Từ khóa: gốm Lái Thiêu; hình tượng gà; trang trí gốm; ngôn ngữ tạo hình; giá trị nghệ thuật.

Abstract: In traditional Vietnamese art, the rooster is associated with the life of agricultural communities and carries symbolic values such as yang energy, auspiciousness, fertility, and happiness. On Lai Thieu pottery, the rooster image is depicted in diverse ways by artisans through compositions such as single roosters, pairs of roosters and hens, flocks of roosters, combined with motifs of chrysanthemums, flowering plants, and ornamental banana trees, creating symbols of longevity, fertility, and heroism and beauty. Building upon previous research, this study on approaches the subject from art history, cultural studies, and symbolism to comprehensively analyze and explain the visual language of rooster motifs in Southern Vietnamese pottery art. The results show that the rooster image has contributed to shaping the identity of Lai Thieu pottery, exemplified by the famous “Rooster Bowl”, while affirming its aesthetic and cultural value and suggesting directions for development in contemporary art.

Keywords: Lai Thieu ceramics; chicken figure; ceramic decoration; visual language; artistic value.

z7705350655085_87941dc1a31f994770b5cc94b4187520.jpg
Hình tượng gà trống dương oai bên khóm cỏ - Ảnh: Tác giả cung cấp

1. Đặt vấn đề

Trong mỹ thuật truyền thống Việt Nam, hình tượng gà là một trong những đề tài có khả năng sáng tạo cao, không bị ràng buộc bởi khuôn mẫu cổ điển. Các nghệ nhân đã khai thác hình tượng gà ở nhiều bố cục khác nhau: khi là gà trống oai vệ, khi là cặp gà trống - mái biểu thị cho sự hòa hợp, thậm chí có những bố cục nhiều con gà kết hợp với các chi tiết cảnh vật như “ba con gà đứng trước bờ giậu với bụi chuối lui về hậu cảnh” (Bùi Chí Hoàng - Nguyễn Văn Thủy, 2014, tr.107). Đặc biệt, ở gốm Lái Thiêu, gà thường kết hợp với các mô típ như hoa cúc, cây cải, cây chuối cảnh để tạo thành cặp đôi biểu trưng, phản ánh quan niệm thẩm mỹ và nhân sinh quan của người Việt.

Vào giữa thế kỷ XX, Lái Thiêu đã trở thành trung tâm gốm nổi bật với sản phẩm được nhân dân cả nước biết đến và yêu thích dưới tên gọi “Bát con gà Lái Thiêu” (Trần Khánh Chương, 2001, tr.28). Gốm con gà Lái Thiêu phổ biến trong đời sống, in đậm ký ức văn hóa nhiều thế hệ và là dòng sản phẩm tiêu biểu phản ánh sáng tạo, bản sắc và sức sống bền bỉ của gốm dân gian Nam Bộ.

Trong nghiên cứu mỹ thuật Việt Nam, nhiều học giả đã quan tâm đến gốm và nghệ thuật trang trí, cung cấp tư liệu về kỹ thuật, hoa văn, phong cách, đồng thời làm rõ ý nghĩa biểu tượng và giá trị thẩm mỹ của các hình tượng động vật, trong đó có gà.

Công trình Gốm Việt Nam - Kỹ thuật và nghệ thuật của Trần Khánh Chương (2013) là chuyên khảo toàn diện về gốm Việt Nam, phân tích kỹ thuật, tạo hình và hoa văn động - thực vật như ngôn ngữ chủ đạo, qua đó, cung cấp cơ sở để tiếp cận hình tượng gà trong gốm Lái Thiêu.

Gốm sứ Bình Dương của Bùi Chí Hoàng - Nguyễn Văn Thủy (2014) nghiên cứu lịch sử, sản phẩm và giá trị di sản gốm Bình Dương, trong đó, khẳng định gốm Lái Thiêu nổi bật với hoa văn phong phú, đặc biệt hình tượng gà vừa mang giá trị thẩm mỹ vừa phản ánh văn hóa bản địa.

