Hội đồng làng thực hiện nghi thức lễ truyền thống -  Ảnh: Hồ Ngọc Tuấn
Hội đồng làng thực hiện nghi thức lễ truyền thống - Ảnh: Hồ Ngọc Tuấn

Lược sử hình thành

Làng An Bằng là ngôi làng biển có bề dày lịch sử, gắn liền với quá trình định cư, khai hoang, tạo dựng vùng đất Đàng Trong của chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Theo tài liệu, văn bản Hán Nôm lưu trữ tại đình làng, thủy tổ khai canh của làng là ba Ngài thuộc các họ Nguyễn, Trần, Hoàng - những người đã có công dùng thuyền Trường Đà đưa chúa Nguyễn vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa.

Trong quá trình phát triển, làng nhiều lần thay đổi tên gọi và đơn vị hành chính: từ phường An Đôi, ấp An Đôi, ấp An Bằng đến phường An Bằng thuộc tổng Diêm Trường; năm 1839, thuộc tổng Kế Mỹ, huyện Phú Vang. Năm 1964, thành lập xã An Bằng; sau năm 1975, sáp nhập thành xã Vinh An và hiện nay thuộc xã Phú Vinh, thành phố Huế. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, cộng đồng cư dân nơi đây đã tạo dựng nên một đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, mang đậm bản sắc của cư dân vùng biển.

Người dân An Bằng chủ yếu sinh sống bằng nghề khai thác hải sản. Trước đây, địa phương nổi tiếng với nghề đánh bắt cá cảm - loại  sản vật từng dùng để tiến nạp chúa Nguyễn và được quy định thành một loại thuế phải nộp hằng năm cho chính quyền quân chủ. Từ cuối thập niên 1970, do điều kiện kinh tế khó khăn, nhiều người dân ra định cư ở nước ngoài, nguồn kiều hối gửi về góp phần cải thiện đời sống kinh tế của địa phương và nổi bật trong số đó là khu lăng mộ, thường được gọi "thành phố lăng mộ" với kiến trúc quy mô, độc đáo ở Huế.

Toàn cảnh Lễ hội đua thuyền An Bằng  - Ảnh: Cố Đô Media
Toàn cảnh Lễ hội đua thuyền An Bằng  - Ảnh: Cố Đô Media

Nguồn gốc lễ hội và ý nghĩa trong đời sống cộng đồng

Theo sử liệu và ký ức của người dân địa phương, lễ hội Cầu ngư kết hợp với đua ghe được tổ chức theo chu kỳ ba năm một lần, bắt đầu từ năm 1645 và đã tồn tại đến nay hơn 380 năm. Lễ hội phản ánh tín ngưỡng nghề biển, tri thức dân gian về môi trường sinh kế, đồng thời thể hiện kinh nghiệm ứng xử với biển và ý thức gìn giữ chủ quyền biển đảo của các thế hệ người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Lễ hội Cầu ngư, một lễ hội đặc trưng của cộng đồng cư dân dầm phá ven biển thành phố Huế gắn với tín ngưỡng thờ cá Ông, vị thần bảo trợ của ngư dân, gắn liền với cuộc sống mưu sinh theo sóng nước, tín ngưỡng thờ cá Voi là tín ngưỡng đặc thù trong đời sống tâm linh của dân đầm phá ven biển thành phố Huế. Biết ơn cá Voi, cư dân đầm phá đã lập lăng để thờ, cầu xin Ngài phù hộ được may mắn, bình an khi ra khơi vào lộng. Lễ hội Cầu ngư là một môi trường đại diễn xướng với nhiều trò chơi dân gian với các cuộc đua nghe, đua thuyền trên biển, những điệu hát Bả trạo ca ngợi công đức của các bậc tiền nhân, những trò diễn tái hiện cảnh bủa lưới đánh bắt cá tôm và buôn bán trên bến dưới bờ… Hòa vào không gian diễn xướng người tham gia với những niềm cộng cảm được thăng hoa, giúp cộng đồng tăng thêm tính cố kết và tự hào về văn hóa quê hương mình.

Đây là lễ hội lớn và quan trọng nhất của người dân làng An Bằng. Xuất phát từ truyền thống đánh bắt hải sản và vận tải biển, lễ hội được tổ chức với đầy đủ các nghi thức truyền thống của ngư dân. Điểm đặc biệt là lễ hội Cầu ngư gắn liền với lệ đua thuyền trên biển vào 2 ngày 11 và 12 tháng 5 (âm lịch) hằng năm, trên bãi biển ngay trước mặt lăng Ông Ngư, với các nghi lễ chính: Thỉnh Ngài (Nghinh Ông); Hò đưa linh (Hò Chèo cạn); hạ thủy; chánh tế và phần hội đua. Theo truyền thống tam niên đáo lệ (cứ theo chu kỳ 3 năm diễn ra 1 lần), trải qua bao biến thiên lịch sử, lễ hội chưa bao giờ bị ngắt quãng, là minh chứng cho sức sống của lễ hội Cầu ngư và đua ghe làng An Bằng.

