường văn hóa nghệ thuật, sân khấu - điện ảnh và một số lớp đào tạo do các công ty kinh doanh nghệ thuật mở để đào tạo nguồn, nhiều diễn viên “ngôi sao” đã góp phần làm nên thương hiệu và tạo phong cách riêng cho đơn vị mình, ví dụ như Thành Lộc, Hữu Châu ở Idecaf; Việt Anh ở Nhà hát sân khấu nhỏ 5B Võ Văn Tần; Thành Hội, Ái Như ở sân khấu Hoàng Thái Thanh... Hơn một chục đơn vị sân khấu kịch xã hội hóa TP.HCM tạo nên một bức tranh đa màu sắc, mỗi đơn vị mỗi vẻ, có phong cách nghệ thuật riêng, có khán giả trung thành riêng, có các nghệ sĩ ngôi sao làm nên sức cuốn hút rất riêng của mỗi sàn diễn.

Những hạn chế

Sau hơn 2 thập niên hoạt động sôi động, có hiệu quả, sân khấu xã hội hóa TP.HCM phải đối diện với nhiều khó khăn do thực tiễn đặt ra. Các nhà quản lý luôn phải gồng mình để giải quyết bài toán doanh thu, vì họ không có bất cứ nguồn thu nào ngoài doanh thu bán vé, cũng không nhận được sự hỗ trợ nào từ Nhà nước, trong khi phải tự thân trang trải mọi chi phí để vận hành đơn vị mình. Gánh nặng tài chính buộc những người đứng đầu phải tìm mọi cách thu hút khán giả đến với sân khấu của mình, nhằm tăng doanh thu phòng vé. Điều này tất yếu dẫn tới hiện tượng thương mại hóa sản phẩm nghệ thuật, nhiều vở diễn có tính nghệ thuật thấp vì chạy theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận khán giả có tiền... Để thu hút khán giả, một số “ông bầu”, “bà bầu” chủ trương xây dựng những vở diễn mang tính chất “giật gân, gây sốc”, như kịch ma, kịch đồng tính, gây tò mò, nhất là đối với lớp trẻ, hay những vở kịch hài hước tầm phào... khiến dư luận công chúng cũng như giới chuyên môn đánh giá không cao. Hệ lụy tất yếu xảy ra là bộ phận khán giả nghiêm túc, có hiểu biết dần xa rời sân khấu.

Bên cạnh đó, trước tình trạng chung của sân khấu cả nước nhiều năm qua là thiếu trầm trọng đội ngũ tác giả sân khấu chuyên nghiệp, thiếu kịch bản sân khấu chất lượng, sân khấu TP.HCM cũng phải đối mặt.

Vì những mặt hạn chế này, cộng với tình hình kinh tế trong nước và khu vực những năm gần đây rơi vào suy thoái, lại thêm mấy năm đại dịch COVID-19 hoành hành trên toàn thế giới, Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề, nên hoạt động của các đơn vị sân khấu xã hội hóa ở thành phố thêm nhiều khó khăn, có phần đuối sức, hoạt động kém hơn hẳn mươi năm trước.

Xã hội hóa hoạt động sân khấu công lập - vấn đề còn bỏ ngỏ

Cho đến nay cả miền Bắc mới chỉ có 2 đơn vị nghệ thuật biểu diễn công lập đã chuyển đổi hoàn toàn thành đơn vị xã hội hóa, lại không phải là đơn vị sân khấu kịch, đó là Nhà hát nghệ thuật Đương đại Việt Nam (tự chủ 100% từ cuối năm 2011) và Nhà hát Ca Múa Nhạc Việt Nam (tự chủ 100% từ năm 2015). Đây là 2 đơn vị đi tiên phong thực hiện xã hội hóa ở sân khấu phía Bắc.

Riêng Nhà hát Tuổi trẻ từ những năm cuối thập niên 90 của TK trước đã năng động trong công tác quản lý và điều hành hoạt động, đã linh hoạt áp dụng từng bước các hình thức xã hội hóa từ khâu dàn dựng cho đến biểu diễn. Bước vào “lộ trình đổi mới cơ chế hoạt động” Nhà hát Tuổi trẻ có nhiều thuận lợi hơn hẳn các đơn vị nghệ thuật công lập ở trung ương vì đã có bề dày hoạt động xã hội hóa từ khi còn hưởng chế độ bao cấp. Từ khi được Nhà nước mở đường thông thoáng hơn, khuyến khích tự chủ trong hoạt động tài chính, thì Nhà hát Tuổi trẻ càng có cơ hội để tăng cường hoạt động xã hội hóa.