Gốm hoa nâu Việt Nam của Phạm Quốc Quân - Nguyễn Đình Chiến (2005) không nghiên cứu trực tiếp gốm Lái Thiêu, nhưng cung cấp cơ sở tham chiếu quan trọng. Công trình làm rõ sự phong phú của hoa văn động vật và kỹ thuật trang trí gốm, là nền tảng so sánh để nhận diện đặc trưng tạo hình gà trong gốm Lái Thiêu.

Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí của Nguyễn Hữu Thông (2023) đã tiếp cận nghệ thuật trang trí dưới lăng kính biểu tượng, khẳng định mỗi mô típ vừa mang giá trị thẩm mỹ vừa phản ánh quan niệm văn hóa - tín ngưỡng. Cách tiếp cận này hữu ích khi phân tích hình tượng gà trên gốm Lái Thiêu, gắn với biểu tượng sinh sôi và đời sống nông nghiệp.

Ở góc độ địa phương, Gốm Lái Thiêu (2009) do Huỳnh Ngọc Trảng chủ biên, là công trình nền tảng, ghi nhận chi tiết lịch sử nghề, sản phẩm, kỹ thuật và mô típ trang trí, trong đó, gà là đề tài phổ biến với nhiều thủ pháp thể hiện. Câu chuyện văn hóa (2009) của cùng tác giả cũng góp phần lý giải mối liên hệ giữa tín ngưỡng, văn hóa dân gian và nghệ thuật, cho thấy hình tượng động vật trên gốm là kết tinh của đời sống vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu chuyên khảo toàn diện về hình tượng gà trong gốm Lái Thiêu dưới góc nhìn tạo hình và giá trị nghệ thuật - khoảng trống mà đề tài hướng đến bổ sung.

2. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả vận dụng cách tiếp cận liên ngành như mỹ thuật học, văn hóa học và biểu tượng học, đồng thời, vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp khoa học nhằm tiếp cận vấn đề một cách toàn diện. Trước hết, phương pháp lịch sử - mỹ thuật được sử dụng để đặt hình tượng gà trên gốm Lái Thiêu trong bối cảnh hình thành và phát triển của nghề gốm Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, qua đó lý giải sự xuất hiện, biến đổi và phổ biến của đề tài này trong mối quan hệ với đời sống xã hội và văn hóa dân gian. Bên cạnh đó, phương pháp phân tích hình thức tập trung vào việc khảo sát trực tiếp ngôn ngữ tạo hình như đường nét, bố cục, màu sắc, chất liệu và kỹ thuật trang trí, nhằm làm rõ đặc điểm thẩm mỹ cũng như phong cách sáng tạo của nghệ nhân. Ngoài ra, việc khảo sát thực địa tại các làng nghề và sưu tập tư nhân giúp thu thập minh chứng trực quan, để lý giải mối quan hệ giữa hình tượng gà và đời sống tinh thần của cư dân Nam Bộ.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Kết quả

Hình tượng gà trong mỹ thuật truyền thống và gốm Lái Thiêu

Hình tượng gà trong mỹ thuật truyền thống và gốm Lái Thiêu không chỉ là mô típ trang trí mà còn là biểu tượng văn hóa của dương khí, mùa vụ, sự khởi đầu và hưng thịnh. Nguyễn Hữu Thông (2023, tr.145) khẳng định: “Gà là con vật đứng thứ 10 trong 12 con giáp. Con gà trống (công kê) là biểu tượng chính của quẻ dương. Nó tượng trưng sự vận hành của vũ trụ và cuộc sống đầm ấm của con người, giúp con người có thêm năng lực thay đổi vận mạng của chính mình”. Từ khung biểu tượng này, có thể thấy, gà xuất hiện dày đặc trong nghệ thuật truyền thống, từ tranh dân gian đến phù điêu gỗ, gốm men và kiến trúc cung đình - dân gian. Ở Huế, “kiểu thức con gà trống đang dương oai, hoặc đôi trống mái với đàn con bên cạnh khóm hoa thường xuất hiện trong các loại tranh gương, phù điêu gỗ hay gốm tráng men... biểu tượng của niềm vui, hạnh phúc, sự quây quần, đầm ấm của đời sống thôn dã”.

