Điều đó đặt ra một yêu cầu rất căn bản: những quan điểm đúng đắn về văn hóa phải được chuyển hóa thành thể chế; những khát vọng lớn về chấn hưng và phát triển văn hóa phải được bảo đảm bằng nguồn lực; những lời kêu gọi phát huy giá trị văn hóa phải đi cùng cơ chế vận hành, chính sách ưu đãi, công cụ tài chính, hạ tầng số, thị trường sáng tạo và trách nhiệm tổ chức thực hiện. Nói cách khác, văn hóa không thể cất cánh nếu chỉ có tình yêu văn hóa; văn hóa cần một hệ sinh thái chính sách đủ mạnh để tình yêu ấy trở thành năng lượng xã hội, thành sản phẩm sáng tạo, thành sinh kế bền vững, thành bản sắc quốc gia trong hội nhập và thành sức mạnh phát triển.

Trong ý nghĩa đó, Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất có thể xem là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình hoàn thiện thể chế văn hóa của nước ta. Ngay tại Điều 1, Nghị quyết xác định phạm vi điều chỉnh rất rõ: “Nghị quyết này quy định một số cơ chế, chính sách phát triển văn hóa Việt Nam”. Cách diễn đạt ngắn gọn ấy cho thấy bản chất của văn bản không phải là một tuyên ngôn chung về vai trò của văn hóa, mà là một nghị quyết chính sách, hướng trực tiếp vào những cơ chế cụ thể để tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo xung lực mới cho phát triển văn hóa.

Sự ra đời của Nghị quyết cũng nằm trong mạch đổi mới tư duy lập pháp và quản trị phát triển mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh. Tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ rõ: “Quốc hội là nơi kết tinh ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân; là nơi quyết định những vấn đề lớn của đất nước; là nơi chuyển hóa chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách và sức mạnh tổ chức thực hiện”[1]. Đặt trong mạch tư duy đó, Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam chính là một biểu hiện sinh động của quá trình chuyển hóa chủ trương lớn của Đảng về văn hóa thành pháp luật, chính sách và năng lực tổ chức thực tiễn.

672676282_122171849702936185_8551910261948807460_n.jpg
Ảnh minh họa - Ảnh: Cổng TTĐT Bộ VHTTDL

Đáng chú ý hơn, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng yêu cầu phải đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển: “pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới; không chỉ điều chỉnh thực tiễn hiện hữu, mà còn phải kiến tạo tương lai; luật không chỉ "mở đường" mà còn phải “sửa đường”" [2]. Có thể nói, tinh thần này phản chiếu khá rõ trong Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam. Bởi nhiều nội dung của Nghị quyết không chỉ điều chỉnh những vấn đề đã quen thuộc của lĩnh vực văn hóa, mà còn mở ra các không gian mới: cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; tổ hợp sáng tạo văn hóa; hạ tầng văn hóa số; cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa; trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa - sáng tạo nội dung số; Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình hợp tác công tư và quỹ đầu tư mạo hiểm; cơ chế khoán chi đối với hoạt động sáng tạo văn hóa sử dụng ngân sách nhà nước.

Nếu nhìn rộng hơn, Nghị quyết này thể hiện một bước chuyển có tính phương pháp luận trong chính sách văn hóa: từ bảo tồn đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển; từ đầu tư phân tán sang bảo đảm nguồn lực tối thiểu và tăng dần; từ bao cấp hành chính sang đặt hàng, khoán chi, hỗ trợ có mục tiêu; từ coi công nghiệp văn hóa là khẩu hiệu sang xây dựng không gian, ưu đãi, hạ tầng và thị trường; từ xem chuyển đổi số là công cụ kỹ thuật sang coi đó là hạ tầng chiến lược của văn hóa trong kỷ nguyên số. Đó là sự chuyển động từ “văn hóa được quan tâm” sang “văn hóa được thiết kế điều kiện để phát triển”.

1. Tạo lập nền tảng thể chế và nguồn lực: từ nhận thức đúng đến điều kiện thực thi
Một trong những điểm mới có ý nghĩa nền tảng của Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam là việc chuyển hóa nhận thức về vai trò của văn hóa thành các cam kết thể chế cụ thể. Trong nhiều năm, chúng ta đã nói rất nhiều, rất đúng và rất sâu sắc về văn hóa: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển; văn hóa soi đường cho quốc dân đi; văn hóa còn thì dân tộc còn. Tuy nhiên, một thực tế không thể né tránh là khoảng cách giữa nhận thức và nguồn lực, giữa chủ trương và khả năng tổ chức thực hiện, giữa yêu cầu phát triển văn hóa và điều kiện dành cho văn hóa vẫn còn khá lớn. Vì vậy, giá trị đầu tiên của Nghị quyết nằm ở chỗ văn bản này không chỉ tiếp tục khẳng định vai trò của văn hóa, mà bắt đầu xác lập những “điều kiện tối thiểu” để văn hóa có thể thực sự phát triển.

Trước hết, Nghị quyết thiết lập Ngày Văn hóa Việt Nam như một thiết chế tinh thần mới trong đời sống quốc gia. Điều 2 quy định: “Ngày 24 tháng 11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương”. Đây là một quy định giàu ý nghĩa biểu tượng, nhưng không dừng lại ở biểu tượng. Một ngày nghỉ lễ nếu được tổ chức hời hợt có thể chỉ là sự gián đoạn của nhịp lao động thường ngày; nhưng một Ngày Văn hóa Việt Nam nếu được chuẩn bị công phu, có nội dung, có chương trình, có sự tham gia của gia đình, nhà trường, cộng đồng, bảo tàng, thư viện, di tích, nhà hát, không gian sáng tạo, nghệ nhân, nghệ sĩ và doanh nghiệp văn hóa, sẽ trở thành một ngày hội lớn của bản sắc, tri thức, ký ức và sáng tạo dân tộc.

Điểm đáng chú ý là Nghị quyết không chỉ quy định ngày nghỉ, mà còn tạo cơ chế để người dân tiếp cận nhiều hơn với đời sống văn hóa. Khoản 2 Điều 2 nêu rõ: “Miễn hoặc giảm phí, lệ phí dịch vụ tham quan tại các cơ sở văn hóa, thể thao công lập vào Ngày Văn hóa Việt Nam theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Cùng với đó, khoản 3 Điều 2 khuyến khích “Nhân dân, đặc biệt là thanh niên, trẻ em tham gia các hoạt động văn hóa vào các ngày lễ lớn của dân tộc và đất nước”. Như vậy, Ngày Văn hóa Việt Nam được thiết kế không chỉ như một mốc kỷ niệm, mà như một cơ hội mở rộng quyền tiếp cận văn hóa, đặc biệt cho thế hệ trẻ.

Từ góc độ chính sách công, đây là một lựa chọn rất đáng chú ý. Văn hóa không thể phát triển nếu công chúng không có thói quen văn hóa, không gian văn hóa và ký ức văn hóa chung. Một xã hội muốn có công nghiệp văn hóa mạnh thì trước hết phải có công chúng văn hóa rộng; muốn có thị trường văn hóa lành mạnh thì phải có năng lực thẩm mỹ, năng lực lựa chọn và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân. Vì vậy, Ngày Văn hóa Việt Nam không chỉ là sự tôn vinh văn hóa, mà còn là một can thiệp chính sách nhằm nuôi dưỡng công chúng, hình thành thói quen tham gia văn hóa, đưa văn hóa trở về gần hơn với đời sống gia đình, nhà trường, cộng đồng và không gian công cộng.

Điểm đột phá thứ hai, và có lẽ cũng là một trong những điểm được quan tâm nhất, là quy định về nguồn lực. Điều 3 Nghị quyết khẳng định: “Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển để thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ”. Đây là một quy định có ý nghĩa đặc biệt, bởi lần đầu tiên cam kết nguồn lực cho văn hóa được lượng hóa rõ ràng trong một nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa. Nếu văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực phát triển, là sức mạnh mềm quốc gia, thì văn hóa không thể tiếp tục ở vị trí khiêm tốn trong phân bổ nguồn lực. Nói cách khác, muốn văn hóa thực sự trở thành trụ cột phát triển thì phải có “nền móng ngân sách” tương xứng.

