
Hoa Lũy - một cộng đồng “ốc đảo”xa xưa
Thoạt nhìn, làng Hoa Lũy vẫn mang những đặc trưng cơ bản của một làng Việt truyền thống: cộng cư theo dòng họ, sinh kế gắn với nông nghiệp và biển, hệ thống tín ngưỡng dân gian với đình - đền và lễ hội trong năm.
Hoa Lũy xưa nằm ở khu vực ven biển phía Bắc huyện Diễn Châu, phía Đông giáp biển, ba phía còn lại được bao bọc bởi sông ngòi và kênh rạch. Trong lịch sử, cấu trúc địa thủy này khiến làng gần như bị cô lập tương đối với các cộng đồng xung quanh. Việc đi lại chủ yếu dựa vào đò ngang, các bến sông bến đò trở thành không gian sinh hoạt quan trọng của làng.
Từ góc nhìn nhân học sinh thái, có thể nói rằng chính điều kiện địa lí này đã góp phần định hình cấu trúc kinh tế và tín ngưỡng của Hoa Lũy. Sinh kế truyền thống của cư dân là sự kết hợp giữa trồng lúa nước, hoa màu, nghề biển, làm muối và trồng dâu nuôi tằm. Trong đó, biển vừa là nguồn sống, vừa là không gian đầy bất trắc, khiến nhu cầu về các vị thần bảo trợ - đặc biệt là thần biển (Nam Hải đại vương, Cá Voi…) - trở nên nổi bật.
Đồng thời, do không nằm trên các trục giao thông lớn, Hoa Lũy ít chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các trung tâm Phật giáo hay các dòng truyền bá tôn giáo mang tính khu vực. Đây là một tiền đề quan trọng để lý giải hiện tượng “Hoa Lũy không chùa” sẽ được bàn ở phần tiếp theo.

Đình làng Hoa Lũy - một không gian cộng đồng không thờ thần thường trực
Theo các tư liệu hồi cố và ghi chép cũ ở địa phương, trước năm 1945, Hoa Lũy có một ngôi đình làng khá lớn, nằm ở vị trí gần bến sông lớn, nơi giao điểm của các trục đường bộ và đường sông chạy trong làng.
Điểm đặc biệt là đình Hoa Lũy không thờ thành hoàng hay thần linh một cách thường trực. Các vị thần của làng ngự tại ba ngôi đền riêng biệt. Chỉ đến dịp lễ hội hàng năm, người ta mới rước bài vị và sắc phong từ các đền tập trung về đình, sau khi kết thúc hội thì lại rước hoàn cung. Có thể thấy, đình Hoa Lũy chủ yếu đảm nhiệm chức năng hành chính (nơi dân làng hội họp), mà không có thêm chức năng thờ tự thường xuyên như đình làng ở ngoài Bắc.
Trong nghiên cứu về đình làng Việt Nam, đình thường được xem là nơi hội tụ cả thần quyền (bằng việc thờ thành hoàng thường trực) và quyền lực thế tục (bằng việc hội họp, khao vọng, bố cáo việc làng). Trường hợp làng Hoa Lũy ở xứ Nghệ thì gợi ý một biến thể: thần quyền được “phân bổ” về các ngôi đền, còn đình đóng vai trò trung gian, nơi các vị thần chỉ được qui tụ về vào thời điểm hội làng mà thôi. Đây là một cấu trúc mang tính biến thể trong cấu trúc của lịch sử làng xã Việt Nam, có thể xuất hiện ở vùng ven biển hoặc vùng có điều kiện địa lí đặc thù.
Sự vắng mặt của ngôi chùa thờ Phật ở Hoa Lũy từ xa xưa cũng là một hiện tượng đáng chú ý. Cho đến tận ngày nay, Hoa Lũy cũng vẫn chưa có chùa. Trong bối cảnh phổ biến của làng Việt, nơi đình và chùa thường tồn tại song song, thậm chí là trong cùng một khuôn viên, thì việc một làng hoàn toàn không có chùa cho thấy một cấu trúc tín ngưỡng mang tính đặc thù.