Phạm Quốc Quân và Nguyễn Đình Chiến (2005, tr.33) ghi nhận mô típ “gà: thể hiện trên thạp gốm hoa nâu thế kỷ XI-XIII”, với bố cục dải băng quanh thân thạp. Tư liệu này chứng minh tính liên tục của biểu tượng “gà” trong gốm Việt: từ gốm hoa nâu trung đại đến các dòng gốm dân gian về sau (như Lái Thiêu), mô típ gà luôn được kế thừa và tái tạo, vừa phản ánh kỹ thuật men - vẽ của từng thời kỳ, vừa bảo lưu lớp nghĩa văn hóa về no đủ, hạnh phúc.

Trong không gian mỹ thuật dân gian Bắc Bộ, Đông Hồ đã định nghĩa sự cát tường của gà bằng lối chơi chữ - chơi hình đầy duyên dáng. Huỳnh Ngọc Trảng (2019, tr.48) ghi nhận: “Tranh gà Đại cát của dòng tranh Đông Hồ là một ví dụ tiêu biểu: gà cồ: đại; gà: cát. Để nhấn mạnh cho sự cát tường, gà thường được đi kèm với Cúc - gọi chung là đề tài cặp đôi Kê - Cúc”. Bố cục Kê - Cúc thể hiện ý nghĩa: âm - dương - ngũ hành, nên việc cúng gà trong nghi lễ không chỉ là thức lễ mà còn là một biểu đạt văn hóa. Cũng trong một công trình khác, tác giả Huỳnh Ngọc Trảng (2019, tr.49) viết “Có người cho rằng cúng gà là biểu thị việc cầu mong điều cát tường/ kiết tường… lại có người cho rằng đây là phương cách dùng gà để liên lạc với tổ tiên quá vãng” và vì gắn với những ngữ cảnh sinh hoạt khác nhau, nghĩa biểu tượng của gà biến thiên theo thời gian, ông nói: “Ý nghĩa biểu tượng của gà trong văn hóa Việt Nam cũng chuyển đổi không ngừng theo dòng chảy của lịch sử văn hóa” Huỳnh Ngọc Trảng (2019, tr.50).

Trên những nền ý nghĩa đó, gốm Lái Thiêu - một trong các dòng gốm tiêu biểu của Nam Bộ - đã tiếp nhận và sáng tạo hình tượng gà theo “ngôn ngữ Lái Thiêu”: tươi tắn, khoáng hoạt, giàu nhịp điệu đường nét và cảm quan màu men. “Theo kết quả điều tra hồi cố cũng như căn cứ trên hiện vật đã sưu tập được thì đề tài gà và cây chuối xuất hiện từ năm 1930 trên đồ gốm Lái Thiêu… Suốt từ 1930 đến nay, tô, chén, dĩa, con gà luôn được sản xuất” (Huỳnh Ngọc Trảng, 2009, tr.159). Mốc 1930 đánh dấu bước ngoặt phong cách, khi đề tài Kê - Chuối trở thành bản sắc thị giác của Lái Thiêu. Về tạo hình, gà thường được đặt trung tâm hoặc lệch trọng tâm, với khoảng nền men làm “hơi thở” cho hình. Đuôi gà vút cong lồng lớp tạo nhịp động, mào - yếm nhấn gam nóng (đỏ, nâu, vàng ấm) như ký hiệu dương khí, đối lập với mảng lá chuối xanh lục/ lam lục. Màu men thiên về xanh, vàng đất, nâu, đỏ sắt trên nền trắng ngà, không nhằm tả thực mà để tạo nhịp thị giác nóng - lạnh, tĩnh - động.