Tuy nhiên, cần hiểu đúng tinh thần của quy định này. Bảo đảm chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa không đơn giản là tăng chi theo nghĩa cơ học. Điều quan trọng hơn là thay đổi tư duy phân bổ và sử dụng nguồn lực. Nguồn lực ấy phải hướng tới những nhiệm vụ có tính nền tảng, lâu dài và lan tỏa: hoàn thiện thiết chế văn hóa cơ sở; bảo tồn di sản có nguy cơ mai một; phát triển tài năng văn hóa, nghệ thuật, thể thao; số hóa di sản; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa; hỗ trợ sáng tạo; đặt hàng tác phẩm có giá trị cao; phát triển công nghiệp văn hóa; đưa văn hóa đến vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tăng khả năng tiếp cận văn hóa của trẻ em, người yếu thế và các nhóm dễ bị tổn thương.

Nếu không đổi mới cách tiêu tiền cho văn hóa, tăng ngân sách có thể dẫn tới dàn trải, bình quân, nặng về xây dựng công trình mà nhẹ về vận hành, nặng về sự kiện mà nhẹ về năng lực sáng tạo, nặng về đầu tư ban đầu mà thiếu nguồn lực duy trì, đánh giá và phát triển công chúng. Vì vậy, quy định 2% chỉ thực sự phát huy giá trị khi đi kèm với cơ chế lập kế hoạch trung hạn, tiêu chí đầu ra, đánh giá tác động xã hội, công khai minh bạch và giám sát thực chất. Văn hóa là lĩnh vực đặc thù, hiệu quả không phải lúc nào cũng đo được ngay bằng doanh thu hay số lượng công trình, nhưng điều đó không có nghĩa là không thể đánh giá. Cần có bộ chỉ số phù hợp về mức độ tiếp cận văn hóa, chất lượng thiết chế, mức độ tham gia của người dân, năng lực sáng tạo, đóng góp của công nghiệp văn hóa, hiệu quả bảo tồn di sản, mức độ hài lòng của cộng đồng và tác động đến hình ảnh quốc gia.

Bên cạnh ngân sách nhà nước, Nghị quyết cũng mở ra hướng huy động nguồn lực xã hội. Khoản 2 Điều 3 nêu: “Khuyến khích huy động nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa”. Đây là một quy định ngắn, nhưng hàm chứa một định hướng rất lớn. Trong bối cảnh nhu cầu phát triển văn hóa ngày càng đa dạng, ngân sách nhà nước dù tăng lên cũng không thể một mình đáp ứng tất cả. Văn hóa muốn phát triển mạnh cần có sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng, quỹ xã hội, nhà đầu tư, nghệ sĩ, người sáng tạo, kiều bào, trường đại học, tổ chức nghề nghiệp, các nền tảng công nghệ và công chúng. Vấn đề không phải là Nhà nước rút lui khỏi văn hóa, mà là Nhà nước chuyển từ vị trí “làm thay” sang vị trí kiến tạo, hỗ trợ, điều tiết, bảo đảm công bằng tiếp cận và bảo vệ lợi ích công cộng.

Tinh thần này phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy phát triển mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV: “Đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững”[3]. Đối với văn hóa, “mọi nguồn lực” không chỉ là tiền, đất đai hay cơ sở vật chất, mà còn là di sản, ký ức, tri thức dân gian, tài năng nghệ sĩ, sáng kiến cộng đồng, dữ liệu văn hóa, bản quyền, thương hiệu địa phương, không gian công cộng, sức sáng tạo của doanh nghiệp trẻ và mạng lưới người Việt Nam ở nước ngoài. Một chính sách văn hóa hiện đại phải biết đánh thức, kết nối và làm cho các nguồn lực ấy cộng hưởng với nhau.

Nghị quyết cũng bước đầu tạo ra cơ chế phân quyền và phát huy vai trò cộng đồng trong quản lý thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở. Khoản 5 Điều 4 quy định: “UBND cấp xã quyết định giao tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư quản lý, vận hành, khai thác, sử dụng thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở; kiểm tra, giám sát bảo đảm hoạt động thường xuyên, có hiệu quả”. Đây là một điểm rất đáng chú ý trong bối cảnh nhiều thiết chế văn hóa cơ sở ở không ít nơi còn rơi vào tình trạng xây xong nhưng hoạt động nghèo nàn, thiếu người vận hành, thiếu chương trình, thiếu gắn kết với nhu cầu thực tế của cư dân.

Việc giao tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư quản lý, vận hành, khai thác thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở nếu được thiết kế tốt có thể tạo ra sự chuyển biến lớn. Thiết chế văn hóa cơ sở chỉ sống khi người dân thấy đó là không gian của mình, phục vụ nhu cầu của mình, phản ánh bản sắc của mình và do chính mình tham gia quản lý. Nhà văn hóa thôn, tổ dân phố, trung tâm văn hóa - thể thao cấp xã, sân chơi cộng đồng, thư viện cơ sở, không gian sinh hoạt văn hóa nếu được cộng đồng hóa đúng nghĩa sẽ không còn là “công trình hành chính”, mà trở thành nơi gặp gỡ, học tập, luyện tập, biểu diễn, truyền dạy, đọc sách, đối thoại, tổ chức lễ hội, sinh hoạt câu lạc bộ, chăm lo đời sống tinh thần của người dân.

Ở đây, cần nhấn mạnh một điểm có tính nguyên tắc: xã hội hóa văn hóa không có nghĩa là thương mại hóa văn hóa bằng mọi giá; cộng đồng hóa thiết chế không có nghĩa là Nhà nước buông trách nhiệm. Nhà nước vẫn phải giữ vai trò bảo đảm định hướng, hỗ trợ nguồn lực, kiểm tra, giám sát, tạo khung pháp lý và bảo vệ tính công bằng trong tiếp cận. Nhưng Nhà nước cần mở rộng không gian để cộng đồng tham gia, bởi cộng đồng chính là chủ thể sáng tạo, thực hành, lưu giữ và truyền nối văn hóa. Không có cộng đồng, thiết chế văn hóa dễ trở thành vỏ vật chất; có cộng đồng, thiết chế ấy mới có linh hồn.

Một điểm nữa cũng rất quan trọng trong nền tảng thể chế của Nghị quyết là nguyên tắc ưu tiên áp dụng. Điều 13 quy định Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2026; đồng thời nêu rõ: “Trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa Nghị quyết này với luật, nghị quyết khác của Quốc hội thì áp dụng quy định của Nghị quyết này”, trừ trường hợp văn bản khác có cơ chế, chính sách ưu đãi hơn thì đối tượng hưởng ưu đãi được áp dụng cơ chế, chính sách đó . Quy định này có ý nghĩa rất lớn về mặt thực thi, bởi một trong những điểm nghẽn lâu nay của chính sách văn hóa là sự phân tán, chồng chéo, thiếu đồng bộ giữa các quy định thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: tài chính, đầu tư công, đất đai, thuế, di sản, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thể thao, đơn vị sự nghiệp công lập, tự chủ tài chính, xã hội hóa, đấu thầu, đặt hàng…

Khi Nghị quyết xác lập nguyên tắc áp dụng như vậy, các cơ chế đặc thù về văn hóa có thêm cơ sở pháp lý để đi vào cuộc sống, hạn chế tình trạng chính sách đã có nhưng không thực hiện được vì vướng quy định khác, hoặc cơ quan thực thi e ngại trách nhiệm. Đây cũng là tinh thần mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu khi nói về xây dựng pháp luật: phải “kiên quyết khắc phục tình trạng ‘luật bó’, chồng lấn, đẩy trách nhiệm cho văn bản dưới luật; phải làm sao để luật ban hành ra là đi được vào cuộc sống, người dân dễ hiểu, doanh nghiệp dễ thực hiện, cơ quan nhà nước dễ áp dụng”[4]. Với lĩnh vực văn hóa, yêu cầu này càng có ý nghĩa, bởi sáng tạo luôn cần độ mở, còn quản lý văn hóa lại thường dễ bị níu giữ bởi tâm lý an toàn, thủ tục và những khuôn mẫu cũ.

