Nón lá của dân tộc Nùng rất khác với nón lá ở một số địa phương khác. Không chỉ khác về hình thức mà còn khác về cách làm và nguyên liệu. Ảnh Phạm Tuấn Minh.jpg
Nón lá của dân tộc Nùng rất khác với nón lá ở một số địa phương khác. Không chỉ khác về hình thức mà còn khác về cách làm và nguyên liệu - Ảnh: Tuấn Minh

Từ những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống

Nghề đan lát của người Tày, Nùng có nguồn gốc từ thời kỳ định canh định cư sơ khai, phát triển gắn liền với đặc điểm địa lý tự nhiên của vùng núi cao và trung du. Sự hiện diện phong phú của các loại lâm sản như tre (nhiều loại: tre gai, tre tàu, tre luồng), nứa, giang (đặc biệt quan trọng trong kỹ thuật đan chiếu cót), mây, và cọ (dùng làm nón, lợp nhà) đã tạo nên một nguồn nguyên liệu vô tận, kích thích sự hình thành và phát triển của nghề thủ công này.

Kỹ năng đan lát được xem là một tri thức bản địa, được chuyển giao theo chiều dọc gia đình (từ cha mẹ sang con cái) và theo chiều ngang cộng đồng (qua các buổi sinh hoạt tập thể, trao đổi kinh nghiệm), tạo nên tính bền vững về mặt truyền nghề. Trong cấu trúc xã hội truyền thống Tày, Nùng, người phụ nữ thường đảm nhiệm công đoạn chế tác tinh xảo, trong khi đàn ông thường chịu trách nhiệm khai thác và sơ chế vật liệu thô.

Nghề đan lát thủ công từ tre, mây và cọ của người Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc Việt Nam là một biểu hiện sống động của mối quan hệ cộng sinh giữa con người và tự nhiên, một di sản văn hóa phi vật thể mang đậm dấu ấn bản sắc tộc người. Xuất phát điểm từ nhu cầu sinh tồn và tự cung tự cấp, nghề đan lát đã vượt qua vai trò thuần túy là kỹ năng tạo ra vật dụng để trở thành một phương tiện chuyển tải triết lý sống, thẩm mỹ dân gian và kinh nghiệm ứng xử với môi trường tự nhiên. Sự hình thành của nghề này gắn liền với sự phong phú của tài nguyên rừng núi, nơi tre, nứa, giang, mây không chỉ là vật liệu mà còn là “người bạn” gắn bó với vòng đời con người từ chiếc nôi (thường đan bằng tre) cho đến chiếc hòm đựng đồ lễ trong nghi thức tang ma. Nghề đan lát của người Tày, Nùng có nguồn gốc từ rất lâu đời, hình thành từ chính nhu cầu thiết yếu của cuộc sống tự cung tự cấp trong môi trường rừng núi. Với địa hình nhiều đồi núi, rừng tre, nứa, giang, mây phong phú, việc tận dụng những nguyên liệu tự nhiên này để tạo ra công cụ phục vụ sinh hoạt và sản xuất là một lẽ tất yếu. Ban đầu, các sản phẩm đan lát chủ yếu là những vật dụng phục vụ trực tiếp cho cuộc sống hàng ngày và sản xuất nông nghiệp như nông cụ: Nong, nia để phơi thóc, ngô, sắn; dần, sàng để sàng sảy ngũ cốc; Vật dụng sinh hoạt: Rổ, rá đựng đồ, giỏ xách, gùi đeo (thường dùng để gùi nông sản, củi, hoặc địu trẻ em), chiếu cót để trải giường, nền nhà, nón lá.