Trong bố cục, gốm Lái Thiêu thường theo hai tuyến: đơn hình (gà trống bên cụm chuối/ cỏ và song/ đối ngẫu (trống, mái, đàn con trong cảnh quần tụ. Trên tô, chén, dĩa, gà đặt trong huy hiệu tròn hoặc dải hồi văn, giúp hình “đọc” được từ nhiều góc. Viền cúc dây, lá lượn, sóng neo mắt nhìn. Nét vẽ tay trực tiếp, khoáng hoạt, phóng bút ở lông đuôi, viền lá, tạo sắc thái sinh động, gần gũi - biểu đạt tinh thần hạnh phúc, quây quần, đầm ấm.

Hình tượng gà trên gốm Lái Thiêu mang giá trị kép: biểu tượng cát tường, sinh sôi, no đủ, gắn với trật tự gia đình và tiết nhịp thời gian; đồng thời là giá trị tạo hình, nơi nghệ nhân phô diễn tỷ lệ, đường cong, màu sắc, cân bằng giữa tả thực và cách điệu. Đặc trưng Lái Thiêu nằm ở sự tiết chế chi tiết, cô đọng dấu hiệu (mào, đuôi, thế đứng) để hình gà “đọc nhanh” mà vẫn đọng thần, phù hợp công năng sử dụng. Từ 1930 đến nay, đề tài này luôn biến đổi theo thị hiếu: màu men từ cổ điển sang đa sắc, bố cục từ đơn hình sang cảnh sinh hoạt, cho thấy sự linh động nhưng vẫn giữ lõi biểu tượng kê - chuối và tinh thần cát tường, dương khí.

Ngôn ngữ tạo hình và biểu tượng của hình tượng gà trên gốm Lái Thiêu

Hình tượng gà trên gốm Lái Thiêu hiện lên như một “bảng chữ cái” tạo hình đầy linh hoạt, nơi mỗi bát, dĩa, hũ, tượng là một biến tấu khác nhau của cùng một mô típ dân gian. Ở nhóm đồ vẽ tay (đĩa, tô, hũ, cốc), nền men ngà tạo phông ấm, viền miệng kẻ xanh coban hoặc “răng cỏ”, mặt đất phủ lục nhạt loang làm nền cho chân gà. Bố cục ưa chuộng đặt gà lệch trục theo quy tắc “một phần ba”, đối trọng bằng bụi hoa (mẫu đơn, cúc, hoa dại) hay cụm lá vươn chéo, nhờ vậy, tổng thể vừa cân bằng vừa có nhịp chuyển động. Nét bút là bí quyết: nét viền dứt khoát khoanh hình, đi với mảng màu tô loang ở ngực, mào, đuôi để tạo độ “thở”. Lông đuôi thường được ký hiệu hóa thành các lưỡi mác đan chéo, vút theo một đường cong chữ S - chính đường cong này cho cảm giác “dương khí” bốc lên, nhất là ở dáng gà ngẩng cổ gáy. Bảng màu giữ tinh thần Lái Thiêu: đỏ, vàng, cam (ấm) tương phản xanh lá, xanh lơ (lạnh), tạo nhịp nóng - lạnh rõ ràng nhưng dịu mắt vì đã “lọc” qua men trong. Mô típ kết hợp được vận dụng có chủ ý: gà - cúc nhấn nghĩa trường tồn, gà - cải gợi sinh sôi và đặc biệt gà - chuối cảnh (Kê - Mỹ nhân tiêu) thường thấy ở bố cục hai trục đối xứng mềm - một bên gà, một bên lá chuối - vừa làm nền khối, vừa kể chuyện “anh hùng - mỹ nhân” bằng ngôn ngữ cỏ cây. Một số đĩa còn đưa gà lên xe kéo hay đặt giữa hồi văn hoa đỏ, cho thấy xu hướng “kể cảnh” nhỏ, tăng chất đời thường và vui mắt. Ở nhóm tượng (gà trắng - lục men nổi, bộ gà trắng nhỏ, gà men đen bóng), ngôn ngữ chuyển sang khối tròn căng, lược chi tiết để nhấn dáng tổng: mào, mỏ, đuôi phóng đại thành ba “điểm nhấn khối”, bề mặt men dày cho ánh phản quang mạnh, khác với sự “mịn ngà” của đồ vẽ tay; đặc biệt tượng gà men lục - trắng có đắp nổi và chạm lộng nhẹ trên cánh, gợi liên hệ với truyền thống Biên Hòa nhưng vẫn giữ tinh thần vui tươi của Lái Thiêu. Từ lớp hình đến lớp nghĩa, gà được triển khai như biểu tượng đa tầng: dáng gáy sáng và thế đuôi vút là ẩn dụ của dương khí - khởi đầu, bụi cúc/ mẫu đơn - chuối/ cải là ẩn dụ của phúc lộc - phồn thực - no đủ, còn cảnh trống - mái - đàn con hay ba con gà quây quần gợi hạnh phúc, sum vầy. Tổng hợp lại, ngôn ngữ tạo hình gà trên gốm Lái Thiêu không đứng ở “mô tả” mà tiến tới ký hiệu hóa: nét khoanh - mảng loang - cặp màu nóng lạnh được quy ước để người xem “đọc” ngay cái thần cát tường, khỏe khoắn. Chính sự ký hiệu hóa linh hoạt ấy giúp mô típ gà thoát khỏi khuôn mẫu cổ điển, vừa trung thành với thẩm mỹ dân gian, vừa thích ứng công năng đồ dùng - một lý do quan trọng khiến hình gà Lái Thiêu bền bỉ trong ký ức thị giác từ chợ quê đến sưu tập đương đại.