Từ các nội dung trên, có thể thấy phần nền tảng của Nghị quyết đã xử lý ba vấn đề lớn: xác lập biểu tượng và không gian xã hội cho văn hóa thông qua Ngày Văn hóa Việt Nam; bảo đảm nguồn lực tối thiểu và định hướng huy động xã hội; tạo cơ sở pháp lý cho phân quyền, cộng đồng hóa và ưu tiên áp dụng chính sách đặc thù. Đây chính là những viên gạch đầu tiên để văn hóa chuyển từ vị trí “được ghi nhận” sang vị trí “được bảo đảm điều kiện phát triển”.

Tuy nhiên, thách thức phía trước không nhỏ. Nghị quyết chỉ mở ra cánh cửa; đi qua cánh cửa ấy như thế nào phụ thuộc vào năng lực hướng dẫn của Chính phủ, sự chủ động của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trách nhiệm của chính quyền địa phương, chất lượng giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cũng như sự tham gia của giới trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nghiệp và nhân dân. Nếu được triển khai bằng tư duy mới, Nghị quyết có thể trở thành một cú hích thể chế mạnh mẽ. Nếu triển khai theo lối cũ, các cơ chế tiến bộ cũng có nguy cơ bị làm chậm bởi thủ tục, phân tán bởi lợi ích cục bộ hoặc bị giản lược thành phong trào.

Điều cần nhấn mạnh là phát triển văn hóa không thể chỉ là nhiệm vụ của ngành Văn hóa. Văn hóa phải thấm vào quy hoạch đô thị, giáo dục, du lịch, công nghiệp, ngoại giao, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, phát triển nông thôn, quản trị địa phương và đời sống cộng đồng. Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu “đặt phát triển văn hóa, xã hội và xây dựng con người… ở vị trí nền tảng, động lực nội sinh cho phát triển nhanh và bền vững” và “biến văn hóa thành nguồn lực phát triển thông qua công nghiệp văn hóa, du lịch thông minh, giáo dục trải nghiệm”[5], đó không chỉ là một gợi mở cho một địa phương, mà còn là một cách tiếp cận có ý nghĩa rộng hơn đối với mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Vì vậy, nền tảng thể chế và nguồn lực mà Nghị quyết thiết lập cần được nhìn nhận như một khởi đầu quan trọng của quá trình tái định vị văn hóa trong cấu trúc phát triển quốc gia. Từ nay, nói đến văn hóa không chỉ là nói đến bảo tồn, lễ hội, nghệ thuật hay phong trào; mà còn là nói đến ngân sách, thuế, đất đai, dữ liệu, công nghệ, thị trường, nhân lực, bản quyền, công nghiệp sáng tạo, không gian công cộng, chất lượng sống và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đó chính là sự trưởng thành của tư duy chính sách văn hóa trong kỷ nguyên mới.

2. Mở rộng không gian phát triển công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số văn hóa và thị trường sáng tạo
Trong nhiều năm qua, công nghiệp văn hóa ở nước ta đã được xác định là một lĩnh vực quan trọng, nhưng trên thực tế vẫn còn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Chúng ta có di sản phong phú, lịch sử lâu đời, cộng đồng sáng tạo trẻ, thị trường tiêu dùng văn hóa đang mở rộng, công nghệ số phát triển nhanh, du lịch phục hồi mạnh, đời sống đô thị sôi động, tầng lớp trung lưu gia tăng, nhu cầu trải nghiệm văn hóa ngày càng lớn. Tuy nhiên, các nguồn lực ấy chưa được tổ chức thành một hệ sinh thái đủ mạnh. Điểm nghẽn nằm ở hạ tầng sáng tạo, cơ chế ưu đãi, nguồn vốn đầu tư, chính sách thuế, bảo hộ sở hữu trí tuệ, đào tạo nhân lực, phân phối sản phẩm, dữ liệu văn hóa, không gian thử nghiệm và khả năng kết nối giữa khu vực công với khu vực tư nhân.

Chính vì vậy, việc Nghị quyết đưa vào khái niệm và cơ chế hình thành các “cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa” là một bước tiến rất đáng chú ý. Nghị quyết xác định đây là “khu vực có ranh giới địa lý xác định, tập trung các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa”, được đầu tư để liên kết “các không gian sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, thử nghiệm, sản xuất, phân phối, thương mại hóa các sản phẩm, dịch vụ văn hóa”, qua đó tạo thành “hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, giải trí đồng bộ, hiện đại dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo” . Cách tiếp cận này cho thấy công nghiệp văn hóa đã được nhìn nhận không phải như những hoạt động riêng lẻ, mà như một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, từ ý tưởng đến sản xuất, từ sản xuất đến phân phối, từ phân phối đến thương mại hóa, từ thương mại hóa đến lan tỏa giá trị xã hội.

Đồng thời, Nghị quyết cũng quy định việc hình thành, phát triển “tổ hợp sáng tạo văn hóa” như một “khu phức hợp các công trình, không gian, hạ tầng kỹ thuật để cho thuê, khai thác, sử dụng nhằm phát triển công nghiệp văn hóa kết hợp với các mục tiêu thương mại, dịch vụ” tại khu đô thị, khu dân cư, khu du lịch văn hóa, cụm, khu công nghiệp, nhà máy hoặc công trình được chuyển đổi công năng . Đây là một tư duy rất phù hợp với thực tiễn phát triển đô thị sáng tạo hiện nay. Ở nhiều quốc gia, những nhà máy cũ, kho xưởng bỏ hoang, khu công nghiệp cũ, không gian đô thị suy giảm chức năng đã được chuyển đổi thành trung tâm nghệ thuật, không gian thiết kế, studio sáng tạo, bảo tàng đương đại, chợ sáng tạo, khu trình diễn, trung tâm khởi nghiệp văn hóa. Điều quan trọng không chỉ là tận dụng tài sản vật chất, mà là tái sinh không gian bằng sáng tạo, biến những “khoảng trống đô thị” thành điểm đến văn hóa và kinh tế.

Đối với Việt Nam, chính sách này đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh nhiều địa phương đang có nhu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phát triển đô thị sáng tạo, kinh tế đêm, du lịch văn hóa, không gian công cộng và công nghiệp dịch vụ. Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Đà Lạt, Hải Phòng, Quảng Ninh, Cần Thơ hay nhiều đô thị khác đều có thể tìm thấy trong chính sách này một gợi mở quan trọng. Vấn đề không phải là mỗi địa phương đều xây dựng một khu sáng tạo giống nhau, mà là mỗi địa phương phải biết khai thác bản sắc riêng, lợi thế riêng, ký ức riêng, di sản riêng và cộng đồng sáng tạo riêng để hình thành mô hình phù hợp. Công nghiệp văn hóa không thể phát triển bằng sao chép; nó chỉ phát triển bền vững khi được nuôi dưỡng từ bản sắc địa phương, đồng thời kết nối với thị trường quốc gia và quốc tế.

Điểm đáng chú ý là Nghị quyết không dừng lại ở việc nêu mô hình, mà đã gắn mô hình đó với cơ chế hỗ trợ cụ thể. Tổ chức, cá nhân đầu tư vào cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa được hưởng chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh theo Nghị quyết số 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân. Đây là sự kết nối chính sách rất quan trọng, bởi công nghiệp văn hóa muốn phát triển thì không thể thiếu khu vực tư nhân. Doanh nghiệp văn hóa, doanh nghiệp sáng tạo, startup nội dung số, nhà sản xuất phim, đơn vị tổ chức biểu diễn, thiết kế, mỹ thuật, trò chơi điện tử, du lịch văn hóa, thời trang, âm nhạc, xuất bản, truyền thông sáng tạo… đều cần mặt bằng, vốn, công nghệ, nhân lực và môi trường pháp lý đủ thông thoáng.

Bên cạnh đất đai và mặt bằng, Nghị quyết cũng có chính sách ưu đãi thuế nhằm thu hút đầu tư vào hạ tầng số, giải pháp công nghệ cao cho văn hóa và một số ngành công nghiệp văn hóa trọng tâm. Các lĩnh vực được nêu gồm du lịch văn hóa, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử trên mạng có nội dung giáo dục, tuyên truyền, quảng bá giá trị văn hóa lịch sử Việt Nam và mỹ thuật. Đối với các hoạt động này, Nghị quyết quy định miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập từ hoạt động văn hóa của doanh nghiệp; miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một số khoản thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn, quyền mua cổ phần, quyền mua phần vốn góp vào doanh nghiệp đối với hoạt động văn hóa; miễn thuế thu nhập cá nhân trong 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của chuyên gia, nhà khoa học nhận được từ hoạt động văn hóa của doanh nghiệp .