Khoảng một tháng trước ngày hội, các đội ghe tập luyện nghiêm túc và tuân thủ nhiều quy định truyền thống như kiêng rượu, hạn chế ra biển; Ban Hương lễ cũng trai tịnh để chuẩn bị nghi thức, cùng với đó là cách thức bảo vệ, giữ kín bí quyết trong chiến thuật đua cũng như những điều chỉnh về mặt kỹ thuật tạo nên chiếc ghe đua. Hiện nay, làng có bốn vạn gồm Bắc Thượng, Trung Hải, Định Hải và An Mỹ, duy trì 6 ghe tham gia theo lệ truyền thống. Mỗi kỳ lễ hội là dịp để đông đảo người An Bằng đang sinh sống ở nước ngoài trở về quê hương, góp phần gìn giữ mối liên kết cộng đồng và bản sắc văn hóa địa phương, nguồn cội.

Phát huy giá trị và định hướng phát triển bền vững xã hội

Theo quan điểm của Đảng, Nhà nước, phát triển bền vững về văn hóa là quá trình bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Các giá trị di sản văn hóa phi vật thể như tín ngưỡng, lễ hội và tri thức dân gian là nguồn lực quan trọng cho phát triển bền vững.

An Bằng sở hữu nhiều di sản văn hóa phi vật thể đặc sắc như lễ hội Cầu ngư, Nghinh Ông, lễ Cầu an, hát Bả trạo, đua ghe cùng các nghề truyền thống như đan lưới, đóng thuyền, làm mắm và chế biến hải sản. Đây là những nguồn tài nguyên văn hóa cần được bảo tồn và khai thác hợp lý, lấy giá trị văn hóa cộng đồng làm nền tảng phát triển kinh tế - xã hội.

Những nguồn tài nguyên văn hóa này cần được lựa chọn, đầu tư và phát huy phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, lấy các giá trị văn hóa cốt lõi của cộng đồng làm động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Đặc biệt, cần nghiên cứu, khảo sát xây dựng lễ hội Cầu ngư trở thành sản phẩm văn hóa du lịch đặc trưng của địa phương hoặc liên vùng, góp phần thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Việc phát huy giá trị văn hóa không chỉ giúp định hình đời sống cộng đồng, củng cố cấu trúc xã hội, nuôi dưỡng niềm tự hào về di sản mà còn tạo nên các sản phẩm văn hóa giàu bản sắc, nâng cao trải nghiệm của du khách, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân, qua đó góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Điều khác biệt ở An Bằng so với các địa phương khác là việc tổ chức các nghi lễ, lễ hội hoàn toàn do Hội đồng làng - Ban Nghi lễ quản lý, tổ chức và thực hành. Chính quyền xã chỉ tham gia với vai trò quản lý nhà nước, ổn định trật tự, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm… Đây là yếu tố rất quan trọng nhằm duy trì và phát huy giá trị, thể hiện sức sống của lễ hội truyền thống khi cộng đồng vẫn giữ vai trò chủ thể, người dân được đặt ở vị trí trung tâm, được kể câu chuyện của chính cộng đồng mình thông qua các hoạt động lễ hội, khi đó di sản không chỉ được "giữ gìn" mà còn được "sống", "lan tỏa" và "tạo ra giá trị mới" trong đời sống đương đại.

Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập, An Bằng cũng giống như nhiều địa phương đang phải đối mặt với những thách thức. Sự biến động của cư dân, di dân ở hải ngoại cùng những tác động của kinh tế thị trường khiến những giá trị cốt lõi của lễ hội đang có nguy cơ bị mai một, thiên về phần hội, sự ăn thua trong các cuộc thi đấu đua ghe, đua thuyền ngày càng được đề cao. Dẫu vậy, những năm gần đây, các giá trị văn hóa truyền thống của làng An Bằng đang cho thấy sự phục hồi tích cực, thể hiện rõ nhất trong việc tổ chức, thực hành nghi lễ, lễ hội. Nhận thức của người dân được nâng cao, quan tâm nhiều hơn đến các yếu tố văn hóa truyền thống.

Phát huy vai trò của văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy nguồn lực nội sinh và lợi thế cạnh tranh từ văn hóa là định hướng quan trọng được đặt ra trong Nghị quyết số 80. Tư duy phát triển mới chuyển từ việc xem văn hóa chỉ là một lĩnh vực sang xác lập văn hóa là trụ cột của phát triển; từ không gian văn hóa truyền thống sang kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và sáng tạo nhằm hình thành các sản phẩm văn hóa, thị trường văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia. Đây là một công cụ pháp lý quan trọng để các địa phương tăng tốc, bứt phá, biến di sản thành tài sản, biến “ký ức của cộng đồng” thành sản phẩm văn hóa phục vụ đời sống kinh tế văn hóa của chính mình.

Theo tinh thần Nghị quyết số 80, văn hóa được xác định là trụ cột của phát triển, việc bảo tồn cần gắn với sáng tạo, chuyển đổi số và hình thành thị trường văn hóa. Đối với An Bằng, các tài nguyên văn hóa phi vật thể chính là nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển của địa phương. Định hướng phát triển cần bảo đảm sự hài hòa giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản, quyền và lợi ích của cộng đồng, phát triển không gian sáng tạo gắn với du lịch văn hóa, đồng thời từng bước hình thành các sản phẩm công nghiệp văn hóa có giá trị. Khi các chủ thể quản lý, cộng đồng và các thiết chế văn hóa được kết nối hiệu quả, di sản văn hóa phi vật thể không chỉ được bảo vệ, trao truyền bền vững mà còn trở thành động lực thúc đẩy kinh tế biển, nâng cao sức cạnh tranh văn hóa của địa phương và đóng góp thiết thực vào việc thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

HẰNG NGUYỄN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 655, tháng 9/2026