Theo đó, Thông tư số 02/2025/TT-BVHTTDL ngày 11/4/2025 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật dịch vụ tổ chức các giải thi đấu thể thao trong nước và quốc tế do Việt Nam đăng cai, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2025, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 21/2026/TT-BVHTTDL ngày 20/7/2026 của Bộ trưởng Bộ VHTTDL có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2026.

Theo đó, Thông tư này quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật dịch vụ tổ chức các giải thi đấu thể thao trong nước và quốc tế do Việt Nam đăng cai có sử dụng ngân sách nhà nước (sau đây gọi là dịch vụ sự nghiệp công), bao gồm: Giải quốc tế (Giải thi đấu vô địch, giải thi đấu vô địch trẻ từng môn thể thao cấp khu vực, châu lục và thế giới tổ chức tại Việt Nam, giải thi đấu cấp khu vực, châu lục và thế giới tổ chức tại Việt Nam cho người khuyết tật); Giải quốc gia (Giải thi đấu vô địch quốc gia, giải thi đấu vô địch trẻ quốc gia từng môn thể thao; giải thể thao quần chúng cấp quốc gia, hội thi thể thao quần chúng cấp quốc gia).

Đối tượng áp dụng gồm: Các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng ngân sách nhà nước để cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc triển khai dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước; Khuyến khích cơ quan, tổ chức ngoài công lập có triển khai dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng ngân sách nhà nước áp dụng định mức kinh tế - kỹ thuật theo quy định tại Thông tư này.

Nội dung định mức kinh tế - kỹ thuật bao gồm:

Hao phí lao động, là thời gian lao động trực tiếp và lao động gián tiếp cần thiết của các hạng bậc lao động bình quân để hoàn thành việc thực hiện một dịch vụ. Mức hao phí của lao động trực tiếp là thời gian thực hiện các công đoạn theo hướng dẫn triển khai dịch vụ sự nghiệp công, được tính bằng công, mỗi công tương ứng với thời gian 1 ngày làm việc (8 giờ) của người lao động theo quy định tại Điều 105 của Bộ luật Lao động; 1 buổi hoặc trận làm việc tương ứng 4 giờ (tương đương một phần hai công), bảo đảm làm việc tối đa không được vượt quá 3 buổi hoặc 3 trận đấu/người/ngày; mức hao phí lao động gián tiếp tính theo tỷ lệ 15% của lao động trực tiếp tương ứng.

Hao phí thiết bị, là thời gian sử dụng máy móc, thiết bị để phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công. Mức hao phí máy móc, thiết bị trong định mức được tính bằng ca sử dụng máy, mỗi ca tương ứng với 1 ngày làm việc (8 giờ) theo quy định tại Điều 105 của Bộ luật Lao động.

Hao phí vật tư, là số lượng các loại vật liệu cụ thể và cần thiết sử dụng trực tiếp để phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công.

Đồng thời kết cấu của định mức kinh tế - kỹ thuật bao gồm các nội dung sau: Tên định mức; Mô tả thành phần công việc (Là nội dung các công đoạn chính để thực hiện cung cấp dịch vụ sự nghiệp công); Bảng định mức kinh tế - kỹ thuật gồm: Hao phí lao động (Chức danh và hạng bậc lao động, đơn vị tính trị số định mức hao phí); Hao phí thiết bị (Tên loại máy móc hoặc thiết bị, đơn vị tính mức hao phí, mức hao phí); Hao phí vật tư (Tên và quy cách vật liệu, đơn vị tính mức hao phí, mức hao phí; Trị số định mức hao phí (Là giá trị tính bằng số của hao phí lao động, máy móc, thiết bị, vật tư); Định mức kinh tế - kỹ thuật được quy định tại Phụ lục kèm theo Thông tư này.

Trong đó, Phụ lục được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 1 của Thông tư số 21/2026/TT-BVHTTDL sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2025/TT-BVHTTDL. Cụ thể, sửa đổi Biểu số 03, 22, 46, 56, 57, 60, bổ sung Biểu số 75, 76, 77, 78, 79 tại Phụ lục kèm theo Thông tư.