Những chính sách này có ý nghĩa không nhỏ. Trong nền kinh tế sáng tạo, ưu đãi thuế không chỉ làm giảm chi phí đầu tư, mà còn gửi đi một tín hiệu chính sách: Nhà nước coi văn hóa là lĩnh vực cần khuyến khích, coi doanh nghiệp văn hóa là chủ thể phát triển, coi chuyên gia, nhà khoa học, người sáng tạo công nghệ trong văn hóa là lực lượng cần thu hút. Điều đó đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cạnh tranh nhân lực sáng tạo đang diễn ra gay gắt. Một nhà thiết kế giỏi, một kỹ sư công nghệ nội dung số, một đạo diễn trẻ, một chuyên gia giám tuyển, một nhà sản xuất trò chơi điện tử có năng lực kể chuyện Việt Nam, một chuyên gia bảo vệ bản quyền số… đều có thể lựa chọn làm việc ở nhiều lĩnh vực khác hấp dẫn hơn về thu nhập. Nếu không có chính sách đủ mạnh, văn hóa khó thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao.

Tư duy này rất gần với tinh thần mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh khi yêu cầu phải đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững. Đối với văn hóa, “mọi nguồn lực” không chỉ là di sản hay ngân sách, mà còn là doanh nghiệp, công nghệ, dữ liệu, bản quyền, không gian đô thị, vốn đầu tư mạo hiểm, nhân lực sáng tạo và khả năng thương mại hóa giá trị Việt Nam. Nếu không biết chuyển các nguồn lực ấy thành sản phẩm, dịch vụ, trải nghiệm và thương hiệu, văn hóa sẽ chỉ dừng ở tiềm năng. Nhưng nếu biết tổ chức tốt, văn hóa có thể trở thành một trong những động lực mới của tăng trưởng.

Nghị quyết cũng dành một vị trí quan trọng cho chính sách ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực văn hóa. Theo Điều 5, các hoạt động như sản xuất phim, phát hành phim, phổ biến phim; triển lãm; dịch vụ luyện tập, thi đấu thể dục, thể thao cho người khuyết tật hoặc thể thao chuyên nghiệp; hoạt động nghệ thuật biểu diễn được hưởng thuế suất thuế giá trị gia tăng 5%. Đây là chính sách có tác động trực tiếp đến thị trường văn hóa. Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, triển lãm, thể thao chuyên nghiệp không chỉ là những lĩnh vực thụ hưởng văn hóa, mà còn là những ngành có khả năng tạo việc làm, kích thích tiêu dùng, phát triển du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước và thúc đẩy các ngành phụ trợ. Thuế suất ưu đãi, nếu được thực hiện đồng bộ, sẽ góp phần giảm chi phí, khuyến khích đầu tư, mở rộng thị trường và tăng khả năng tiếp cận của công chúng.

Một trong những điểm mới có tầm nhìn dài hạn là chính sách chuyển đổi số và phát triển hạ tầng văn hóa số. Điều 10 của Nghị quyết quy định: “Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, hạ tầng văn hóa số và nền tảng số dùng chung. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển các sản phẩm, dịch vụ văn hóa số theo phương thức đối tác công tư”. Đây là một bước tiếp cận rất quan trọng, bởi trong kỷ nguyên số, văn hóa không chỉ hiện diện trong bảo tàng, di tích, thư viện, nhà hát hay lễ hội; văn hóa còn hiện diện trong dữ liệu, nền tảng, thuật toán, không gian mạng, trò chơi điện tử, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo, phim trực tuyến, âm nhạc số, sách số, triển lãm số, bảo tàng số, cộng đồng số và các hình thức sáng tạo nội dung mới.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, nếu được xây dựng đúng hướng, sẽ không chỉ là kho lưu trữ thông tin, mà là hạ tầng tri thức phục vụ quản lý, nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo, du lịch, truyền thông, công nghiệp nội dung và bảo vệ chủ quyền văn hóa. Số hóa di sản không chỉ để bảo quản, mà còn để tái sinh di sản trong các sản phẩm giáo dục, du lịch, phim ảnh, trò chơi, mỹ thuật ứng dụng, thiết kế, truyền thông đa phương tiện. Một hoa văn cổ, một điệu múa dân gian, một bản sắc phục, một làn điệu, một câu chuyện lịch sử, một hiện vật bảo tàng nếu được số hóa, chú giải, chuẩn hóa bản quyền và mở có kiểm soát cho người sáng tạo, có thể trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều sản phẩm mới. Đó chính là cách di sản đi vào tương lai.

Nghị quyết cũng quy định Nhà nước bảo đảm kinh phí để UBND cấp tỉnh thực hiện số hóa các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt. Đây là chính sách cần thiết, bởi nếu không có đầu tư công ban đầu, nhiều địa phương khó có thể tiến hành số hóa bài bản. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng số hóa di sản không chỉ là quét ảnh, dựng mô hình 3D hay lập danh mục điện tử. Số hóa phải gắn với chuẩn dữ liệu, quyền sở hữu trí tuệ, khả năng liên thông, bảo mật, khai thác giáo dục, phát triển sản phẩm sáng tạo và phục vụ công chúng. Nếu làm thiếu chiến lược, số hóa có thể trở thành những dự án rời rạc, tốn kém, khó dùng lại. Nếu làm đúng, số hóa sẽ trở thành nền tảng của một nền kinh tế di sản trong kỷ nguyên số.

Một điểm rất đáng chú ý khác là Nghị quyết quy định thí điểm các mô hình kinh doanh văn hóa mới gắn với nền tảng số, như “bảo tàng mở, nhà hát di động, thư viện số và một số loại thiết chế văn hóa số khác”, với thời gian thí điểm tối đa 5 năm kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực. Đây là tinh thần rất cần thiết trong quản lý văn hóa hiện nay. Sự phát triển của công nghệ đang làm thay đổi căn bản cách công chúng tiếp cận văn hóa. Người dân không chỉ đến bảo tàng, mà bảo tàng cũng có thể đến với người dân qua nền tảng số. Công chúng không chỉ ngồi trong nhà hát, mà nghệ thuật biểu diễn có thể tiếp cận họ qua không gian di động, không gian trực tuyến, không gian cộng đồng, trường học, khu công nghiệp, vùng sâu, vùng xa. Thư viện không chỉ là nơi lưu giữ sách in, mà còn là cổng tri thức số, nền tảng học tập suốt đời, không gian kết nối cộng đồng đọc.

Tất nhiên, mô hình mới luôn đi kèm rủi ro mới. Vì vậy, thí điểm là cách tiếp cận phù hợp. Thí điểm cho phép thử nghiệm, đánh giá, điều chỉnh, nhân rộng mô hình tốt và dừng mô hình không phù hợp. Đây cũng là biểu hiện của tinh thần “luật không chỉ mở đường mà còn phải sửa đường” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI; đồng thời yêu cầu chuyển từ tư duy “làm luật cho đủ” sang “làm luật để phát triển”, từ “pháp luật tốt trên giấy” sang “pháp luật tốt trong cuộc sống”. Với lĩnh vực văn hóa, thí điểm là đặc biệt cần thiết, bởi sáng tạo luôn đi trước khuôn mẫu và thực tiễn văn hóa luôn phong phú hơn mọi dự liệu hành chính.

Không chỉ chú trọng hạ tầng và mô hình kinh doanh, Nghị quyết còn đề cập đến việc hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa - sáng tạo nội dung số đặt trong các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa, cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo ngành đặc thù trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao, cũng như các trung tâm văn hóa, thể thao cấp tỉnh, cấp xã. Đây là một thiết kế có khả năng tạo mạng lưới đổi mới sáng tạo từ trung ương đến địa phương, từ trường học đến thị trường, từ thiết chế công đến doanh nghiệp, từ đào tạo đến sản xuất nội dung. Nếu được triển khai thực chất, các trung tâm này có thể trở thành nơi ươm tạo tài năng, thử nghiệm mô hình, hỗ trợ người sáng tạo nội dung số, kết nối nghệ nhân với công nghệ, đưa sinh viên ngành Văn hóa nghệ thuật đến gần thị trường, và đưa doanh nghiệp sáng tạo đến gần di sản.