Đây là cơ sở để Nhà nước và Bộ VHTTDL tiếp tục chủ trương chuyển đổi một số đơn vị nghệ thuật công lập sang cơ chế tự chủ tài chính.

Ngày 19-8-2014 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 1456/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng thể phát triển nghệ thuật biểu diễn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Với định hướng: “đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động nghệ thuật biểu diễn”.

Theo đó, bắt đầu từ năm 2015, ngoài 2 đơn vị là Nhà hát Ca Múa Nhạc Việt Nam và Nhà hát Nghệ thuật Đương đại Việt Nam đã thực hiện cơ chế tự chủ 100%, có 3 đơn vị là Nhà hát Tuổi trẻ, Nhà hát Múa Rối Việt Nam và Liên đoàn Xiếc Việt Nam sẽ giảm 30% ngân sách, các năm tiếp theo sẽ giảm mỗi năm 30% nữa, như vậy đến năm 2018 cả 3 đơn vị này sẽ tự chủ hoàn toàn... Tuy nhiên, lộ trình đã được vạch ra chưa thể trở thành hiện thực.

Tuy nhiên, từ năm 2015 đến nay, cả nước chưa có thêm một đơn vị nghệ thuật biểu diễn công lập nào trở thành đơn vị xã hội hóa hoàn toàn, chỉ có một số hoạt động xã hội hóa từng phần trong các đơn vị công lập.

Một loạt câu hỏi lớn cần được giải đáp: Tại sao khi chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật mới được ban hành, trong khi các đơn vị nghệ thuật sân khấu ngoài công lập, chủ yếu ở TP.HCM, đã nhanh nhạy nắm bắt thời cơ, liên tiếp ra đời và thi đua nhau hoạt động sôi nổi, sáng đèn hàng đêm, thu hút được khán giả thành phố đến với sân khấu, thì các đơn vị nghệ thuật công lập miền Bắc vẫn rất dè dặt, e ngại trước cánh cửa xã hội hóa? Tại sao gần 30 năm trôi qua kể từ khi có chủ trương này của Đảng và Nhà nước, việc xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật chưa được thực hiện một cách rộng khắp và chưa thực sự mang lại hiệu quả cao?

Xét trường hợp của các đơn vị nghệ thuật sân khấu công lập, chủ yếu ở miền Bắc, chúng tôi nhận thấy có một số nguyên nhân cơ bản sau:

Về nguồn nhân lực: Những người làm công tác quản lý, đứng đầu các đơn vị nghệ thuật công lập hầu hết là những người vốn quen làm việc trong cơ chế bao cấp nhiều đoàn, nhà hát có tâm lý “sợ” xã hội hóa. Tâm lý này tạo nên một sức ỳ rất lớn, trở thành rào cản, không thúc đẩy được tiến trình xã hội hóa các đơn vị nghệ thuật công lập.

Hầu hết các nghệ sĩ ở các đơn vị nghệ thuật biểu diễn ở miền Bắc đều thuộc diện biên chế hoặc hợp đồng trong các đơn vị nghệ thuật công lập (rất ít nghệ sĩ tự do), được Nhà nước bao cấp về lương, các chế độ bảo hiểm và kinh phí dàn dựng tác phẩm. Chế độ bao cấp đang tạo nên sức ỳ lớn đối với tập thể và các nghệ sĩ, làm giảm tính năng động.

Về tài chính: từ xưa tới nay, nghệ thuật ở thời nào và ở đâu cũng cần được nuôi dưỡng, cần có kinh phí để hoạt động, tức là cần có các nguồn tài trợ. Kể cả ở các nước phát triển có nền nghệ thuật lâu đời và vững mạnh như Anh, Mỹ thì các tổ chức nghệ thuật vẫn cần được tài trợ để hoạt động. Các nguồn tài trợ này một phần rất nhỏ đến từ chính phủ, còn phần lớn là từ các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế lớn, các tổ chức phi chính phủ, các nhà hảo tâm... Còn ở Việt Nam, một mặt nhà nước cắt giảm ngân sách, nhưng mặt khác các đơn vị nghệ thuật không biết bấu víu vào nguồn tài trợ nào, thì đương nhiên họ bị bế tắc, khủng hoảng.

