Gom chu dau 15_result.jpg
Ảnh minh họa

Nước ta có nhiều ngày Tết như: Thượng nguyên, Trung nguyên, Hạ nguyên, Thanh minh, Đoan ngọ, Trung thu… trong đó Tết Nguyên đán (Tết cả, tết đầu năm) là Tết quan trọng nhất, chứa đựng và mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc bởi có nhiều phong tục đẹp như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc Tết, du Xuân, mừng thọ… Trải qua bao biến động của lịch sử, của thời gian, đã có nhiều truyền thống bị mai một nhưng có một giá trị truyền thống vẫn được người Việt lưu giữ từ xa xưa cho tới bây giờ đó là tục gói bánh chưng ngày Tết. 

Theo truyền thuyết “Bánh chưng, bánh dầy”, vào đời Hùng Vương thứ 6, nhân dịp giỗ tổ, Vua Hùng đã triệu tập các quan lang (các con của nhà vua) đến và truyền rằng: vị quan lang nào tìm được món lễ vật dâng lên tổ tiên hợp ý với nhà vua sẽ được nhà vua nhường ngôi. Các vị quan lang lên rừng, xuống biển tìm châu ngọc và các sản vật quý để làm lễ vật dâng lên nhà vua. Lang Liêu là người nghèo khó nhất trong số các vị quan lang, chàng không thể tìm những sản vật quý hiếm về dâng vua cha, chàng đã dùng những nông sản thường ngày gồm gạo nếp, đỗ xanh, thịt lợn và lá dong để tạo ra hai loại bánh chưng và bánh dầy tượng trưng cho trời và đất làm lễ vật dâng vua. Lễ vật của Lang Liêu rất hợp ý Vua Hùng và vua đã truyền ngôi cho Lang Liêu. Từ đó bánh chưng, bánh dầy đã trở thành lễ vật không thể thiếu trong các nghi thức thờ cúng tổ tiên, để thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn đối với tiên tổ. Nó không chỉ đơn thuần là vật chất, là loại bánh, món ăn giàu dinh dưỡng mà còn là văn hóa tinh thần chứa đựng triết lý sâu sắc về vũ trụ, nhân sinh, âm dương, ngũ hành.

Bánh chưng được làm từ sản phẩm nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi): gạo nếp (âm); đậu xanh, thịt lợn (dương); gia vị (hạt tiêu, muối). Tất cả những thứ ấy được gói lại bằng lá dong hay lá chuối tạo nên một tổng thể vuông vức, được buộc chặt bằng dây lạt mềm mại. Khi luộc chín cắt bánh chưng ra, 5 màu sắc tượng trưng cho ngũ hành trong triết lý phương Đông: Màu vàng ngà của nhân đậu xanh bùi ngậy thoảng hương thơm ứng với hành thổ trong thế đất vuông nằm ở trung tâm, màu đỏ hồng của thịt lợn chín tương ứng với hành hỏa, màu trắng ngần của gạo nếp dẻo thơm ứng với hành kim, màu xanh biếc của lá dong hay lá chuối tương ứng với hành mộc và chấm đen của hạt tiêu tương ứng với hành thủy. 

Triết lý âm dương, ngũ hành còn được thể hiện cả trong quá trình gói bánh và luộc bánh: Gạo nếp làm vỏ hình vuông bên ngoài là âm, bao bọc bên trong nhân bánh hình tròn (đậu xanh, thịt heo) là dương. Khi luộc bánh phải dùng nồi kim loại lớn (kim), xếp bánh vào nồi rồi đổ nước (thủy), lửa (hỏa) được đốt từ củi (mộc), bếp được đắp từ đất (thổ). Cả 5 yếu tố trên luôn bổ trợ cho nhau, hài hòa bên nhau.