Phụ nữ dân tộc Tày, Nùng ở Định Hoá, Thái Nguyên nổi tiếng với kỹ năng đan lát đồ dùng bằng cọ.
Ảnh: Tuấn Minh.jpg
Phụ nữ dân tộc Tày, Nùng ở Định Hoá, Thái Nguyên nổi tiếng với kỹ năng đan lát đồ dùng bằng cọ. - Ảnh: Tuấn Minh

 Kỹ thuật đan lát được truyền dạy qua nhiều thế hệ, chủ yếu từ ông bà, cha mẹ. Đây là một kỹ năng cơ bản mà hầu như ai trong cộng đồng Tày, Nùng cũng cần phải biết.   Kỹ thuật đan lát của người Tày, Nùng thể hiện sự tinh tế và công phu qua các bước chế biến nguyên liệu khắt khe: từ việc chọn cây, ngâm tẩm, chẻ nan, vót nan sao cho đều, mỏng và dẻo dai, đến việc áp dụng các kiểu đan truyền thống như đan nong mốt, nong đôi, đan lóng mốt, lóng đôi, và đặc biệt là kỹ thuật đan chiếu cót bằng giang, tạo nên độ bền và tính thẩm mỹ cao qua thời gian sử dụng. Mỗi loại sản phẩm lại yêu cầu độ dày, mỏng của nan khác nhau. Kỹ thuật vót nan đều tay, nhẵn mịn là bí quyết được gìn giữ. Phụ nữ Tày có kỹ thuật vót nan độc đáo: ở giữa nan rộng, hai đầu chuốt hơi hẹp, nhọn lại. Các sản phẩm như gùi, nia, dần, sàng không chỉ là công cụ lao động thiết yếu mà còn là “ngôn ngữ” của hình học dân gian, thể hiện sự chính xác, cân đối trong không gian sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp lúa nước, nương rẫy của họ.

Kỹ thuật đan lát của người Tày, Nùng là sự kết hợp của kiến thức toán học và hình học dân gian, thể hiện qua sự chính xác trong việc chia nan và đan cài. Các kiểu đan phổ biến như đan nong mốt (một nan đè lên một nan), nong đôi (hai nan đè lên hai nan), hay kiểu đan xương cá là nền tảng. Các kiểu đan này không chỉ tạo ra kết cấu bền vững mà còn là cơ sở để tạo ra các hoa văn trang trí. Hoa văn đan lát thường mang tính biểu tượng, lấy cảm hứng từ thiên nhiên (mô hình ruộng bậc thang, sóng nước, hoa lá) hoặc hình học cơ bản (vuông, hình thoi). 

 Sự sáng tạo được thể hiện qua các kiểu đan tạo hình tinh xảo, trang nhã. Các hoa văn phổ biến như hình ô vuông, bàn cờ, ô ngựa, hoa 6 cánh... được căn chỉnh chuẩn xác, vuông vắn. Đối với các sản phẩm như chiếu cót đan bằng cây giang, kỹ thuật này còn tạo ra sự độc đáo: càng dùng lâu càng bóng đẹp và có thể sử dụng hàng chục năm.

Muốn có được chiếc quạt cọ bền và đẹp phải đan bằng búp cọ. Thu hoạch về chẻ và tước, để duỗi ra rồi mới đan Ảnh: Ngô Hồng Vân .jpg
Muốn có được chiếc quạt cọ bền và đẹp phải đan bằng búp cọ. Thu hoạch về chẻ và tước, để duỗi ra rồi mới đan - Ảnh: Ngô Hồng Vân 

Cải thiện thu nhập và phát triển kinh tế địa phương

Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện đại, nghề đan lát đã vượt ra khỏi phạm vi tự cung tự cấp và trở thành một nghề phụ quan trọng, góp phần cải thiện thu nhập và đời sống cho nhiều gia đình Tày, Nùng. Sản phẩm đan lát ngày nay đã đa dạng hóa, không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt mà còn đáp ứng thị trường quà tặng, trang trí và thủ công mỹ nghệ. Nghệ nhân đã bắt đầu đan các sản phẩm có yêu cầu kỹ thuật cao và tính thẩm mỹ như giỏ hoa, giỏ xách tay, bàn cờ tướng...

Tại một số địa phương như xã Minh Khai, xã Tự Do, xã Hạnh Phúc (Cao Bằng), nghề đan lát thủ công phát triển tập trung, tạo thành làng nghề. Sự nổi tiếng của sản phẩm đan lát đã giúp người dân có thu nhập ổn định, phát triển kinh tế nhờ bảo tồn và phát huy nghề truyền thống. Nghề đan lát truyền thống đang phát huy tiềm năng trong việc thu hút khách du lịch. Du khách khi đến các vùng biên cương Tổ quốc như Cao Bằng không chỉ chiêm ngưỡng mà còn mua sắm, tạo đầu ra bền vững cho sản phẩm. Đây là tín hiệu đáng mừng giúp “giữ lửa” cho ngành nghề có nguy cơ bị quên lãng.

