
Làng He nằm liền kề chân dãy Hy Cương, lễ hội làng He nổi lên như một hội làng danh tiếng của vùng đất bán sơn địa linh thiêng:
Sơn Tây vui nhất hội Thầy
Vui thì vui vậy chẳng tầy hội He!
Hội làng He là “bảo tàng” về các nghi lễ và tục hèm như: “lấy tiếng hú”, chạy “Tùng dí, săn lợn, chạy dịch…” cùng các trò diễn “bách nghệ khôi hài” và lễ hội “Rước Chúa Gái”. Trong Hội làng He, tục Rước Chúa Gái là một phong tục được duy trì coi như phần nội dung chính và chiếm một phần lớn không gian và thời gian diễn ra lễ hội. Tục Rước Chúa Gái là ảnh xạ của truyền thuyết Sơn Tinh - Thủy Tinh, Nhân dân đã nghệ thuật hóa và coi đó là nội dung chính trong lễ hội mùa Xuân của làng mình hàng năm.
Trình thức Rước Chúa Gái được tiến hành như sau: Ngay từ tháng Chín, hoặc chậm nhất là giữa tháng Mười lịch trăng, dân hai làng đã nhộn nhịp chuẩn bị họp bàn chọn người nuôi lợn, nuôi gà, đan voi, đan ngựa, sửa kiệu, sắm cờ và thành lập ban khánh tiết phục vụ cho ngày đón ngày khai hội. Đến ngày 22 hoặc 23 tháng Chạp, dân 2 làng làm lễ ở đình và tụ tập dân làng cùng nhau chọn chúa Gái, theo các tiêu chí người xưa truyền lại: con gái xinh đẹp, duyên dáng chưa chồng, tuổi từ 13 đến 18, gia đình phong quang (không có tang cả hai bên nội ngoại), có chức sắc và có điều kiện kinh tế, bố mẹ song toàn, có con trai, gia đình gia giáo. Từ 30 tháng Chạp đến mồng 7 tháng Giêng không được đi ra ngoài. Nhà Chúa Gái được trang trí đẹp, treo đèn kết hoa, mọi sinh hoạt đều được nữ tỳ hầu hạ. Mồng 8 tháng Giêng, hai làng võng chúa gái sang đình Hậu Lộc để thay quần áo rồi lên kiệu, đoàn rước kiệu có nghi trượng và nghi thức trọng thể được quy định: voi và ngựa của làng Trẹo đi trước kiệu, voi và ngựa của làng Vi đi sau kiệu. Tới đình Cả, kiệu lễ vật, kiệu lễ sắc văn, kiệu Chúa Gái và sau cùng là hai voi và 4 ngựa. Lễ tạ ơn Chúa Gái được tổ chức tại đình Cả. Kiệu Chúa Gái được rước qua làng Trẹo theo hướng sông Hồng về nơi núi Tản. Tới cây hương đầu làng, vì thương cha nhớ mẹ, Ngọc Hoa buồn rầu không đi nữa. Dân làng phải làm nhiều trò diễn để công chúa vui lên mà đi tiếp, trò diễn đó được nhân dân đặt tên là trò “Bách nghệ khôi hài”. Những người tham gia vào trò diễn mặc quần áo nhiều màu đi rước kiệu. Dẫn đầu đoàn trò là người vác cây mía to, trên ngọn buộc một bó lúa gọi là lúa thờ, tiếp sau là những người hóa trang theo các nghề nghiệp riêng của mình như: người đi câu cá, vai vác sào dài, đầu sào buộc một chiếc bánh chưng; người đi săn vác một cây giáo bằng cả một đoạn tre to vót nhọn; người làm ruộng mang theo những cày, bừa, cuốc, cào làm bằng gỗ hoặc tre to kích cỡ bình thường; có cả những người đeo mặt nạ đầu trâu, đầu bò đi theo… Hòa theo tiếng trống, tiếng chiêng, đoàn người diễn trò vừa đi vừa lắc lư, nghêu ngao múa hát, diễn trò vui, khiến cho Chúa Gái vui và nếu Chúa Gái cười nhiều thì năm đó dân làng gặp những điều tốt lành. Sau khi xem diễn trò xong, kiệu Chúa Gái tiếp tục đi tới cầu tây (cầu cáp). Chúa Gái được đưa xuống mảng theo dòng chảy xuôi theo sông Hồng, dân làng đứng hai bên bờ tiễn cho tới khi bóng hình Chúa Gái khuất hẳn sau lũy tre xanh. Đến đây, trò diễn Chúa Gái kết thúc và các đồ mã voi ngựa được đem đi hóa. Đồng thời, tại cánh đồng giữa hai làng, tổ chức lễ săn lợn, còn gọi là lễ “chạy địch”.