Giá trị nghệ thuật và ý nghĩa của hình tượng gà trong gốm Lái Thiêu

Giá trị nghệ thuật của hình tượng gà trong gốm Lái Thiêu không chỉ ở vẻ đẹp thị giác mà còn phản ánh quan niệm văn hóa, xã hội Nam Bộ, đồng thời khẳng định khả năng sáng tạo và ngôn ngữ tạo hình linh hoạt của nghệ nhân. Khác với nhiều đồ án trang trí cổ điển, gà là “đề tài có nhiều sáng tạo và không bị câu thúc vào khuôn mẫu cổ điển như nhiều đồ án trang trí khác” (Bùi Chí Hoàng - Nguyễn Văn Thủy, 2014, tr.107). Chính vì thế, gà được thể hiện với nhiều biến thể: khi là gà trống đơn lẻ, khi là đôi gà trống mái, thậm chí có cả cảnh ba con gà trước bờ dậu với hậu cảnh hoa chuối. Các hình thức ấy tạo nên bố cục sinh động, vừa gần gũi, vừa phóng khoáng, phản ánh thị hiếu thẩm mỹ dân gian.

Về giá trị văn hóa - xã hội, gà gắn chặt với dòng sản phẩm nổi tiếng “Bát con gà Lái Thiêu”, từng lan tỏa từ Nam chí Bắc và in sâu trong ký ức cộng đồng. Theo Trần Khánh Chương (2001, tr.28), “giữa thế kỷ XX, vùng gốm Lái Thiêu bên cạnh gốm hoa lam có một loại gốm nổi tiếng từ Nam chí Bắc thường được nhắc tới với tên gọi là Bát con gà Lái Thiêu”. Tác giả cũng khẳng định “gốm con gà Lái Thiêu là loại gốm được phổ biến rộng rãi trong nước”. Điều đó cho thấy, gốm Lái Thiêu đã bước ra khỏi khuôn khổ địa phương để trở thành một phần ký ức văn hóa chung của người Việt. Trong trang trí, các đề tài gà - hoa cúc, gà - cây cải đều xuất hiện, nhưng phổ biến nhất vẫn là “gà - chuối cảnh (Kê - Mỹ nhân tiêu), biểu thị cho cặp đôi anh hùng và mỹ nhân”. Đây là sự kết hợp độc đáo giữa hiện thực đời sống và biểu tượng văn hóa, phản ánh khát vọng về hạnh phúc, ấm no, cát tường.

