
Thực tế, cuộc sống của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thời kỳ ở Pác Bó rất kham khổ: “Ở trong hang không khí ẩm thấp lắm, nhất là ngày mưa, nước thường nhỏ giọt theo nhũ đá xuống nền hang lách tách không bao giờ ngớt... Mưa lớn, nước giỏ lênh láng cả vào chỗ Già Thu nằm... Người sống rất giản dị và kham khổ. Nước lá ổi thay chè, và cải soong là thức ăn chủ yếu. Ngày ấy đồng bào quanh vùng ăn độn bắp, mọi người trong cơ quan cũng ăn độn bắp. Riêng “Đồng chí già” tuổi cao, sức yếu, chúng tôi mua gạo nấu riêng cho Người ăn, nhưng Người không đồng ý” (1). Nhưng với cảnh núi rừng hùng vĩ của Pác Bó - mảnh đất tự do đầu tiên của Tổ quốc và đặc biệt là tinh thần, tình cảm cách mạng của đồng bào các dân tộc nơi đây, cảm hứng thơ đầu tiên đã đến với Người. Hai tác phẩm tiêu biểu là Pác Bó Hùng vĩ và Tức cảnh Pác Bó là hai sáng tác rất đẹp về nội dung và hình thức nghệ thuật.
“Non xa xa nước xa xa
Nào phải thênh thang mới gọi là
Đây suối Lênin kia núi Mác
Hai tay xây dựng một sơn hà”
(Pác Bó hùng vĩ)

Từ bức tranh sơn thủy, có non, có nước, có cảnh vật và con người hòa hợp trong góc nhìn từ viễn cảnh đến cận cảnh, nhà cách mạng đại tài Nguyễn Ái Quốc đã thổi vào đấy tinh thần cách mạng tiến công: Từ nơi đầu nguồn này, dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhất định “sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta”, nhất định non sông sẽ thu về một mối thống nhất. Chủ nghĩa Mác- Lênin là kim chỉ nam, là ánh sáng soi rọi cho sự phát triển của phong trào cách mạng, và Pác Bó - Cao Bằng là nơi Hồ Chí Minh cùng với những đồng chí, những học trò của mình bắt tay ngay vào tổ chức đồng bào cùng hành động để thực hiện những gì mà suốt 30 năm trước đó Người từng ấp ủ và mong đợi. Cho nên, hình ảnh của người chiến sĩ cách mạng hiện lên trong một tư thế chủ động, rất ung dung, tràn đầy tinh thần lạc quan cách mạng:
“Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời Cách mạng thật là sang”
(Tức cảnh Pác Bó)
Qua lời thơ, những gian khổ được cảm thụ như nhẹ nhàng hơn, tự nhiên hơn và nếp sống giản dị “cháo bẹ, rau măng” không hề làm giảm sút đến ý chí và tinh thần làm việc của người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh. Nơi đầu nguồn Pác Bó, Người đã tiến hành những hoạt động cách mạng sôi nổi, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước. Người mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ cách mạng, trực tiếp bắt tay thực hiện chương trình thí điểm của Việt Minh, tổ chức các Hội Cứu quốc. Đặc biệt, nơi đây cũng ghi dấu ấn một sự kiện đặc biệt: Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám (tháng 5-1941), cùng với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược của Đảng, trực tiếp góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Ngay sau việc chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ tám và Mặt trận Việt Minh ra đời, ngày 6-6-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc viết thư “Kính cáo đồng bào” gửi toàn thể dân chúng. Đồng chí Hoàng Quốc Việt (Thành viên của Hội nghị Trung ương lần thứ tám) kể lại: “Bức thư ấy, Bác viết bằng chữ nôm, chữ viết đẹp lắm, chúng tôi có đem về xuôi, in đá li tô, phát đi rất rộng. Nghĩ cũng lạ, bao nhiêu năm sống ở nước ngoài, đi khắp nơi, công tác rất bận, vậy mà Bác vẫn còn nhớ chữ nôm của các cụ ta. Lại rất sát tâm lý đồng bào nông thôn. Đồng bào nông thôn ta được đọc thư Bác viết bằng chữ nôm như thế, nhất là các cụ phụ lão, gật gù thích lắm, càng thêm tin tưởng” (2).