Thông thường, các gia đình Việt có thói quen gói bánh từ khoảng 26 tháng chạp trở đi.  Đây là khoảng thời gian kết thúc công việc sau một năm vất vả để chuẩn bị mọi thứ cho ngày Tết. Và việc công việc đầu tiên là chuẩn bị cho nồi bánh chưng. Người thì đi chợ chọn mua thịt lợn, người thì ngâm gạo, người rửa lá dong, đãi đậu xanh, người thì chẻ lạt… Bởi muốn có được những chiếc bánh vuông đẹp, chín rền, xanh ngon để đặt lên bàn thờ cúng ông bà tổ tiên, thành kính nhớ về cội nguồn thì phải chuẩn bị nguyên liệu thật chu đáo, gạo ngâm đãi thật kỹ, đậu xanh đồ vừa chín tới, thịt có cả nạc, bì, mỡ, ướp đủ gia vị.  Khi những vật dụng được chuẩn bị đầy đủ, cả nhà cùng quây quần gói bánh, luộc bánh. Tuy bận rộn, tất bật nhưng ai nấy đều vui vẻ, nói cười rôm rả. 

Với nhiều thế hệ, chiếc bánh chưng tượng trưng cho niềm hân hoan của ngày Tết sum họp, đoàn viên. Có những gia đình, các con đều đi làm và học tập xa nhà, chỉ có dịp Tết mới được trở về với gia đình. Và trong cái thời tiết giá lạnh của những ngày cuối năm, các thành viên cùng ngồi quây quần bên bếp lửa hồng trông nồi bánh chưng xanh đang sôi sùng sục, làn khói bay lên hòa quyện với mùi vị đặc trưng của hương nếp, lá dong. Những câu chuyện về cuộc sống thường ngày, những niềm vui, nỗi buồn được hàn huyên, chia sẻ quanh nồi bánh, tình thân được gắn kết bền chặt hơn, tạo nên không khí đầm ấm, đồng thời nhắc nhở con cháu gìn giữ nét đẹp truyền thống quý giá của cha ông mình. 

Ngày xưa, bánh chưng chỉ có mặt trong dịp Tết cổ truyền. Ngày nay, bánh chưng có trong thực đơn mâm cỗ ở tất cả các dịp giỗ chạp, cưới hỏi, hội hè... Hình ảnh chiếc bánh chưng trên mâm cỗ thể hiện sự biết ơn trời đất đã cho mưa thuận gió hòa để mùa màng bội thu đem lại cuộc sống ấm no cho con người. Bên cạnh đó, chiếc bánh chưng xanh còn gợi cho người ta nhớ đến niềm mơ ước an cư lạc nghiệp của con người: nhân đỗ vàng, thịt mỡ chín… là màu đồng quê, khẳng định tầm quan trọng của cây lúa và thiên nhiên trong nền văn minh nông nghiệp lúa nước.

Trong xã hội hiện đại ngày nay, con người bị cuốn theo bộn bề công việc làm phai nhạt dần những phong tục, tập quán tốt đẹp, hoặc ít có dịp quan tâm đến nhau. Vì vậy, việc gói bánh chưng trong dịp Tết Nguyên đán chính là dịp để ông bà, bố mẹ và con cháu sum vầy trước không khí rạo rực của mùa Xuân. Dù dù có đi đâu, ở đâu, người dân con cháu Lạc Hồng cũng không bao giờ thiếu chiếc bánh chưng xanh trong mâm cỗ Tết cổ truyền để cúng gia tiên. Có thể nói, bánh chưng trong tâm thức người Việt là truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” hay đơn giản chỉ là bữa cơm gia đình sum họp ấm áp trong những ngày đầu năm mới. Bánh chưng ngoài ý nghĩa về mặt dinh dưỡng, về văn hóa ẩm thực, còn là nét đẹp trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Nét văn hóa ấy đã trở thành một giá trị truyền thống trường tồn mãi với thời gian, ngấm vào máu thịt và tâm trí của những người con đất Việt mỗi khi Tết đến Xuân về.

 Tản văn của MAI DIÊN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 631, tháng 1-2026