Một nội dung có tính thời sự sâu sắc là quy định Nhà nước bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, ứng dụng công nghệ số để “giám sát, rà quét, đánh giá, xử lý thông tin xấu độc, tin giả, sai sự thật để bảo vệ an ninh văn hóa, bản quyền trên môi trường số và chủ quyền văn hóa số”. Đây là một cách tiếp cận rất đúng với thực tiễn hiện nay. Không gian số không chỉ là không gian truyền thông, mà đã trở thành môi trường văn hóa mới. Ở đó, các giá trị được tạo ra, lan truyền, tranh chấp, bị bóp méo hoặc được tôn vinh. Ở đó, bản quyền có thể bị xâm phạm trong vài giây; tin giả có thể làm tổn thương niềm tin xã hội; sản phẩm độc hại có thể tác động đến trẻ em; nội dung xuyên tạc lịch sử, xúc phạm văn hóa, lệch chuẩn đạo đức có thể lan rộng theo thuật toán.

Vì vậy, phát triển văn hóa số không chỉ là khuyến khích sáng tạo nội dung, mà còn phải bảo vệ hệ sinh thái văn hóa số lành mạnh. Bản quyền trên môi trường số phải được bảo vệ nghiêm túc để người sáng tạo có thể sống được bằng lao động sáng tạo. Chủ quyền văn hóa số phải được quan tâm để các giá trị Việt Nam không bị chìm lấp, bóp méo hoặc lệ thuộc hoàn toàn vào nền tảng xuyên biên giới. An ninh văn hóa phải được hiểu không phải là đóng kín, mà là tạo năng lực đề kháng, năng lực nhận diện, năng lực bảo vệ và năng lực lan tỏa giá trị tích cực của dân tộc trong môi trường số.

Từ các nội dung trên, có thể thấy Nghị quyết đã tạo ra một “bản đồ chính sách” khá toàn diện cho công nghiệp văn hóa và văn hóa số. Bản đồ đó gồm không gian vật lý là cụm, khu, tổ hợp sáng tạo; không gian tài chính là ưu đãi thuế và hỗ trợ đầu tư; không gian công nghệ là hạ tầng số, nền tảng số, cơ sở dữ liệu quốc gia; không gian thử nghiệm là các mô hình kinh doanh văn hóa mới; không gian nhân lực là trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa - sáng tạo nội dung số; và không gian bảo vệ là an ninh văn hóa, bản quyền, chủ quyền văn hóa số. Đây là cấu trúc tương đối đồng bộ, phản ánh một nhận thức mới: văn hóa chỉ có thể phát triển mạnh khi được đặt trong hệ sinh thái.

3. Bảo tồn di sản, phát triển con người văn hóa và xây dựng sức mạnh mềm quốc gia
Nghị quyết dành một nội dung quan trọng cho bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống và bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm. Khoản 1 Điều 6 quy định: “Nhà nước bảo đảm nguồn lực tài chính bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam; các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một, nghệ thuật truyền thống; xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù cho văn hóa các dân tộc thiểu số; phát triển không gian bảo tồn văn hóa, làng, bản, buôn truyền thống gắn với phát triển du lịch, phát huy vai trò của chủ thể văn hóa tạo sinh kế bền vững”. Đây là một quy định có chiều sâu, bởi nó không tách bảo tồn khỏi đời sống, không tách văn hóa khỏi cộng đồng và không tách di sản khỏi sinh kế.

Trong thực tiễn, nhiều giá trị văn hóa truyền thống không mất đi chỉ vì thiếu tình yêu, mà vì thiếu điều kiện sống. Một làn điệu dân ca, một nghề thủ công, một lễ hội, một tri thức dân gian, một kiểu nhà truyền thống, một phong tục đẹp, một nghệ thuật trình diễn dân gian chỉ có thể được bảo tồn bền vững khi cộng đồng còn thực hành, còn tự hào, còn thấy giá trị trong đời sống hôm nay. Nếu người trẻ rời bản làng, nếu nghệ nhân không có người kế cận, nếu du lịch khai thác thiếu tôn trọng, nếu không gian văn hóa bị phá vỡ bởi đô thị hóa hoặc thương mại hóa thô bạo, thì di sản có thể chỉ còn tồn tại trong hồ sơ, hình ảnh hoặc lễ diễn phục dựng. Vì vậy, cách tiếp cận “phát huy vai trò của chủ thể văn hóa tạo sinh kế bền vững” là rất đúng. Bảo tồn bền vững phải làm cho cộng đồng sống được cùng di sản, chứ không chỉ biểu diễn di sản cho người khác xem.

Tinh thần này cũng tương đồng với nhận định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khi nhấn mạnh: “Giữ gìn văn hóa các dân tộc không chỉ là bảo tồn di sản, mà còn là giữ gìn nền tảng tinh thần của xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo nên sức mạnh nội sinh cho phát triển đất nước một cách bền vững”[6]. Câu nói ấy gợi mở một cách nhìn rất quan trọng: văn hóa các dân tộc không phải là phần phụ của văn hóa quốc gia, mà là một cấu phần làm nên sự thống nhất trong đa dạng của Việt Nam. Mỗi dân tộc, mỗi vùng đất, mỗi cộng đồng đều đóng góp vào bản sắc Việt Nam bằng một màu sắc riêng. Giữ gìn sự đa dạng ấy chính là giữ gìn chiều sâu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Nghị quyết cũng quan tâm đến việc hồi hương các bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài. Điều 5 quy định các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, di sản văn hóa của Việt Nam đáp ứng tiêu chí bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm đang ở nước ngoài được tổ chức, cá nhân mua, đấu giá, đưa về Việt Nam không vì mục đích lợi nhuận để trưng bày hoặc tặng, cho, chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước thì được miễn 100% thuế nhập khẩu, phí hải quan và là đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Điều 6 tiếp tục quy định bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có giá trị, có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài được bố trí kinh phí kịp thời sau khi Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương mua, đấu giá, đưa về Việt Nam.

Đây là một chính sách có ý nghĩa cả về văn hóa, lịch sử, biểu tượng và pháp lý. Nhiều quốc gia trên thế giới coi việc hồi hương di sản là một phần của quá trình phục hồi ký ức dân tộc, củng cố bản sắc và khẳng định vị thế văn hóa. Đối với Việt Nam, mỗi bảo vật, cổ vật, tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là một hiện vật có giá trị vật chất, mà còn là một mảnh ký ức, một bằng chứng của lịch sử, một biểu tượng của tài hoa cha ông. Chính sách miễn thuế, phí và bố trí kinh phí kịp thời cho thấy Nhà nước đã nhận thức rõ hơn trách nhiệm chủ động đưa di sản trở về, đồng thời khuyến khích tổ chức, cá nhân, nhất là những người có điều kiện tài chính và tình yêu văn hóa, tham gia vào hành trình hồi hương di sản.

Một nội dung rất đáng chú ý khác là thí điểm mô hình đô thị di sản. Nghị quyết quy định chính quyền địa phương thực hiện thí điểm mô hình đô thị di sản theo tiêu chí do Chính phủ quy định được quyết định các cơ chế, chính sách ưu đãi về đất đai, phí, lệ phí trên địa bàn đối với hoạt động nhằm khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa; thời gian thí điểm tối đa đến hết năm 2035. Đây là một tư duy mới trong quản trị di sản. Di sản không còn được nhìn đơn lẻ như di tích, hiện vật, lễ hội, mà được đặt trong không gian đô thị, trong cấu trúc phát triển, trong kinh tế dịch vụ, du lịch, công nghiệp văn hóa và chất lượng sống của người dân.