Về giá trị nghiên cứu và bảo tồn, hình tượng gà trên gốm Lái Thiêu cung cấp những minh chứng quan trọng cho việc nghiên cứu lý luận - lịch sử mỹ thuật. Nhóm tác giả Bùi Chí Hoàng - Nguyễn Văn Thủy (2014, tr.106), viết: “Con gà trong mỹ thuật truyền thống biểu thị cho điềm lành (cát/ kiết)…”, gắn với sự sinh sôi nảy nở. Quan niệm này xuất phát từ nền văn minh nông nghiệp, nơi sự ấm no của người sản xuất tiểu nông “rất cần đến yếu tố phong điều - vũ thuận” (Nguyễn Hữu Thông, 2023, tr.63) trong gốm Lái Thiêu, vì vậy, hình tượng gà không chỉ là yếu tố thẩm mỹ, mà còn là sự gửi gắm những khát vọng an lành, ấm no. Một nhận định khác của ông: “Nhiều dạng hoa văn, hồi văn, tưởng như thuần trang trí hoặc bổ sung cho các chủ đề khác, nhằm tạo nên sự chặt chẽ cho bố cục, nhưng thật ra, chúng làm nhiệm vụ chuyển tải những khát vọng bộc phát của con người, khiến chúng phải có, cần có và luôn luôn hiện diện khắp mọi nơi” (Nguyễn Hữu Thông, 2023, tr.68). Như vậy, nghiên cứu hình tượng gà trong gốm Lái Thiêu không chỉ góp phần khẳng định giá trị thẩm mỹ - văn hóa đặc thù của Nam Bộ, mà còn đặt cơ sở cho công tác bảo tồn và khai thác di sản trong mỹ thuật đương đại, mở ra hướng ứng dụng mới trong thiết kế, trang trí và phát triển văn hóa bản địa.

3.2. Thảo luận

Từ kết quả nghiên cứu, có thể thấy hình tượng gà trong gốm Lái Thiêu vừa mang tính truyền thống, vừa thể hiện sự sáng tạo độc đáo, phản ánh rõ bản sắc mỹ thuật Nam Bộ. Về nguồn gốc biểu tượng, gà trống vốn là hình ảnh quen thuộc trong mỹ thuật Việt Nam, biểu trưng cho dương khí, sự sinh sôi và điềm lành. Các mô típ như kê - cúc hay kê - mỹ nhân tiêu cho thấy sự kế thừa từ quan niệm thẩm mỹ và triết lý nhân sinh của cư dân nông nghiệp lúa nước.

Trong ngôn ngữ tạo hình, gốm Lái Thiêu khác biệt với nhiều dòng gốm khác nhờ phong cách phóng khoáng, sinh động và gần gũi. Hình ảnh gà trống, gà mái hay đàn gà thường được đặt trong bối cảnh nông thôn giản dị, không ràng buộc trong bố cục chuẩn mực, tạo nên bản sắc riêng. Đặc điểm này giúp gốm Lái Thiêu trở thành “bản ghi” sinh động về văn hóa đời sống Nam Bộ.

Giá trị nghệ thuật của hình tượng gà còn thể hiện ở tính đa dạng và ứng dụng cao. Nghệ nhân Lái Thiêu không sao chép khuôn mẫu mà linh hoạt sáng tạo, đưa hình gà lên nhiều loại sản phẩm từ bát, đĩa, bình. Tiêu biểu nhất là dòng “Bát con gà Lái Thiêu” nổi tiếng giữa thế kỷ XX.