Vấn đề môi trường pháp lý: Việc nhà nước cắt giảm ngân sách, để các đơn vị nghệ thuật chủ động về tài chính là chủ trương cần thiết. Tuy nhiên, để thực hiện được việc này, nhà nước cần phải có một loạt chính sách khác để tạo ra môi trường pháp lý giúp cho các đơn vị nghệ thuật có thể tồn tại và hoạt động được. Một trong những chính sách có liên quan trực tiếp đến vấn đề này là chính sách giảm hoặc miễn thuế đối với các khoản tài trợ cho hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tuy nhiên, cho đến nay nhà nước ta chưa có quy định này, cho nên các đơn vị nghệ thuật nếu có nhận được tài trợ từ các tổ chức kinh tế thì cũng chỉ là những khoản ít ỏi, không ổn định.

Một nguyên nhân nữa, mà theo chúng tôi là nguyên nhân của mọi nguyên nhân, là bản thân chính sách của Nhà nước còn nhiều điều bất hợp lý, không đồng bộ, chưa sát với thực tiễn.

3. Thay cho lời kết

Nhìn lại chặng đường nửa thế kỷ qua, chúng ta có thể tự hào rằng sân khấu Việt Nam đã có những bước phát triển về số lượng và chất lượng, đã đạt được một số thành tựu đáng trân trọng, đáng được ghi nhận; có những thời kỳ sân khấu đã có tiếng nói tích cực, có đóng góp quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ Đổi mới, là món ăn tinh thần được người dân yêu thích, và góp phần quảng bá văn hóa nghệ thuật Việt Nam trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, còn đó rất nhiều vấn đề quan trọng mà sân khấu chưa làm được như kỳ vọng của quần chúng nhân dân, cũng như của giới chuyên môn làm nghề. Chưa bao giờ hiện thực cuộc sống trên đất nước ta lại nảy sinh nhiều vấn đề mới mẻ, phong phú và đa dạng như thời kỳ Đổi mới này, tuy nhiên sân khấu chưa có được những tác phẩm xứng tầm với hiện thực sôi động của đất nước hôm nay. Sau sự ra đi của Lưu Quang Vũ, sân khấu cả nước hầu như cũng mất đi sức hút mạnh mẽ đối với công chúng, cũng chưa thấy xuất hiện tác giả nào tài năng như Lưu Quang Vũ. Nhiều người không muốn đến nhà hát vì ít có những vở kịch đủ sức hấp dẫn và có thể chạm tới được trái tim của họ.

Về “hiện tượng kịch Lưu Quang Vũ” nổi bật lên ở những năm 1980-1990 thì đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học “mổ xẻ” kỹ càng, đã có những phân tích, đánh giá thỏa đáng. Tuy nhiên, theo tôi, trước hiện tượng khán giả hôm nay vẫn say mê xem kịch Lưu Quang Vũ, và các vở kịch của Lưu Quang Vũ vẫn xuất hiện khá thường xuyên trong kịch mục của các nhà hát, thì cũng cần có thêm các công trình nghiên cứu, các cuộc điều tra xã hội học tiếp tục nghiên cứu về “hiện tượng kịch Lưu Quang Vũ” đối với khán giả hôm nay.

Trong lịch sử phát triển của mình, sân khấu Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn khủng hoảng, sự khủng hoảng rõ nhất và lâu dài nhất là thiếu kịch bản sân khấu hay. Theo tôi, một trong những điều khó khăn đối với các nhà văn, nhà biên kịch chính là mặt trái của sự quá chú trọng đến tính chính trị, khiến cho nhiều tác giả có tâm lý né tránh, không muốn động chạm đến các vấn đề nóng bỏng của xã hội, e ngại đi thẳng vào những đề tài nổi cộm của xã hội hiện nay. Vì thế, có một xu thế khá rõ của các nhà hát hiện nay là chọn những vở về đề tài chiến tranh, đề tài lịch sử, hoặc chọn dàn dựng và biểu diễn một số vở kịch kinh điển của thế giới như kịch của Shakespeare, Ibsen, Chekhor...