Đô thị di sản, nếu được thiết kế tốt, có thể là mô hình kết hợp giữa bảo tồn kiến trúc, ký ức, cảnh quan, lối sống, nghề truyền thống, không gian công cộng, kinh tế đêm, du lịch văn hóa và sáng tạo đương đại. Nhưng nếu làm không thận trọng, đô thị di sản cũng có nguy cơ trở thành đô thị du lịch hóa, nơi người dân bản địa bị đẩy ra ngoài, di sản bị trình diễn hóa, không gian sống bị thương mại hóa và bản sắc bị tiêu dùng ngắn hạn. Vì vậy, khi triển khai chính sách này, cần đặt cộng đồng cư dân vào trung tâm, coi bảo tồn là điều kiện của phát triển chứ không phải vật cản của phát triển, và coi phát triển là phương tiện để di sản tiếp tục sống chứ không phải lý do để làm biến dạng di sản.

Nghị quyết cũng có những quy định quan trọng về nghệ thuật truyền thống. Nhà nước đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất và bảo đảm hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập đang cung cấp dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu là dịch vụ văn hóa, nghệ thuật truyền thống; ưu tiên sự tham gia của các loại hình nghệ thuật truyền thống trong các sự kiện, chương trình nghệ thuật quốc gia, quốc tế phục vụ nhiệm vụ chính trị; bảo đảm thời lượng phát sóng các chương trình văn hóa, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống trên hệ thống phát thanh, truyền hình. Đây là những quy định rất cần thiết, bởi nghệ thuật truyền thống đang đứng trước nhiều khó khăn: khán giả thu hẹp, thu nhập thấp, tuổi nghề khắc nghiệt, cạnh tranh gay gắt với các loại hình giải trí hiện đại, thiếu nhân lực kế cận và thiếu không gian biểu diễn thường xuyên.

Tuy nhiên, hỗ trợ nghệ thuật truyền thống không nên chỉ dừng ở bảo tồn nguyên trạng hay biểu diễn trong các dịp lễ nghi. Nghệ thuật truyền thống cần được đặt trong đời sống mới: giáo dục thẩm mỹ trong trường học, du lịch văn hóa, sản phẩm số, biểu diễn thử nghiệm, hợp tác với nghệ thuật đương đại, truyền hình, nền tảng trực tuyến, hoạt động cộng đồng, chương trình ngoại giao văn hóa. Cần làm cho chèo, tuồng, cải lương, quan họ, ca trù, ví giặm, đờn ca tài tử, hát xoan, bài chòi, cồng chiêng, múa rối nước… không chỉ được “bảo tồn” trong hồ sơ di sản, mà còn được sống trong cảm xúc công chúng hôm nay. Muốn vậy, chính sách phải đồng thời chăm lo nghệ nhân, nghệ sĩ, khán giả, sân khấu, truyền thông, giáo dục và đổi mới hình thức tiếp cận.

Một trong những điểm giàu tính nhân văn của Nghị quyết là chính sách đãi ngộ, phát triển tài năng và nhân lực đặc thù trong lĩnh vực văn hóa, thể thao. Điều 7 quy định Nhà nước có chính sách ưu tiên phát triển tài năng trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao thông qua bồi dưỡng tập trung, chuyên sâu trong nước và ở nước ngoài; bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và chăm sóc sức khỏe chuyên biệt để phục vụ biểu diễn, luyện tập, nghiên cứu theo hướng đồng bộ, hiện đại, đạt chuẩn khu vực và quốc tế. Quy định này cho thấy một nhận thức quan trọng: tài năng văn hóa, nghệ thuật, thể thao không thể tự nảy nở nếu thiếu môi trường đào tạo, điều kiện luyện tập, chăm sóc chuyên biệt và cơ chế phát hiện, bồi dưỡng dài hạn.

Đặc biệt, Nghị quyết cho phép đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao áp dụng cơ chế tuyển dụng không qua thi tuyển đối với người học, người tốt nghiệp trong nước và nước ngoài có thành tích chuyên môn đặc biệt xuất sắc; vận động viên, nghệ sĩ tài năng đạt huy chương, giải thưởng cấp quốc gia, khu vực, quốc tế. Đây là quy định rất sát với đặc thù của văn hóa nghệ thuật và thể thao. Không thể đánh giá một nghệ sĩ tài năng, một vận động viên xuất sắc hay một người có năng khiếu đặc biệt chỉ bằng quy trình thi tuyển hành chính thông thường. Tài năng cần được nhận diện bằng thành tựu chuyên môn, năng lực biểu diễn, sáng tạo, thi đấu, cống hiến và tiềm năng phát triển.

Chính sách phụ cấp ưu đãi nghề cũng là một bước tiến đáng ghi nhận. Nghị quyết quy định viên chức, người lao động hoạt động đặc thù nghề nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập nghệ thuật biểu diễn, đơn vị nghệ thuật biểu diễn thuộc lực lượng vũ trang được hưởng phụ cấp ưu đãi nghề từ 40% đến 60% đối với nghệ thuật biểu diễn truyền thống, nghệ thuật biểu diễn cổ điển, xiếc và người làm việc tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn; từ 20% đến 30% đối với một số lĩnh vực văn hóa, thể thao khác; đồng thời có chế độ bồi dưỡng luyện tập từ 5% đến 15% mức lương cơ sở/buổi và bồi dưỡng biểu diễn từ 15% đến 30% mức lương cơ sở/buổi biểu diễn.

Những con số này không chỉ là kỹ thuật tiền lương, mà phản ánh sự thừa nhận đối với lao động đặc thù trong văn hóa nghệ thuật. Đằng sau một tiết mục biểu diễn là nhiều năm khổ luyện; đằng sau một vai diễn xiếc, múa, tuồng, chèo, cải lương là mồ hôi, chấn thương, tuổi nghề ngắn và áp lực sinh kế; đằng sau một nghệ nhân truyền dạy văn hóa dân gian là cả đời tích lũy tri thức cộng đồng. Nếu chính sách đãi ngộ không tương xứng, chúng ta sẽ mất dần người giữ lửa. Khi người giữ lửa rời sân khấu, rời làng nghề, rời không gian truyền dạy, di sản cũng mất đi hơi thở sống động nhất.

Nghị quyết còn quy định Nhà nước hỗ trợ kinh phí đào tạo lại cho viên chức thuộc lĩnh vực nghệ thuật truyền thống, xiếc, múa khi hết tuổi nghề; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghiệp văn hóa, nhân lực chuyên sâu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sáng tạo nội dung số về văn hóa, giám tuyển, giám định tác phẩm văn hóa, nghệ thuật, di sản văn hóa. Đây là một chính sách rất cần thiết, bởi phát triển văn hóa hiện nay không chỉ cần nghệ sĩ biểu diễn, mà cần cả một đội ngũ nghề nghiệp mới: nhà sản xuất, giám tuyển, chuyên gia bản quyền, chuyên gia dữ liệu văn hóa, nhà thiết kế trải nghiệm, người làm truyền thông văn hóa, chuyên gia thị trường nghệ thuật, kỹ sư công nghệ sáng tạo, chuyên gia giáo dục di sản, quản lý thiết chế, quản trị lễ hội, quản trị không gian sáng tạo.

Một điểm mới khác có tính quyết định đối với đời sống sáng tạo là cơ chế đặt hàng và khoán chi. Điều 8 quy định: “Nhà nước có cơ chế đặt hàng sáng tạo và phổ biến các công trình, tác phẩm văn hóa, văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật”. Đồng thời, Nghị quyết cho phép thí điểm cơ chế khoán chi kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với một số hoạt động sáng tạo, bảo đảm mục tiêu, sản phẩm đầu ra theo yêu cầu chuyên môn; áp dụng khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hoặc khoán chi từng phần; trường hợp khoán chi đến sản phẩm cuối cùng phải có cam kết về công trình, tác phẩm với yêu cầu chủ yếu cần đạt được thông qua Hội đồng chuyên môn thẩm định độc lập; thời gian thí điểm tối đa 5 năm kể từ ngày Nghị quyết có hiệu lực.

Đây là một trong những nội dung mang tính tháo gỡ rất lớn. Sáng tạo văn hóa, văn học, nghệ thuật không thể được quản lý giống như mua sắm vật tư hay xây dựng một hạng mục kỹ thuật thông thường. Tác phẩm nghệ thuật cần quá trình thai nghén, thử nghiệm, điều chỉnh, cảm hứng, độ lùi, tư duy cá nhân và đánh giá chuyên môn. Nếu áp dụng cơ chế tài chính quá cứng, quá chi li về hóa đơn, định mức, thủ tục, hoạt động sáng tạo dễ bị hành chính hóa, nghệ sĩ mất thời gian vào giải trình thay vì sáng tạo, đơn vị nghệ thuật ngại đặt hàng tác phẩm mới, và ngân sách văn hóa không tạo ra được sản phẩm tương xứng. Cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, nếu được thiết kế minh bạch, có hội đồng chuyên môn độc lập và tiêu chí đầu ra rõ ràng, có thể là bước đột phá để giải phóng năng lực sáng tạo.