Ở góc nhìn biểu tượng học, gà trên gốm Lái Thiêu phản ánh khát vọng phồn thực, mong cầu mùa màng bội thu, gia đình sung túc. Hình tượng gà vừa là di sản nghệ thuật, vừa là biểu tượng văn hóa giàu ý nghĩa, góp phần khẳng định bản sắc Nam Bộ và gợi mở hướng bảo tồn, phát huy giá trị trong bối cảnh đương đại.

4. Kết luận

Hình tượng gà không chỉ là một đề tài trang trí mang tính phổ biến mà còn là một biểu trưng văn hóa giàu ý nghĩa trong mỹ thuật truyền thống Việt Nam. Với tư cách là loài vật gắn bó mật thiết với đời sống cư dân nông nghiệp, gà được xem như biểu tượng của dương khí, cát tường, phồn thực và hạnh phúc. Khi đi vào ngôn ngữ tạo hình của gốm Lái Thiêu, hình tượng gà đã được nghệ nhân khai thác đa dạng, từ bố cục đơn gà trống oai vệ đến cặp gà trống - mái, hay cả đàn gà trong khung cảnh nông thôn, kết hợp với các mô típ quen thuộc như hoa cúc, cây cải, chuối cảnh. Những biểu đạt này không chỉ phản ánh óc sáng tạo của nghệ nhân mà còn tái hiện sinh động đời sống tinh thần và nhân sinh quan của người Việt.

Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng, hình tượng gà đã góp phần quan trọng vào việc tạo dựng thương hiệu gốm Lái Thiêu, đặc biệt, nổi bật qua dòng sản phẩm “Bát con gà Lái Thiêu” lan tỏa rộng khắp cả nước vào giữa thế kỷ XX. Sự phổ biến của dòng gốm này không chỉ bắt nguồn từ giá trị thẩm mỹ và công năng, mà còn bởi nó đã chạm tới tầng sâu văn hóa - tâm linh, nơi con gà trở thành biểu tượng của sự an lành và no đủ. Từ đó, có thể thấy gốm Lái Thiêu không chỉ đơn thuần là sản phẩm thủ công, mà còn là kênh phản ánh, lưu giữ và chuyển tải bản sắc văn hóa Nam Bộ trong tiến trình mỹ thuật Việt Nam.

Tựu trung, hình tượng gà trong trang trí gốm Lái Thiêu là sự hòa quyện giữa truyền thống và sáng tạo, giữa giá trị thẩm mỹ và giá trị văn hóa - xã hội. Nó khẳng định tài năng và tâm hồn của nghệ nhân gốm Nam Bộ, đồng thời, góp phần định vị gốm Lái Thiêu như một dòng gốm tiêu biểu trong bản đồ gốm Việt Nam. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp thêm tư liệu khoa học cho lĩnh vực lý luận và lịch sử mỹ thuật, mà còn gợi mở hướng ứng dụng trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản gốm truyền thống trong bối cảnh hiện đại.

_______________________

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Chí Hoàng - Nguyễn Văn Thủy. (2014). Gốm sứ Bình Dương Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

2. Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên). (2009). Gốm Lái Thiêu. Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Huỳnh Ngọc Trảng. (2019). Câu chuyện văn hóa. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Nguyễn Hữu Thông. (2023). Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng trang trí. Nhà xuất bản Thế giới.

5. Phạm Quốc Quân. (2005). Gốm hoa nâu Việt Nam. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.

6. Trần Khánh Chương. (2001). Gốm Việt Nam. Nhà xuất bản Mỹ thuật.

7. Trần Khánh Chương. (2013). Gốm Việt Nam kỹ thuật và nghệ thuật. Nhà xuất bản Mỹ thuật.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 25/2/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 3/3/2026; Ngày duyệt bài: 16/3/2026.

Ths PHẠM TẤN PHƯỚC

Nguồn: Tạp chí VHNT số 639, tháng 4-2026