Bôn ba tìm đường cứu nước và hoạt động ròng rã 30 năm trời ở khắp các xứ người, chịu bao vất vả, khổ cực, hiểm nguy, ngay khi về nước, để tranh thủ lực lượng cho cuộc đấu tranh phá bỏ gông cùm thoát đời nô lệ, đối tượng nhân dân mà nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc kêu gọi lại là các bậc phụ huynh, các bậc hiền nhân, chí sĩ, các bạn sĩ, nông, công, thương. Điều này cho thấy, chắc chắn, tác giả của “Kính cáo đồng bào” không chỉ là nhà cách mạng vô sản đơn thuần với lý luận đấu tranh giai cấp mà Người luôn biết quan tâm đến các giai tầng để tranh thủ lực lượng đoàn kết toàn dân. Người chỉ rõ hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: “Toàn dân đoàn kết... Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng...”. Cuối thư, Người kêu gọi:
“Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên!
Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật!
Việt Nam cách mạng thành công muôn năm!
Thế giới cách mạng thành công muôn năm!”.
Sau bức thư gửi đồng bào, Nguyễn Ái Quốc soạn thảo bài diễn ca “Mười chính sách của Việt Minh” để tiếp tục triển khai nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ tám. Bằng lối viết văn vần ngắn gọn, súc tích, Người chỉ ra mục tiêu đấu tranh của Việt Minh: “Quyết làm cho nước non này - Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền”. Nêu rõ vai trò to lớn của mười chính sách, Người viết: “Có mười chính sách bày ra - Một là ích nước, hai là lợi dân”. Với 46 câu thơ lục bát, bài diễn ca đã trình bày đúng những nội dung cơ bản về chính sách của Việt Minh về chính trị, về kinh tế, về văn hóa giáo dục, chính sách cụ thể đối với các tầng lớp Nhân dân nhưng tập trung nhiều vào chính sách xã hội, việc quyền xóa bỏ “bao nhiêu thuế ruộng, thuế thân”, thực hiện quyền tự do cho Nhân dân được “hội hè, tín ngưỡng, báo chương, họp hành, đi lại…” và những chính sách cụ thể đối với các tầng lớp Nhân dân… Diễn ca không nhắc đến chính sách kinh tế, ngoại giao. Đó chính là một sự tinh tế đến hợp lý của tác giả. Bởi tài liệu này chủ yếu để tuyên truyền giáo dục Nhân dân, cho nên những vấn đề nêu ra phải cụ thể, thiết thực với đồng bào ở thời điểm ấy.
Trong thời gian tại Pác Bó - Cao Bằng, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã dịch sách Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô từ tiếng Nga sang tiếng Việt để phổ biến kinh nghiệm tổ chức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô cho cán bộ và Nhân dân ta hiểu thêm và học tập. Cuốn sách này được Bác dịch từ lúc còn ở Trung Quốc và là tài liệu rất có ích bồi dưỡng kiến thức về xây dựng Đảng và phương pháp tổ chức lãnh đạo Nhân dân đấu tranh cách mạng. Trong hồi ký của mình, đồng chí Vũ Anh cũng kể lại: “Hôm mới đến, Bác ở một thung lũng vùng núi Lam Sơn. Được một tháng sau, chúng tôi dọn lên đồn nhà Mạc. Và cứ thế sau một thời gian ngắn, Bác lên tận cơ sở đồng bào Mán trắng. Tại đây Bác dịch xong cuốn “Lịch sử Đảng Cộng sản (b) Liên Xô”. Bác bảo chúng tôi: Hôm nay ta sẽ ăn mừng. Chúng tôi ai nấy đều rất phấn khởi, vui mừng, vì Bác đã hoàn thành xong một công việc, có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác”(3).
