Tram tich Nam luong 1_result.jpg
Nhà sàn truyền thống được bảo tồn từ bao đời nay ở vùng đất Nghĩa Đô

Từ mạch nguồn thành cổ

Men theo dòng Nặm Luông hiền hòa, thơ mộng qua những bản làng của Xuân Hòa, Vĩnh Yên, theo âm hưởng của làn điệu Then ngọt ngào đắm say lòng người, chúng tôi đặt chân đến miền đất Nghĩa Đô (Lào Cai). Vùng đất này xưa kia có tên Mường Luông, nơi anh em Chúa Bầu (Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật) từng đến đây  xây thành đắp luỹ, trong hành trình chinh phạt nhà Mạc, mở mang bờ cõi. Sau khi sáp nhập địa danh hành chính, Nghĩa Đô vẫn được đặt tên cho xã mới và hợp thành bởi các xã Vĩnh Yên, Nghĩa Đô, Tân Tiến. Bao bọc xung quanh thung lũng Nghĩa Đô là những đỉnh núi mang bao huyền thoại về quá trình chinh phục tự nhiên và dựng xây cuộc sống của cộng đồng dân tộc Tày. Ngọn núi Khau Choong, Khau Ái, Khau Rịa, Khau Cấn, soi bóng xuống dòng suối Nặm Luông, bốn mùa đưa dòng nước trong mát về với những bản làng Nghĩa Đô như Lằng Đáp, Nà Khương, Nà Mường, Bản Ràng, Thâm Mạ, Thâm Luông, Bản Rịa, Nặm Cằm, Bản Kem…Bên bờ suối và những cánh đồng chao nghiêng cánh én lượn, những căn nhà truyền thống vững chãi bao đời nay là không gian quần tụ, sinh sống và hình thành nên những giá trị văn hóa bản địa của cư dân bản Tày. Ít ai biết rằng, trong lòng không gian ấy, từ bao đời nay đã hình thành, lưu giữ, trao truyền một kho trầm tích văn hóa vô cùng độc đáo và phong phú, gắn với cuộc mưu sinh của đồng bào Tày ở xứ sở này. 

Tram tich Nam luong 3_result.jpg
Ẩm thực - nét văn hóa độc đáo của vùng đất Nghĩa Đô

Dừng chân ở bản Rịa, dưới chân núi Khau Rịa cao sừng sững, bạt ngàn lau nứa, bên căn nhà sàn mộc mạc, chúng tôi gặp nghệ nhân ưu tú Ma Thanh Sợi (dân tộc Tày, sinh năm 1944), nguyên Chủ tịch UBND xã Nghĩa Đô, người sinh ra và lớn lên trong lòng bản Tày. Trong trí nhớ thông tỏ, minh mẫn của tuổi ngoài 80, nghệ nhân Ma Thanh Sợi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về lịch sử  Nghĩa Đô tự ngàn xưa và hành trình ông đi tìm lại, ghi chép, tổng hợp những di sản văn hóa của vùng đất này. Ông kể rằng, vào khoảng thế kỷ 14 - 15, có một nhóm người dân tộc Tày từ vùng đất Hà Giang sang Mường Luông (tên gọi của Nghĩa Đô ngày nay) để lập nghiệp, sinh sống, lâu dần sinh con đẻ cái mà thành bản, thành làng. Bước sang thế kỷ thứ 16, anh em nhà tướng Vũ Công Mật, Vũ Công Uyên (Chúa Bầu) quê ở Hải Dương được vua Lê cử lên trấn ải, khai phá vùng này. Những người Kinh theo Chúa Bầu lên xây dựng, khi phủ chúa rút, một phần họ ở lại vùng này luôn, tạo thành dân gốc, bên cạnh người Tày, cùng mở mang, phát triển, lập thành nhiều khu dân cư mới, nhiều thôn bản mới. 

Dấu tích Chúa Bầu xây thành đắp lũy vẫn còn lưu dấu trên đỉnh núi Khau Cấn và vòng quanh thung lũng Nghĩa Đô. Ông Sợi kể rằng, khi anh em Chúa Bầu đặt chân đến Mường Luông, lên đỉnh Khau Cấn, phóng tầm nhìn xuống thung lũng Mường Luông thấy địa hình rất thuận lợi cho việc phòng thủ, ngăn chặn sự tấn công của kẻ thù nên anh em Chúa đã hạ trại, bắt tay vào xây dựng thành luỹ ngay từ mạch đỉnh Khau Cấn. Huyền tích còn kể rằng, việc xây thành phòng thủ ở Nghĩa Đô của anh em Chúa Bầu hợp với lòng dân và đạo trời nên đã được thần Nghị Lang (tại thành cổ Nghị Lang, Phố Ràng, xã Bảo Yên, Lào Cai ngày nay) cử chim thần đến mách bảo về kế sách lập nghiệp dài lâu trên dải đất này.