Tuy nhiên, thách thức về thu nhập vẫn là một rào cản. Việc hoàn thành một sản phẩm đan lát cần rất nhiều thời gian, công sức, nhưng thu nhập chưa thực sự cao, khiến giới trẻ không còn mặn mà.

Những món đồ đan bằng tre này không chỉ là đồ gia dụng mà còn được dùng decor nhà cửa. Ảnh Ngô Hồng Vân.jpg
Những món đồ đan bằng tre này không chỉ là đồ gia dụng mà còn được dùng decor nhà cửa. - Ảnh: Ngô Hồng Vân

Bảo tồn hồn cốt văn hóa Tày, Nùng

Nghề đan lát không chỉ là hoạt động kinh tế mà còn là một phần không thể tách rời của văn hóa, là dấu ấn của dân tộc Tày, Nùng. Sản phẩm đan lát không chỉ là vật dụng thông thường mà còn là đồ dùng không thể thiếu trong nhiều nghi lễ quan trọng của người Tày như lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễ thôi nôi, lễ tang. Ví dụ như khóp đựng xôi. Điều này khẳng định vai trò mang tính biểu tượng, tâm linh của sản phẩm thủ công này. 

Nghề đan lát đóng vai trò quan trọng trong việc lưu giữ các yếu tố văn hóa phi vật thể và các nghi lễ. Trong các nghi lễ tín ngưỡng: Các đồ vt đan lát đơn gin như lng nht gà cúng, mâm cúng thường được làm mi hoc chế tác riêng cho các dp l hi, th hin s kính trng đối vi thn linh và t tiên. S hin din ca chúng trong các nghi l vòng đời (sinh n, trưởng thành, tang ma) khng định vai trò như vt phm trung gian gia thế gii thc ti và thế gii tâm linh.

Các vật dụng đan lát như khóp đựng xôi, giỏ đựng lễ trong lễ ăn hỏi, lễ cưới mang ý nghĩa sung túc, gắn kết và sự khéo léo của người phụ nữ trong gia đình. Quá trình đan lát đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ, và sự hòa hợp giữa sức mạnh và sự dẻo dai. Các đức tính này được cộng đồng Tày, Nùng coi trọng, qua đó nghề đan lát trở thành phương tiện giáo dục những phẩm chất đạo đức truyền thống.

Sự khéo léo, tính cần cù, mềm mỏng, cẩn thận, bình tĩnh và không nôn nóng - những phẩm chất cần có của người thợ đan lát - cũng chính là những triết lý sống, đức tính quý báu được truyền dạy trong cộng đồng. Việc chế tác nguyên liệu, tập trung đan lát khi có đơn đặt hàng lớn thể hiện sự gắn bó, tương trợ lẫn nhau của cả cộng đồng với ngành nghề truyền thống.

Quạt đan bằng lá cọ là một món đồ quen thuộc của người dân. Ảnh: Tuấn Minh.jpg
Quạt đan bằng lá cọ là một món đồ quen thuộc của người dân. - Ảnh: Tuấn Minh

Giờ đây, khi các vật dụng công nghiệp dần thay thế đồ thủ công, nghề đan lát đang đứng trước nguy cơ mai một, đồng bào Tày, Nùng vẫn ý thức sâu sắc rằng giữ gìn nghề đan lát truyền thống của dân tộc là giữ lại nét sinh hoạt mang giá trị văn hóa, giữ lại cội nguồn của tổ tiên.

Nhiều nghệ nhân lão luyện trong cộng đồng như bà Ma Thị Sơ (Lào Cai) hay nghệ nhân Nhi (Cao Bằng) vẫn miệt mài gìn giữ và tận tâm truyền dạy cho con cháu, dù biết rằng nghề tốn thời gian mà thu nhập không cao. Sự trăn trở này là động lực lớn nhất để “giữ lửa” nghề. Nhiều hoạt động được Bộ VHTTDL phối hợp với các địa phương tổ chức, nhằm tập huấn, truyền dạy bảo tồn nghề thủ công truyền thống. Điều này không chỉ giúp duy trì kỹ thuật mà còn tạo cơ hội để thế hệ trẻ tiếp cận và yêu thích di sản của dân tộc mình.