Theo quy định, vào sớm mồng 4 tháng Giêng, tổ chức “săn lợn - chạy địch”. Từ tối mồng 3, các tráng đinh trong làng “dưới 30 tuổi” đều ngủ ở nhà ông trưởng đăng cai việc làng năm đó. Đến mờ sáng mồng 4, mọi người cứ lẳng lặng chạy ra cánh đồng. Khi gặp nhau, từng đôi một xông vào vật nhau như để cho khỏe gân khỏe cốt, rồi bắt đầu thi chạy cướp cờ. Cờ hội của hai làng đã được cắm sẵn ở phía trước, ai về đích trước mà cướp được cờ sẽ được thưởng và hưởng nhiều may mắn, gặp phúc lớn trong năm đó1. Cướp cờ xong, tiến hành săn lợn. Hai con lợn to khỏe của hai làng được đưa vào bãi hội, mọi người lao vào dồn bắt trong tiếng chiêng trống rộn vang cho tới khi lợn mệt không chạy được và mọi người xông vào bắt rồi đem thịt. Theo quy định, tiết sống và một phần lòng sống cúng trước, sau đó lòng lợn luộc chín tới cùng với lợn sống (để cả con) có mỡ chài phủ làm lễ vật cúng tế. Phần tiết và một phần lòng sống đổ xuống cánh đồng trước cửa đình, thịt lợn đem ra làm cỗ khao cả làng. Bên các ban thờ, dân làng tiến hành lễ sóc trình voi ngựa. Ngoài sân đền và các khoảnh đất rộng của làng Trẹo, các hội đoàn và dân chúng các nơi kéo về tổ chức, tham gia các trò chơi đánh vật, kéo co, chọi gà… Sôi nổi nhất là trò bách nghệ khôi hài, diễn lại trò “tùng dí” vì trống “tùng” thì hai sinh thực khí dí vào nhau (vốn là trò chơi mang tính đùa vui trai gái, được sáng tạo ra từ xa xưa, tương truyền làm theo tích cũ thời Vua Hùng) cho Chúa Gái xem. Trong vùng đất này còn lắng lại các “lớp văn hóa” tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Hình tượng các Vua Hùng đã được người dân “bình dân hóa” trong đời sống hàng ngày của họ. Đây chính là nguồn mạch để tạo đà sáng tạo ra một không gian văn hóa làng bản độc đáo, bền vững, đủ sức trường tồn qua mọi biến cố lịch sử, mọi thăng trầm trước những hiểm họa và mưu toan đồng hóa, xâm lược của giặc thù. Không phải ngẫu nhiên, cố GS.Trần Quốc Vượng từng nghiên cứu và đi đến nhận xét: “Làng Cả Việt Trì đã là Thủ đô nước Văn Lang của nền văn minh thôn dã, văn hóa xóm làng”2.