Tram tich Nam luong 2_result.jpg
Nghề dệt vải truyền thống của đồng bào Tày

Trầm ngâm trong giọng kể đượm màu thời gian, nghệ nhân Ma Thanh Sợi trở lại giới thiệu về kho trầm tích văn hóa của Nghĩa Đô, báu vật mà từ bao đời nay, cư dân bản Tày ở xứ sở này hình thành, sáng tạo, lưu giữ và trao truyền qua bao thế hệ, cũng là tài sản vô giá mà ông Ma Thanh Sợi ngày đêm đau đáu dấn thân sưu tầm, gìn giữ. Theo lời kể của ông, di sản văn hóa của vùng đất Nghĩa Đô rất độc đáo, đa dạng và có nguồn gốc bản địa. Bản sắc văn hóa ấy được hình thành từ xa xưa, gắn liền cuộc mưu sinh vô cùng gian khó của cư dân Tày. Đó là văn hóa gắn liền với phong tục, tập quán, tín ngưỡng như làm nhà sàn, cưới hỏi, sinh đẻ, ma chay, dệt thổ cẩm, đan lát, các bài thuốc dân gian, chợ phiên, trang phục, ẩm thực, hát Then, hát khắp, hát yếu, nghi lễ Then, các lễ Tết trong năm… Bên cạnh đó, vùng đất này còn lưu giữ kho tàng văn học dân gian như truyện cổ, tục ngữ, câu đố…cùng với các lễ hội và trò chơi dân gian như hội chơi Xuân, hội xuống đồng, lễ mừng cơm mới, lễ gánh nước thiêng, lễ hội đền Nghĩa Đô, ném pao, bắn nỏ, đánh yến, đi cà kheo… Những di sản mang đậm dấu ấn thời gian và lời ăn tiếng nói của đồng bào Tày Nghĩa Đô đã trở thành một phần máu thịt không thể thiếu và mất đi của vùng đất này. 

Tram tich Nam luong 8_result.jpg
Thiếu nữ Tày Nghĩa Đô giới thiệu các sản phẩm văn hóa truyền thống

Chính vì lẽ đó cộng với ý thức, trách nhiệm và sự tâm huyết của một người con sinh ra và lớn lên trong lòng bản Tày, trong những năm qua, nghệ nhân Sợi đã miệt mài ngày đêm đã tập hợp, hình thành được cuốn tài liệu với trên 3.000 trang viết tay, hàng ngàn trang viết đánh máy, xuất bản được 5 đầu sách nghiên cứu về văn hóa, phong tục, nghề dệt thổ cẩm của người Tày ở Nghĩa Đô. Ngoài ra, ông Sợi còn phối hợp với với các cơ quan chức năng về bảo tồn văn hóa của tỉnh xây dựng các tài liệu về nghi lễ Then Tày, sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu khoảng 50 chuyên đề  về văn hóa dân tộc Tày xã Nghĩa Đô. Ngoài ra, ông còn tích cực tham gia truyền dạy bản sắc văn hóa Tày Nghĩa Đô tại các lớp tập huấn, bồi dưỡng về văn hóa được xã, tỉnh tổ chức tại địa phương và các trường học. Ông được dân bản xem như “truyền nhân” văn hóa của quê hương xứ sở. Mọi người rất kính trọng ông và luôn coi ông là điểm tựa cho việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá của địa phương.

