
Tượng nhà mồ trong đời sống tâm linh
Nhà mồ là môi trường lớn nhất cho tượng gỗ xuất hiện, tồn tại và phát triển. Đề cập đến sự phân loại các nhóm tượng, TS Nguyễn Thị Kim Vân (nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh Gia Lai) thông tin: Có 3 nhóm tượng mồ tương ứng với 3 nhóm chức năng: Nhóm thứ nhất là nhóm tượng mang ý nghĩa phồn thực thường được thấy nhiều trong các khu nhà mồ, thể hiện sự tái sinh con người. Nhóm thứ hai là loại tượng liên quan đến sự phân chia giai cấp trong xã hội, nêu bậc vai trò, vị trí các tù trưởng trong làng, thể hiện sự giàu sang của con người trong một giai đoạn nào đó. Nhóm cuối thường mô phỏng đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán dân làng trong đời thực, đây là nhóm có sự biến đổi nhiều nhất trong giai đoạn hiện nay.

Nếu có dịp đến thăm các khu nhà mồ đặc trưng ở các ngôi làng vùng cao Gia Lai sẽ thấy được sự sắp đặt có chủ đích về vị trí các loại tượng trong tổng thể khu nhà mồ. Hình tượng người ôm mặt ngồi khóc, tượng người chống cằm thường được đặt ở 4 góc nhà mồ như luật bất thành văn. Tượng mang ý nghĩa phồn thực được đặt ở ngay cửa ra vào nhà mồ. Tượng đàn bà chửa thường đặt ở bên phải phía đầu nhà mồ. Các loại tượng mô phỏng chim thú, đồ vật, sinh hoạt... được đặt xung quanh bên ngoài chứ không đặt phía bên trong nhà mồ.

Khu nhà mồ là nơi thể hiện, tập trung các tài năng điêu khắc tượng gỗ. Không cầu kỳ, chi tiết, không tính toán tỷ lệ, mỗi bức tượng được tạo ra từ đôi bàn tay tài hoa của những nghệ nhân làng. Quan sát kỹ, có thể cảm nhận được sự sâu thẳm của chia ly, nuối tiếc, sự đăm chiêu, trầm mặc với thời gian, thể hiện sắc thái, tính thẩm mỹ nghệ thuật cao trong từng tác phẩm điêu khắc tượng gỗ.
Mỗi vùng đều có đặc trưng riêng trong điêu khắc tượng tạo nên sự khác biệt. Đối với cách tạc tượng của người Bahnar có kích thước không lớn, thường được gắn trên một đế gỗ cao. Nhà mồ của người Bahnar thiên về điêu khắc, tô màu, trang trí trên cột mốc nhà mồ. Khu vực nhà mồ đẹp nhất thường nằm ở vùng Đông Trường Sơn.
Nét tạc của người Jrai mạnh mẽ hơn, không đi vào chi tiết, không sâu về tả thực con người. Trước kia, tượng thường được tạc với kích thước lớn, có những tượng cao tương đương với người thật. Hiện nay, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố nên kích thước tượng dần thu nhỏ lại.

Giữa mùa khô cao nguyên, tôi có dịp đến thăm khu nhà mồ làng Kép (xã Ia Ly) là nơi còn gìn giữ khá nguyên vẹn giá trị tâm linh truyền thống khu nhà mồ đặc trưng của dân tộc Jrai cho đến thời điểm hiện nay. Đi giữa buổi chiều u tịch, dưới gốc cổ thụ rêu phong, có thể gặp những tượng gỗ đứng lặng yên như lạc vào ma trận của rừng tượng gỗ. Theo phong tục, tượng gỗ chỉ được đặt trong khu nhà mồ khi làng diễn ra lễ bỏ mả (Pơ thi) thể hiện qua cuộc chia tay cuối cùng giữa người sống và người chết, đưa tiễn những linh hồn về thế giới bên kia. Sau lễ bỏ mả, tượng nhà mồ cũng nằm lại canh giữ linh hồn người đã khuất.
Trong điều kiện hiện nay, do sự chuyển biến về kinh tế xã hội, thời gian tổ chức lễ hội dần ngắn lại. Cùng với sự du nhập của nhiều loại tôn giáo tín ngưỡng vào các vùng đồng bào dân tộc bản địa khiến cho tượng mồ nói riêng, khu nhà mồ nói chung dần bị thu hẹp lại, không hoành tráng và đẹp như trước kia và có sự chuyển biến hiện đại hơn so với ngày trước.