Từ phương diện lịch sử văn hóa, có thể cắt nghĩa với 3 điểm như sau. Thứ nhất, điều kiện giao thông trước đây khó khăn khiến Hoa Lũy tựa như bị tách biệt với xung quanh, làng ở bên ngoài mạng lưới truyền bá Phật giáo. Thứ hai, đời sống cư dân gắn chặt với biển cả và nông nghiệp, khiến các nhu cầu tín ngưỡng hướng nhiều hơn tới các vị thần bảo trợ cụ thể, đó là các vị thần biển cả và thần sông nước. Thứ ba, hệ thống ba ngôi đền với một ngôi đình tựa như đã bao trọn được nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng, vị vậy mà vô hình trung không tạo ra “khoảng trống” để một ngôi chùa xuất hiện.
Câu nói dân gian “Hoa Lũy không chùa” rất nổi tiếng ở trong vùng, vì thế không chỉ mang tính mô tả, mà còn phản ánh một nhận thức cộng đồng về bản sắc tín ngưỡng của làng Hoa Lũy.

Ba ngôi đền và cấu trúc tín ngưỡng đặc thù
Trước năm 1945, Hoa Lũy có ba ngôi đền chính, gồm Đền Cả, Đền Trang và Đền Cá Ông. Mỗi ngôi đền gắn với một không gian cư trú và mang một nét nghĩa riêng.
Đền Cả, nằm ở khu cư trú cổ nhất của làng, thờ các vị thần được gọi chung là “Bản thổ linh quan”. Đây là dạng thần bảo trợ địa phương, phổ biến trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, nhưng thường có thần tích có vẻ mờ nhạt hoặc đã bị thất truyền. Ở làng Hoa Lũy, hiện còn lưu lại được 18 sắc phong nguyên gốc có niên đại Lê mạt và Nguyễn, thì đạo sớm nhất năm Cảnh Hưng 28 (1767) có gia phong là “Bản thổ vị hiệu Quản Đông Bắc linh quan....đại thần” (tên hiệu của ngài gồm 49 chữ, gọi tắt là bản thổ linh quan).
Đền Trang thờ vị thần có danh xưng rõ ràng qua các sắc phong là “Đô Thái úy Thành Quốc công” hay “Tứ Dương hầu Thành Quốc công”. Qua quá trình đối chiếu tư liệu, vị thần này được xác định là Phạm Tử Nghi (Phạm Thành), một danh tướng thời Mạc. Võ công và tài năng của danh tướng được ghi trong nhiều bộ sử quốc gia. Bộ Đại Nam nhất thống chí có ghi “Thần là Phạm Tử Nghi, người xã Vĩnh Niệm [thành phố Hải Phòng ngày nay], làm quan triều Mạc đến chức Thái úy, tước Tứ Dương hầu, phò Mạc Chính Trung. Sau chạy ra chiếm cứu Yên Quảng, lại sang đất Minh thả quân xâm lấn Quảng Tây và Quảng Đông. Người Minh không kiềm chế được. Sau khi mất, người ta lập đền thờ. Nay từ Nam Quan đến bên sông thuộc Hải Dương và Sơn Nam, và nhiều nơi có đền thờ”. Việc xác định “Tứ Dương hầu Thành Quốc công” chính là nhân thần Phạm Tử Nghi đã trải qua một quá trình truy cứu tư liệu các nguồn rất lâu dài. Việc xác định này không chỉ có ý nghĩa đối với người dân làng Hoa Lũy, mà còn góp phần bổ sung tư liệu cho nghiên cứu về quá trình “lịch sử hóa” các vị thần làng.
Đền Cá Ông, tọa lạc gần cửa biển, thờ “Đông Hải thái thú Đại Ngư Ông” - tức thần Cá Voi. Đây là tín ngưỡng phổ biến ở các làng ven biển, phản ánh mối quan hệ sinh tử giữa ngư dân và biển cả.
Đứt gãy kí ức và quá trình phục hồi sau Đổi Mới
Từ sau năm 1945, chiến tranh và các biến động xã hội kéo dài đã khiến đình làng và ba ngôi đền của Hoa Lũy lần lượt bị phá hủy. Việc thờ tự bị gián đoạn, thần tích thất lạc, ký ức cộng đồng mai một. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là làng vẫn bảo quản được 18 đạo sắc phong nguyên gốc như đã nói ở trên.
Trong bối cảnh phục hồi tín ngưỡng dân gian trên phạm vi cả nước từ sau Đổi Mới (như đã được chỉ ra trong các nghiên cứu của Suenari Michio, Shaun Malarney và nhiều tác giả khác), trường hợp Hoa Lũy cho thấy một quá trình phục hồi chậm, nhưng bền bỉ và có chiều sâu.