Về nơi “Ngũ cực”

Vùng đất Nghĩa Đô thấm đượm tình người. Người dân Tày nơi đây hồn hậu, mến khách, luôn chào đón du khách phương xa bằng tình cảm chân thành, mộc mạc và bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Chính vì lẽ đó, sự hội tụ của những tiềm năng du lịch như văn hóa truyền thống, bản làng nhà sàn, di tích đền Nghĩa Đô, dấu tích thành cổ, thung lũng với dòng Nặm Luông trong mát, vốn ẩm thực đậm đà cộng với hệ thống sinh thái bao quanh như thác nước, những ngọn núi cao đã tạo tiền đề để địa phương phát triển du lịch cộng đồng. Trải qua gần 5 năm hình thành và phát triển dịch vụ du lịch gắn với văn hoá truyền thống, vùng đất Nghĩa Đô đã và đang gặt hái được những trái ngọt đầu mùa. Với hệ thống gần 30 căn nhà sàn được sử dụng làm dịch vụ homestay đã và đang thu hút, trở thành điểm đến của hàng ngàn du khách trong và ngoài nước. Với không gian thoáng mát hòa vào vẻ đẹp hoang sơ thơ mộng của thiên nhiên núi rừng, sự độc đáo của những nét văn hóa truyền thống đã mang đến cho du khách một sự thư thái, một không gian trải nghiệm hấp dẫn, độc đáo. Nơi đây được mệnh danh là điểm đến trải nghiệm “Ngũ cực” khi du khách dừng chân, đó là “Cực đẹp, cực xanh, cực sạch, cực hay, cực ngon”. Vì thế, nơi đây vẫn được biết đến là nơi “Suối sạch, đồng xanh” của biết bao du khách, một “Tây Bắc thu nhỏ” .

Tram tich Nam luong 6_result.jpg
Đồng bào Tày Nghĩa Đô biểu diễn hát Then

 Những trái ngọt mùa đầu đã tạo cho vùng đất Nghĩa Đô sức sống mới với những triển vọng ở phía trước. Ngày 9/9/2021, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành Quyết định số 3281/QĐ-UBND công nhận xã Nghĩa Đô là điểm du lịch. Đầu năm 2023, Diễn đàn du lịch Đông Nam Á-ATF 2023 tổ chức tại Indonesia, Nghĩa Đô vinh dự là một trong hai điểm du lịch homestay của Việt Nam đạt giải thưởng “Homestay ASEAN”. Đó là cụm dịch vụ gồm 5 đơn vị homestay liên kết: Homestay số 1 - bản Hón, Homestay số 2 - bản Mường Kem, Homestay số 4 - bản Hón, Homestay số 5 - bản Nà Khương, Homestay số 6 - bản Thâm Mạ. Vào giữa tháng 5/2025, nghề đan lát của người Tày xã Nghĩa Đô được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Sản phẩm du lịch tại Nghĩa Đô đã và đang gắn với phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng trong tổng thể hệ thống du lịch của tỉnh Lào Cai. Địa phương và đồng bào Tày Nghĩa Đô đã xây dựng các pano về du lịch, thiết lập trang fapage để giới thiệu, quảng bá về du lịch Nghĩa Đô với du khách trong nước và quốc tế. Phát triển du lịch gắn với di sản văn hóa là hướng phát triển hiệu quả trong mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của xã Nghĩa Đô, tỉnh Lào Cai. Đồng thời, còn góp phần quảng bá hình ảnh quê hương, đất nước với bạn bè quốc tế trong thời kỳ hội nhập.

Tram tich Nam luong 9_result.jpg
Đền Nghĩa Đô, di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, nơi thờ Chúa Bầu

Ông Trần Quốc Toản, Phó Chủ tịch UBND xã Nghĩa Đô cho biết: “Phát triển du lịch cộng đồng tại Nghĩa Đô đã và đang góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị của bản sắc văn hóa truyền thống, đồng thời, giới thiệu, quảng bá nét độc đáo của văn hoá địa phương đối với du khách trong và ngoài nước”. 

Theo dòng chảy của thời gian, những thành tựu văn hóa của Nghĩa Đô không bị mất đi mà ngày càng được bồi đắp, làm giàu thêm  và trở thành một tài sản tinh thần vô giá được bảo lưu trong tâm hồn, ý chí và tình yêu quê hương xứ sở của con người nơi đây. Trong cuộc sống hôm nay và mai sau, mỗi người dân Nghĩa Đô dù sinh sống trên chính quê hương mình hay ở nơi chân trời góc bể, luôn lưu giữ trong tâm hồn mình niềm tự hào về quê hương. Đó chính là những yếu tố quan trọng để cho kho trầm tích văn hóa bên dòng Nặm Luông như một mạch nguồn chảy mãi. Trong thanh âm dìu dặt của điệu hát Then cất lên từ phía bản làng, mùa Xuân đang về với đất trời và con người Nghĩa Đô.

Bài và ảnh:  THẾ LƯỢNG 

Nguồn: Tạp chí VHNT số 634, tháng 2-2026