Về nhóm tượng nhà mồ cũng dần có sự chuyển đổi, xuất hiện hình dáng tượng mô phỏng hình tượng công an, bộ đội cầm vũ khí, cầm ná, tượng cầu thủ bóng đá... thường được đặt ở các nhà mồ của những người lúc còn sống có chức sắc, có công với đất nước và được cộng đồng tôn trọng. Và cho dù tượng mồ có sự biến đổi như thế nào thì nó vẫn phải giữ được hồn cốt đặc trưng của người Tây Nguyên.
Xét về giá trị đặc biệt của tượng mồ, TS Nguyễn Thị Kim Vân thông tin: “Theo nghiên cứu của PGS.PTS Ngô Văn Doanh viết trong cuốn Nhà mồ và tượng mồ Giarai, Bahnar in năm 1993 và nhiều nhà nghiên cứu cũng đồng quan điểm với quan điểm này thì Nhà mồ và tượng mồ của người Giarai, Bahnar là tác phẩm nghệ thuật đặc biệt rất hiếm có ở khu vực Đông Nam Á. Nếu làm những mô hình tượng mồ thu nhỏ, nó sẽ trở thành nguồn thu đáng kể cho kinh tế đồng bào dân tộc Tây Nguyên khi du lịch phát triển hơn”.
Sự biến đổi của tượng gỗ dân gian
Ngày nay, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố hiện đại, vượt ra phạm vi làng, tượng gỗ ngày càng được sưu tập, trưng bày, trang trí trong các không gian mở để người dân và du khách dễ dàng tiếp cận với loại hình văn hóa mang giá trị truyền thống này. Từ những nét đẽo tạc thô sơ đã tạo nên những tuyệt phẩm khiến người xem không khỏi rung cảm trước sự tài hoa, khéo léo của người nghệ sĩ buôn làng.
Mỗi hình tượng gỗ được khắc họa nên đều mang ý nghĩa riêng. Dưới bàn tay khéo léo và sức sáng tạo phong phú, các nghệ nhân đã biến những khúc gỗ thành một tác phẩm nghệ thuật độc đáo với nhiều cung bậc, sắc thái từ sự sâu thẳm của chia ly, nuối tiếc, sự đăm chiêu, trầm mặc với thời gian, đến hỉ nộ ái ố trong cuộc sống.
Đối với những tác phẩm tượng gỗ được đặt trong các không gian văn hóa cộng đồng thường mô tả cảnh trình diễn cồng chiêng, đánh trống, xoang trong lễ hội; tượng đàn ông đàn bà lên rẫy trồng trọt, săn thú; tượng khi nghỉ ngơi vui chơi uống rượu cần, mô tả người phụ nữ thực hiện những công việc hàng ngày như giã gạo, gùi nước, nấu ăn, tình mẹ con, bà cháu yêu thương. Bên cạnh, là tượng chim thú, đồ vật sinh hoạt, nông cụ, nhạc cụ những vật dụng gắn liền với đời sống sinh hoạt hằng ngày của đồng bào nơi đây... được khắc họa chân thực và sinh động.
Hiện nay, tại các không gian mở ở các nhà hàng, quán cà phê trưng bày tượng gỗ đã tạo nên điểm nhấn không gian kiến trúc đưa du khách đến gần hơn với giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của người dân bản địa như: Quán gà nướng-cơm lam Ksor Hnao, Tơ Nưng, Ia Gui, Ksor Bla, Plây cồng chiêng, nhà hàng Đăm San, quán Cơm đồng bào, Lem Coffee&Tea... là hướng đi thiết thực góp phần phát triển du lịch, ẩm thực theo hướng bảo tồn và phát triển văn hoá.
Một số mô hình trưng bày tượng gỗ tại Làng văn hóa- du lịch Plei Ơp (phường Pleiku), làng Ia Nueng (xã Biển Hồ), làng Mơ Hra-Đáp (xã Tơ Tung)... với nhiều hình tượng đặc sắc của tộc người Bahnar, Jrai đã mô phỏng trọn vẹn giá trị đời sống cộng đồng dân cư trên cao nguyên Gia Lai. Bên cạnh quảng bá di sản, nâng tầm giá trị văn hóa, tượng gỗ đã phát triển thành sản phẩm du lịch độc đáo phục vụ cho loại hình du lịch cộng đồng vốn mang nhiều ưu thế của địa phương. Dù được đặt ở không gian kiến trúc nào, tượng gỗ dân gian cũng đều phản ánh rõ nét đời sống văn hóa tâm linh của cộng đồng dân cư tại chỗ.
Toàn bộ kiến thức của các nghệ nhân tạc tượng được truyền từ đời trước sang đời sau, qua hình thức truyền khẩu và lưu giữ trong đầu. Nghệ nhân không theo khuôn mẫu hay đường nét chung có sẵn mà tự nghĩ ra ý tưởng, sáng tạo theo ngẫu hứng, niềm đam mê. Tượng chỉ được chế tác bằng công cụ thô sơ nhưng càng chiêm nghiệm mới cảm nhận được bản sắc trong đời sống tinh thần của người con Tây Nguyên ngời nắng, đầy gió.
Tuy nhiên, nghệ thuật tạc tượng dân gian đang đứng trước nguy cơ mai một. Trong khi lớp nghệ nhân lớn tuổi nắm giữ các bí quyết ngày càng ít đi thì thế hệ trẻ lại chưa sẵn sàng tiếp nhận, đã dần ít đi tác phẩm nghệ thuật tượng gỗ dân gian đẹp như xưa. Vậy nên, để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, cần khai thác các giá trị của nó để phát triển du lịch.
Có thể khuyến khích nghệ nhân dân gian tạc những tượng gỗ có kích thước vừa và nhỏ để du khách có thể mua về làm quà tặng lưu niệm, trưng bày, trang trí trong không gian kinh doanh, gia đình... Hiệu quả hơn, là phối hợp cùng các công ty lữ hành kết nối đưa du khách đến tại các gian hàng trưng bày tượng gỗ hay đến trải nghiệm tại nhà những nghệ nhân khắc họa nên hình tượng nghệ thuật độc đáo này. Hướng đi thiết thực ấy, giúp bà con có thêm việc làm, gìn giữ nghề truyền thống, góp phần nâng tầm giá trị di sản văn hóa thành sản phẩm du lịch hấp dẫn.
Bài và ảnh: VÕ THANH THẢO
Nguồn: Tạp chí VHNT số 628, tháng 12-2025