Tất nhiên, khoán chi trong sáng tạo văn hóa cũng cần đi kèm trách nhiệm giải trình. Không thể nhân danh đặc thù sáng tạo để buông lỏng kiểm soát; nhưng cũng không thể nhân danh kiểm soát để bóp nghẹt sáng tạo. Cân bằng giữa tự chủ sáng tạo và trách nhiệm sử dụng ngân sách là yêu cầu cốt lõi. Hội đồng chuyên môn phải thực sự độc lập, có uy tín nghề nghiệp, đa dạng chuyên môn, tránh hình thức và tránh lợi ích nhóm. Sản phẩm được đặt hàng phải được đánh giá không chỉ bằng thủ tục nghiệm thu, mà bằng chất lượng tư tưởng, nghệ thuật, mức độ lan tỏa, khả năng tiếp cận công chúng và đóng góp vào đời sống văn hóa.

Một điểm đặc biệt quan trọng trong Nghị quyết là chính sách quảng bá, xúc tiến, phát triển sản phẩm và thị trường công nghiệp văn hóa Việt Nam. Điều 9 quy định Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ, thúc đẩy quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thông qua tổ chức Tuần Văn hóa Việt Nam; chương trình giao lưu nghệ thuật; truyền dạy và biểu diễn nghệ thuật truyền thống; dạy tiếng Việt; nhân rộng mô hình khu phố Việt Nam, làng Việt Nam, câu lạc bộ văn hóa, võ dân tộc, ẩm thực Việt Nam, học tiếng Việt tại các quốc gia có đông cộng đồng người Việt Nam sinh sống và làm việc. Đây là một tư duy quảng bá văn hóa có chiều sâu, bởi sức mạnh mềm quốc gia không chỉ đến từ các sự kiện lớn, mà còn đến từ sự hiện diện bền bỉ của văn hóa trong đời sống cộng đồng quốc tế.

Người Việt Nam ở nước ngoài là một nguồn lực văn hóa đặc biệt. Mỗi khu phố Việt Nam, mỗi lớp học tiếng Việt, mỗi câu lạc bộ võ dân tộc, mỗi không gian ẩm thực, mỗi chương trình nghệ thuật truyền thống, mỗi lễ hội cộng đồng đều có thể trở thành một “đại sứ văn hóa” tự nhiên. Khi cộng đồng người Việt giữ được tiếng Việt, ký ức Việt, hương vị Việt, nghi lễ Việt, lòng tự hào Việt và kết nối với quê hương, sức mạnh mềm Việt Nam sẽ có nền tảng xã hội rộng lớn hơn nhiều so với các chiến dịch quảng bá ngắn hạn. Vì vậy, chính sách này không chỉ là đối ngoại văn hóa, mà còn là chính sách gắn kết dân tộc trong không gian toàn cầu.

Nghị quyết cũng quy định Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp thực hiện chương trình quảng bá, giới thiệu, xuất khẩu các sản phẩm văn hóa tiêu biểu của Việt Nam ở nước ngoài; hỗ trợ trưng bày chuyên đề các sưu tập có giá trị tiêu biểu về di sản văn hóa Việt Nam tại các bảo tàng có uy tín trên thế giới; có chính sách hoàn thuế cho tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng dịch vụ quay phim tại Việt Nam đối với những bộ phim góp phần quảng bá đất nước, con người, du lịch Việt Nam. Đây là những công cụ chính sách rất cụ thể để xây dựng năng lực kể chuyện quốc gia. Trong thế giới ngày nay, một bộ phim, một triển lãm, một sản phẩm thiết kế, một trò chơi điện tử, một show diễn, một lễ hội, một bảo tàng, một tác phẩm âm nhạc, một tour du lịch văn hóa có thể làm cho thế giới biết đến Việt Nam sâu sắc hơn nhiều bài giới thiệu đơn thuần.

Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, nhiều quốc gia đã xây dựng sức mạnh mềm bằng cách hỗ trợ sản phẩm văn hóa ra thế giới: điện ảnh, âm nhạc, ẩm thực, thời trang, thiết kế, xuất bản, bảo tàng, trò chơi, du lịch trải nghiệm. Việt Nam có nhiều chất liệu đặc sắc, nhưng chất liệu không tự biến thành sức mạnh mềm nếu thiếu chiến lược kể chuyện, thiếu đầu tư sản xuất, thiếu kênh phân phối, thiếu bản quyền, thiếu marketing quốc tế và thiếu sự liên kết giữa Nhà nước với doanh nghiệp. Nghị quyết đã bắt đầu đặt nền cho quá trình ấy bằng các công cụ hỗ trợ quảng bá, xúc tiến và phát triển thị trường.

Nội dung cuối cùng cần phân tích trong mục này là Quỹ văn hóa, nghệ thuật. Điều 11 quy định Nhà nước thí điểm thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật ở trung ương và một số địa phương; Quỹ hoạt động theo mô hình hợp tác công tư, là quỹ đầu tư mạo hiểm, hoạt động theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận khả năng rủi ro, bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, chống thất thoát, lãng phí vốn; thời gian thí điểm tối đa đến hết năm 2035. Đây là một chính sách rất mới và có thể tạo ra thay đổi quan trọng trong tài chính văn hóa.

Từ trước đến nay, tài chính cho văn hóa thường dựa vào hai nguồn chính: ngân sách nhà nước và nguồn thu thị trường. Nhưng giữa hai nguồn đó còn một khoảng trống rất lớn. Nhiều dự án văn hóa có giá trị sáng tạo, tác động xã hội, tiềm năng thương mại nhưng chưa đủ an toàn để ngân hàng cho vay, chưa đủ lợi nhuận nhanh để nhà đầu tư thương mại quan tâm, và cũng không thuộc diện ngân sách cấp phát thường xuyên. Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình đầu tư mạo hiểm có thể lấp khoảng trống đó, tài trợ, hỗ trợ, đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, chương trình, dự án văn hóa, nghệ thuật có tính sáng tạo đột phá, có tiềm năng thị trường, khả năng thương mại, lan tỏa và tác động xã hội mà không được ngân sách nhà nước cấp kinh phí.

Tư duy “chấp nhận khả năng rủi ro” là điểm rất quan trọng. Sáng tạo luôn có rủi ro. Không phải bộ phim nào cũng thành công, không phải dự án nghệ thuật nào cũng có khán giả lớn, không phải startup văn hóa nào cũng tồn tại, không phải mô hình mới nào cũng nhân rộng được. Nhưng nếu không chấp nhận rủi ro có kiểm soát, sẽ không có đột phá. Quỹ văn hóa, nghệ thuật nếu được thiết kế tốt có thể trở thành “vốn mồi” cho sáng tạo, giúp Nhà nước chuyển từ cấp phát sang đầu tư, từ hỗ trợ bị động sang kích hoạt hệ sinh thái, từ tư duy bao cấp sang tư duy đồng hành với sáng tạo.

Dẫu vậy, đây cũng là chính sách cần được quản trị rất chặt chẽ. Quỹ đầu tư mạo hiểm trong văn hóa phải có cơ chế lựa chọn dự án minh bạch, hội đồng chuyên môn và tài chính độc lập, tiêu chí đánh giá rõ ràng, cơ chế công khai, kiểm toán, phòng chống lợi ích nhóm, tránh biến quỹ thành nguồn hỗ trợ xin - cho trá hình. Đồng thời, cần chấp nhận rằng hiệu quả của quỹ không chỉ đo bằng lợi nhuận tài chính, mà còn bằng tác động xã hội, năng lực ươm tạo tài năng, khả năng tạo sản phẩm mới, khả năng mở thị trường, khả năng lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam.