Nghi lễ tùng dí được tiến hành như sau: mỗi thôn cử ra 3 người gánh 3 gánh lúa (một thôn 3 nam, 3 nữ). Đòn gánh là một chiếc gậy sơn son, mỗi bên buộc một bó lúa nhỏ chỉ độ một tay lúa (cả bông), trên bó lúa có buộc một nhúm xôi. Hai thôn có 6 gánh lúa, do 3 thanh niên và
3 thiếu nữ khỏe mạnh, mặc áo rước gánh lúa vào chạy
3 lượt vòng quanh sân đình rồi gánh vào đình múa thờ. Khi múa, cứ mỗi tiếng trống thì trai làng lại rướn người lên. Sau múa là chạy. Khi chạy, chiêng trống giục liên hồi nhộn nhịp. Sau khi chạy xong cả 6 người gánh lúa vào đình vái 3 vái, ông chủ tế cầm sẵn cây mía lao thẳng về phía sau, rồi nhân dân xô vào cướp những bông lúa để lấy may. Tục này có ý nghĩa muốn cho lúa tốt được mùa, nhà nhà no đủ, vật thịnh dân khang. Chập tối, dân làng cùng kéo nhau đến Nhà văn hóa tổ chức diễn xướng hát Xoan, hát Ghẹo đông vui, đầm ấm. Và chờ đến nửa đêm, hai làng lập chung một đoàn mang gà, chiêng trống cùng đồ tế lễ ra cây hương cạnh đình Cả để “lấy tiếng hú”, theo tín ngưỡng tìm chúa Gái, cầu may. Nghi lễ rước tiếng hú được diễn ra theo quy định nghiêm ngặt, cả hai thôn đều phải im lặng, không để cho chó cắn, mèo kêu. Khoảng 9 đến 10h đêm, cử ông trưởng phe cầm một con gà giò cùng một số thanh niên trong làng đi im lặng ở trong làng. Khi đến chỗ cây hương, tương truyền là nơi công chúa Ngọc Hoa ngồi ăn trầu trước khi về nhà chồng, ông trưởng phe bê gà vào vái cây hương ba vái xong cả đoàn cùng hú vang, chiêng trống ầm ĩ, gọi là “Lấy tiếng hú”, rồi kéo nhau mang gà về đình làm cỗ tế nửa đêm để đón giao thừa3. Có lẽ tiếng hú thuộc loại ngôn ngữ tín hiệu đầu tiên của loài người. Tiếng hú có thể chứa đựng nhiều lượng thông tin trong nhiều tình huống khác nhau, tiếng hú có thể đã ra đời từ nhu cầu bình thường trong quan hệ của thời săn bắt của người đi rừng, dần dần trở thành phong cách sinh hoạt của người địa phương vùng rừng núi. Tiếng hú đã từ đời sống vào phong tục, hội làng, từ đời sống trần tục vào lễ thiêng, rồi biến dạng, theo thời gian nó gắn với nghi lễ săn bắn và tín ngưỡng phồn thực4.
Như vậy, với những nét đặc trưng văn hóa cổ xưa của Hội làng He, những nét văn hóa tiêu biểu ấy sẽ góp phần cho chúng ta - thế hệ người đương đại tìm lại được bản sắc của dân tộc mình, cho dù lễ hội Đền Hùng có biến đổi về quy mô và nội dung ở một mức độ nào đó thì những nét bản sắc văn hóa cổ xưa của vùng Đất Tổ cần phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, khơi dậy như một biểu tượng hướng về cội nguồn của các giai đoạn nối tiếp sau, đặc biệt là giai đoạn hiện nay, khi lễ hội đang có nhiều biến đổi thích nghi với đời sống thực tại.
________________
1. Sở Văn hóa - Thông tin Phú Thọ - Hội Văn nghệ dân gian Phú Thọ, Lễ hội truyền thống vùng Đất Tổ, 2006, tr.82.
2. Sở Văn hóa - Thông tin Phú Thọ - Hội Văn nghệ dân gian Phú Thọ, Về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam, quyển 2, 2008, tr.27.
3. Sở Văn hóa, Thông tin và Thể thao Phú Thọ - Hội Văn nghệ dân gian Phú Thọ, Tổng tập Văn nghệ dân gian Đất Tổ, tập 4, 2003, tr.81.
4. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Thọ, Văn nghệ dân gian, 2010, tr.52-53.
TRẦN THỊ TUYẾT MAI
Nguồn: Tạp chí VHNT số 640, tháng 4-2026