Không ít lần tại một số cuộc hội thảo về sân khấu đương đại, một số người “phàn nàn” rằng văn học, sân khấu hiện nay không theo kịp với những biến đổi của thực tiễn xã hội, và chưa có tác phẩm nào tương xứng với những thay đổi lớn lao của đất nước, một số khác lo ngại rằng việc các nhà hát quay lại dàn dựng các vở kịch có đề tài cũ đôi khi làm cho sân khấu thiếu sáng tạo mới mẻ, thiếu tính đột phá, điều mà khán giả mong đợi ở sân khấu. Một số khác lại có cái nhìn đồng cảm hơn với các nghệ sĩ. Họ cho rằng đây là cách làm “an toàn” nhất cho các nhà hát, là một sự “đảm bảo” cho vở kịch sẽ được các cơ quan quản lý thông qua, hơn nữa, đó là cách “lấy chuyện xưa để nói chuyện hôm nay”, bởi vì ý nghĩa của các câu chuyện cũ vẫn có giá trị đối với con người hôm nay.

Trong khoảng dăm năm trở lại đây, sân khấu kịch Việt Nam có xu hướng khởi sắc trở lại. Nhưng đại dịch COVID-19 xảy ra khiến cho sân khấu phải dừng lại. Sau đại dịch, nhu cầu được đến nhà hát để thưởng thức nghệ thuật của khán giả mạnh mẽ hơn. Nhưng số lượng kịch bản mới, nói về những vấn đề mới của cuộc sống hôm nay vẫn còn ít; kịch Lưu Quang Vũ và một số kịch bản kinh điển của sân khấu thế giới như King Lear, Hamlet, Cậu Vanya... vẫn được các nhà hát lựa chọn để biểu diễn. Bên cạnh đó, một số tác phẩm văn học của các nhà văn Việt Nam nổi tiếng mấy thập kỷ trước được chuyển thể sang kịch bản sân khấu để dàn dựng. Đề tài lịch sử cũng là một hướng lựa chọn của một số nhà hát kịch hiện nay.

Có lẽ vì thế mà vào năm 2025 - năm kỷ niệm nhiều sự kiện lịch sử lớn của đất nước ta, nhưng đến nay chưa thấy có tác phẩm sân khấu nào (mới được sáng tác) xứng tầm với cái mốc lịch sử tròn 50 năm thống nhất đất nước, 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9. Đây là điều đáng để các nhà hoạt động sân khấu chúng ta phải suy nghĩ.

Thế giới đang có những biến đổi về khoa học kỹ thuật, với những tiến bộ mang tính đột phá của kỹ thuật số, công nghệ AI... Việt Nam chúng ta đang tích cực đón nhận cuộc cách mạng số này để ứng dụng vào các lĩnh vực của cuộc sống. Đối với văn hóa nghệ thuật Việt Nam, trong đó có sân khấu, đây là cơ hội để công nghiệp hóa, hiện đại hóa để bắt nhịp với sự phát triển chung của nhân loại. Kỹ thuật số, AI giúp cho công tác bảo tồn, lưu giữ và truyền dạy các loại hình nghệ thuật sân khấu rất hữu ích; các ngành như mỹ thuật sân khấu, âm nhạc, và nhiều bộ môn khác nữa sẽ hưởng lợi rất lớn từ những thành tựu của cách mạng kỹ thuật số.

Sân khấu ở TK XXI cần có những thay đổi đột phá để có các hình thức biểu hiện phong phú, đa dạng, phải có nội dung sâu sắc và nói với công chúng bằng thứ ngôn ngữ hiện đại, thì mới có thể “trò chuyện” được với công chúng thời đại số. Muốn vậy, các nghệ sĩ cần phải không ngừng học hỏi, không ngừng phấn đấu, và cần phải biết “lắng nghe” từng hơi thở của cuộc sống!(6).

(tiếp theo số 624 và hết)

_________________________

5. Lê Như Hoa, Những vấn đề đặt ra trong công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa, xã hội hóa hoạt động văn hóa, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1996, tr.12.

6. Tham luận tại Hội thảo “Nhìn lại sự vận động, phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (30-4-1975 - 30-4-2025)” do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tổ chức tháng 6-2025.

GS, TS LÊ THỊ HOÀI PHƯƠNG

Nguồn: Tạp chí VHNT số 627, tháng 12-2025