Một nét đặc biệt của Hoa Lũy là việc làng đã sản sinh liên tiếp ba thế hệ nhà văn: Thanh Châu, Sơn Tùng và Thiên Sơn. Trong bối cảnh làng xã truyền thống, những người này có thể được xem là “trí thức làng” theo nghĩa rộng. Với tư cách là những nhà văn xuất thân từ Hoa Lũy, họ kế tiếp nhau trực tiếp tham gia vào cộng việc truy cứu và phục hồi ký ức làng. Thông qua Ban Liên lạc đồng hương Diễn Kim tại Hà Nội, các nhà văn đã góp phần bảo quản nhóm sắc phong vô giá (nhà văn Sơn Tùng nhận bàn giao 18 đạo sắc phong vào năm 1992), kết nối giới nghiên cứu với cộng đồng địa phương, và thúc đẩy quá trình xác định lai lịch các vị thần - đặc biệt là lai lịch của “Tứ Dương hầu Thành Quốc công” ở Đền Trang trước đây.
Trường hợp Hoa Lũy cho chúng ta biết rằng, trong xã hội đương đại, trí thức của làng có thể là người đã “rời làng”, sống ở cách xa, nhưng lại có thể trở thành cầu nối quan trọng giúp làng tái cấu trúc bản sắc văn hóa của mình.
Bản thân người viết bài này nhờ nhân duyên từ nhiều phương diện mà từ năm 2010 có tham gia vào quá trình tìm kiếm lai lịch cho các vị thần, đặc biệt là vị thần của Đền Trang. Cùng với các thành viên trong Ban Liên lạc đồng hương Diễn Kim tại Hà Nội, tôi tham gia các chuyến đi khảo sát tư liệu ở địa phương Nghệ An và các tỉnh thành khác (Hải Phòng, Hà Tây cũ, ngoại thành Hà Nội), đặc biệt đã tìm tư liệu cũ của EFEO (Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp) tại Hà Nội và nhiều kho lưu trữ khác. Nhưng quan trọng hơn cả là tôi cùng các thành viên Ban Liên lạc phối hợp sưu tầm tư liệu, rồi liên tục bàn luận để khớp nối các nguồn tư liệu khác nhau, đi đên được kết quả cuối cùng - đó là tìm ra “Tứ Dương hầu Thành Quốc công” chính là danh tướng Phạm Tử Nghi.

Đền Trang hôm nay: một ngôi đền mang thêm chức năng đình làng
Ngày nay, trong bối cảnh đình làng cũ hoàn toàn không còn dấu tích gì (đã hạ giải dần từ lâu), Đền Trang được khôi phục và đảm nhiệm vai trò trung tâm tín ngưỡng của Hoa Lũy. Đền vừa thờ vị thần chính Phạm Tử Nghi, vừa phối thờ các vị thần của Đền Cả và Đền Cá Ông, đồng thời là nơi tổ chức lễ hội chung của làng vào thượng tuần tháng Hai âm lịch.
Theo nghĩa đó, Đền Trang vừa là đền, vừa mang chức năng của một ngôi đình trung tâm của làng. Đây là một ví dụ điển hình cho quá trình tái cấu trúc không gian tín ngưỡng, trong đó truyền thống được duy trì, nhưng hình thức tổ chức được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện lịch sử - xã hội mới.
*
Làng Hoa Lũy - Kim Lũy là một trường hợp thú vị cho thấy tính đa dạng và linh hoạt của làng Việt truyền thống trong các biến đổi xã hội. Qua những đứt gãy lịch sử, cấu trúc tín ngưỡng của làng không bị triệt tiêu, mà được tái tạo thông qua nỗ lực của cộng đồng và vai trò đặc biệt của các trí thức làng.
Từ Hoa Lũy, có thể thấy rằng việc nghiên cứu làng Việt cần vượt ra khỏi những mô hình cố định, để nhận diện và lỉ giải những biến thể hay đặc thù. Chính những biến thể góp phần làm phong phú thêm nhận thức của chúng ta về văn hóa Việt Nam.



CHU XUÂN GIAO
Nguồn: Tạp chí VHNT số 632, tháng 1-2026