Từ toàn bộ nội dung trên, có thể thấy Nghị quyết đã kết nối ba tầng phát triển của văn hóa: tầng cội nguồn là di sản, văn hóa dân tộc thiểu số, nghệ thuật truyền thống, bảo vật quốc gia; tầng chủ thể là nghệ nhân, nghệ sĩ, vận động viên, người sáng tạo, doanh nghiệp, cộng đồng; tầng lan tỏa là quảng bá quốc tế, công nghiệp văn hóa, thị trường sáng tạo, quỹ đầu tư và sức mạnh mềm quốc gia. Ba tầng ấy không tách rời nhau. Không có cội nguồn, sáng tạo dễ mất phương hướng. Không có chủ thể, di sản chỉ còn là ký ức tĩnh. Không có lan tỏa, văn hóa khó trở thành nguồn lực phát triển. Nghị quyết có giá trị chính ở chỗ đã đặt ba tầng ấy vào một chỉnh thể chính sách tương đối thống nhất.

Kết luận
Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam được Quốc hội thông qua là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình thể chế hóa đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Giá trị nổi bật của Nghị quyết không chỉ nằm ở việc tiếp tục khẳng định vai trò của văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia, mà quan trọng hơn, đã từng bước chuyển những nhận thức ấy thành cơ chế, chính sách cụ thể, có khả năng tác động trực tiếp đến đời sống văn hóa, hoạt động sáng tạo, thị trường văn hóa và năng lực tổ chức thực hiện ở các cấp.

Từ việc xác lập ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước, khuyến khích huy động nguồn lực xã hội, hình thành cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa và tổ hợp sáng tạo văn hóa, đến các chính sách ưu đãi thuế, đất đai, đặt hàng sáng tạo, khoán chi, phát triển hạ tầng văn hóa số, bảo vệ chủ quyền văn hóa số, thí điểm Quỹ văn hóa, nghệ thuật, Nghị quyết đã phác thảo một hệ sinh thái chính sách tương đối toàn diện cho phát triển văn hóa Việt Nam. Điều đó cho thấy văn hóa không còn chỉ được nhìn như một lĩnh vực cần chăm lo bằng tình cảm và trách nhiệm, mà đã được đặt trong tư duy phát triển hiện đại: có đầu tư, có thị trường, có nhân lực, có công nghệ, có bản quyền, có sản phẩm, có không gian sáng tạo, có cơ chế tài chính và có trách nhiệm giải trình.

Ở chiều sâu hơn, Nghị quyết góp phần khắc phục một điểm nghẽn kéo dài trong phát triển văn hóa: khoảng cách giữa nhận thức đúng và điều kiện thực thi. Chúng ta đã có nhiều chủ trương lớn, nhiều quan điểm sâu sắc, nhiều định hướng đúng đắn về văn hóa; nhưng để văn hóa thật sự trở thành động lực phát triển, cần phải có nguồn lực tương xứng, cơ chế phù hợp và phương thức quản trị hiệu quả. Nghị quyết chính là một bước đi quan trọng để thu hẹp khoảng cách đó. Khi văn hóa được bảo đảm bằng ngân sách tối thiểu, được khuyến khích bằng ưu đãi đầu tư, được nâng đỡ bằng chính sách nhân lực, được mở rộng bằng chuyển đổi số, được tiếp sức bằng quỹ văn hóa, được lan tỏa bằng quảng bá quốc tế, thì văn hóa có thêm điều kiện để đi từ giá trị tinh thần thành nguồn lực phát triển thực sự.

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng Nghị quyết mới là điểm khởi đầu của một quá trình dài. Một văn bản chính sách dù tiến bộ đến đâu cũng chỉ thực sự có giá trị khi được thực thi một cách nghiêm túc, sáng tạo, minh bạch và hiệu quả. Thách thức lớn nhất trong thời gian tới không chỉ là ban hành các văn bản hướng dẫn, mà là tổ chức thực hiện để các cơ chế của Nghị quyết không bị hành chính hóa, không bị dàn trải, không bị biến thành phong trào hình thức, không rơi vào tình trạng “chính sách tốt nhưng triển khai chậm”. Chính phủ, Bộ VHTTDL, các bộ, ngành liên quan, chính quyền địa phương, các thiết chế văn hóa, cộng đồng nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo, giới trí thức, trường đại học, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và Nhân dân cần cùng tham gia vào quá trình này như những chủ thể đồng kiến tạo.

Có thể nói, Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam là một bước chuyển quan trọng từ “văn hóa trong nhận thức” sang “văn hóa trong thể chế”, từ “văn hóa như mục tiêu” sang “văn hóa như nguồn lực vận hành”, từ “văn hóa được bảo tồn” sang “văn hóa được sáng tạo, lan tỏa và tạo giá trị”. Nghị quyết cũng phản ánh tinh thần đổi mới tư duy lập pháp trong giai đoạn mới: pháp luật không chỉ để quản lý cái đã có, mà còn phải mở đường cho cái mới; không chỉ điều chỉnh hiện thực, mà còn kiến tạo tương lai. Với văn hóa, kiến tạo tương lai chính là tạo điều kiện để di sản được hồi sinh, tài năng được trọng dụng, sáng tạo được bảo vệ, công nghiệp văn hóa được phát triển, không gian số được làm chủ và hình ảnh Việt Nam được lan tỏa bằng những câu chuyện hấp dẫn, nhân văn, có chiều sâu.

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phát triển văn hóa không phải là nhiệm vụ riêng của ngành Văn hóa, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Văn hóa phải thấm vào quy hoạch, giáo dục, kinh tế, đô thị, nông thôn, du lịch, khoa học công nghệ, đối ngoại, truyền thông và đời sống hằng ngày của mỗi người dân. Khi văn hóa trở thành cách nghĩ, cách làm, cách tổ chức phát triển, đất nước sẽ có thêm chiều sâu để đi xa, có thêm bản lĩnh để hội nhập, có thêm sức hấp dẫn để kết nối với thế giới và có thêm nền tảng tinh thần để phát triển nhanh mà bền vững.

Vì vậy, thành công của Nghị quyết không chỉ được đo bằng việc bao nhiêu chính sách được ban hành, bao nhiêu công trình được đầu tư hay bao nhiêu chương trình được tổ chức, mà phải được đo bằng sự chuyển động thực chất của đời sống văn hóa Việt Nam: thiết chế văn hóa cơ sở sống động hơn; nghệ sĩ, nghệ nhân, người sáng tạo được trân trọng hơn; di sản được bảo vệ và phát huy tốt hơn; công nghiệp văn hóa đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế; văn hóa số lành mạnh và sáng tạo hơn; người dân được hưởng thụ văn hóa công bằng hơn; và Việt Nam được thế giới biết đến không chỉ như một đất nước anh hùng trong lịch sử, năng động trong phát triển, mà còn như một quốc gia có bản sắc sâu sắc, trí tuệ sáng tạo và khát vọng nhân văn.

Đó là đích đến cao nhất của Nghị quyết: làm cho văn hóa trở thành sức mạnh bên trong của dân tộc, nguồn năng lượng tinh thần của phát triển, nền tảng xây dựng con người Việt Nam toàn diện và động lực để đất nước tự tin bước vào tương lai.


 
[1] https://cand.com.vn/su-kien-binh-luan-thoi-su/tong-bi-thu-to-lam-luat-khong-chi-mo-duong-ma-con-phai-sua-duong-i801686/
[2] https://cand.com.vn/su-kien-binh-luan-thoi-su/tong-bi-thu-to-lam-luat-khong-chi-mo-duong-ma-con-phai-sua-duong-i801686/
[3] https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-hoi-nghi-quan-triet-trien-khai-nghi-quyet-hoi-nghi-trung-uong-2-khoa-xiv-119260413122329051.htm
[4] https://cand.com.vn/su-kien-binh-luan-thoi-su/tong-bi-thu-to-lam-luat-khong-chi-mo-duong-ma-con-phai-sua-duong-i801686/
[5] https://baovanhoa.vn/chinh-tri/dat-phat-trien-van-hoa-xa-hoi-va-xay-dung-con-nguoi-ha-tinh-o-vi-tri-nen-tang-221496.html
[6] https://tapchitoaan.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-giu-gin-van-hoa-cac-dan-toc-la-giu-gin-nen-tang-tinh-than-cua-xa-hoi-cung-co-khoi-dai-doan-ket-toan-dan15391.html