Việc mở rộng thị trường tiêu thụ, kết hợp với du lịch, tạo ra các sản phẩm thủ công mỹ nghệ có tính ứng dụng và thẩm mỹ cao là giải pháp bền vững để nghề đan lát tiếp tục tồn tại và phát triển.

Nghề đan lát thủ công từ tre, mây, cọ của người Tày, Nùng ở miền núi phía Bắc không chỉ đơn thuần là một hoạt động sản xuất, mà còn là một di sản phi vật thể quý giá. Từ những chiếc rổ, rá, gùi, đến những chiếc chiếu cót với hoa văn tinh xảo, mỗi sản phẩm đều chứa đựng tâm hồn, triết lý sống và lịch sử của đồng bào.

Việc duy trì và phát triển nghề này, thông qua việc truyền dạy kỹ thuật, đa dạng hóa sản phẩm và kết nối thị trường du lịch, chính là cách thiết thực nhất để bảo tồn di sản văn hóa truyền thống, đồng thời tạo ra sinh kế bền vững, góp phần làm phong phú thêm đời sống kinh tế - văn hóa ở vùng cao.

Những chiếc quạt nam đã hoàn thiện sau nhiều công đoạn Ảnh: Tuấn Minh.jpg
 Những chiếc quạt nam đã hoàn thiện sau nhiều công đoạn - Ảnh: Tuấn Minh

Hành trình phát triển của nghề đan lát là một minh chứng cho sự thích ứng kinh tế và văn hóa. Ban đầu, sản phẩm hoàn toàn phục vụ trong phạm vi gia đình và cộng đồng, mang nặng giá trị sử dụng và giá trị tinh thần; tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện đại, nghề này đã chuyển mình thành một ngành nghề phụ, mang lại nguồn thu nhập bổ sung đáng kể, đặc biệt ở các làng nghề tập trung. Sự chuyển đổi này đòi hỏi người thợ phải đa dạng hóa sản phẩm, từ các vật dụng truyền thống sang các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, quà lưu niệm, và đồ trang trí nội thất có tính ứng dụng cao hơn, đáp ứng thị hiếu của khách du lịch và thị trường xuất khẩu, từ đó nâng cao giá trị kinh tế và duy trì sức sống của nghề.

Tuy nhiên, giá trị cốt lõi và quan trọng nhất của nghề đan lát lại nằm ở vai trò bảo tồn di sản văn hóa dân tộc; việc duy trì nghề này chính là giữ lại một phần ký ức lịch sử và bản sắc tộc người Tày, Nùng. Mỗi hoa văn, mỗi kiểu đan đều chứa đựng quy ước văn hóa, tín ngưỡng và triết lý nhân sinh, phản ánh đức tính cần cù, khéo léo, và tinh thần hòa hợp với tự nhiên của cộng đồng. Sự hiện diện của các sản phẩm đan lát trong các nghi lễ vòng đời và nghi thức tâm linh, từ chiếc lồng gà cúng tế đến các vật dụng dâng lên tổ tiên, chứng tỏ vị thế không thể thay thế của chúng trong đời sống tinh thần. Do đó, việc truyền dạy kỹ thuật đan lát cho thế hệ trẻ không chỉ là truyền nghề mà còn là một hình thức giáo dục văn hóa, giúp bảo tồn kỹ năng thủ công truyền thống đang dần mai một dưới tác động của công nghiệp hóa. Sự gắn kết chặt chẽ giữa nghề đan lát và du lịch văn hóa bền vững càng khẳng định vị thế của nó như một “sứ giả” văn hóa, giúp giới thiệu sự tinh tế và độc đáo của văn hóa Tày, Nùng đến với công chúng trong nước và quốc tế.

Phải trải qua rất nhiều công đoạn mới đan được một chiếc nón lá - Ảnh: Ngô Hồng Vân.jpg
 Phải trải qua rất nhiều công đoạn mới đan được một chiếc nón lá - Ảnh: Ngô Hồng Vân

DIÊN VỸ

Nguồn: Tạp chí VHNT số 635, tháng 2-2026