Những năm tháng ở Pác Bó cũng là quãng thời gian, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh từng bước hoàn chỉnh qua việc Người nghiên cứu, biên soạn các trước tác quân sự đầu tiên, làm tiền đề tư tưởng, lý luận cho việc xây dựng nền khoa học và nghệ thuật quân sự của cách mạng Việt Nam. Tháng 11-1941, sau khi quyết định thành lập đội vũ trang đầu tiên của Cao Bằng, Người biên soạn Mười điều kỷ luật và Chiến thuật cơ bản của du kích cho các đội viên học tập và trực tiếp huấn luyện cho họ. Ông Lê Quảng Ba, một thành viên của lớp huấn luyện kể lại: “Đội chúng tôi được chăm lo rất chu đáo. Bác biên soạn Mười điều kỷ luật và Chiến thuật cơ bản của du kích cho chúng tôi học tập. Người còn đích thân tham gia việc huấn luyện”(4). Cùng với những tác phẩm gắn với chính trị của Đảng, của dân tộc, trên “bàn đá chông chênh”, Nguyễn Ái Quốc viết cuốn sách Cách đánh du kích. Mỗi chương, mỗi cách đánh đều có sự hướng dẫn sâu sắc, cụ thể, khiến cuốn sách là cả một chương trình huấn luyện, là cẩm nang cho các nhà lãnh đạo chiến tranh du kích và cho từng du kích quân. Tác phẩm được phổ biến trong các đoàn thể cách mạng thời kỳ 1941-1945. Tháng 5-1944, Cách đánh du kích được Tổng bộ Việt Minh xuất bản và phát hành rộng rãi, ngoài bìa sách ghi Chiến thuật du kích. Cuốn sách được dùng làm tài liệu huấn luyện tại các trường quân - chính ở Việt Bắc trong những ngày chuẩn bị cuộc Cách mạng Tháng Tám.
Để nghiên cứu và hiểu biết thêm những kinh nghiệm quân sự Trung Quốc đồng thời để làm tài liệu nghiên cứu cho cán bộ ta trong căn cứ cách mạng, với vốn chữ Hán uyên thâm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã dịch cuốn Phép dùng binh của ông Tôn Tử’ từ chữ Hán cổ sang tiếng Việt. Người nhận định: “Ông Tôn Tử là một người quân sự có tiếng nhất ở Trung Quốc. Ông sinh ra hơn 2000 năm trước. Ngày nay chẳng những trường học Trung Quốc, mà những trường học quân sự các nước cũng lấy phép này làm gốc và ra sức nghiên cứu. Vì phép ông Tôn Tử tuy đã rất lâu đời nhưng những nguyên tắc đến nay vẫn là rất đúng”(5). Tuy nhiên, đáng chú ý là, đối với những tài liệu quân sự thời cổ đại Trung Quốc, Người không dịch “nguyên xi” mà chọn lọc nội dung phù hợp với Việt Nam, kết hợp với kinh nghiệm chiến tranh hiện đại để các chiến sĩ ta áp dụng có hiệu quả trong chiến đấu. Chính vì vậy, Người đã tóm lược pho binh thư nổi tiếng thời Xuân Thu Trung Quốc thành một cuốn sách nhỏ bỏ túi vẻn vẹn có 74 trang mà vẫn nêu được cái “chất”, cái “thần” của “Tôn Tử Binh Pháp” kèm theo những lời bình xác đáng. Người còn viết tài liệu Cách huấn luyện cán bộ của ông Khổng Minh giới thiệu kinh nghiệm khiển tướng của Gia Cát Lượng thời Tam Quốc; tác phẩm Kinh nghiệm du kích Tàu nêu một số trận đánh du kích tiêu biểu của Nhân dân Trung Quốc chống quân xâm lược Nhật; Kinh nghiệm du kích Nga, Kinh nghiệm du kích Pháp…
Đồng thời với việc biên soạn tài liệu huấn luyện, Nguyễn Ái Quốc chủ trương xuất bản báo Việt Nam Độc lập và cho đến trước khi ra nước ngoài (tháng 8-1942), Người trực tiếp chỉ đạo viết bài, duyệt bài, lấy tin và in báo. Mục đích của báo Việt Nam độc lập như Nguyễn Ái Quốc đã nêu rõ: “cốt làm cho dân ta hết ngu hèn, biết các việc, biết đoàn kết, đặng đánh Tây, đánh Nhật, làm cho Việt Nam độc lập, bình đẳng, tự do”(6). Những bài viết của Người thường là thơ và có tranh minh họa đều nhằm vào việc khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc của mỗi người. Không chỉ là những lời kêu gọi mạnh mẽ, thiết tha, Người đã suy nghĩ và sáng tạo nhiều hình tượng thơ độc đáo, nhiều liên tưởng đẹp đẽ để thể hiện tư tưởng đoàn kết là sức mạnh, qua các bài thơ Ca sợi chỉ, Con cáo và tổ ong, Hòn đá… Cho nên, những hình ảnh bông hoa, sợi chỉ, tấm vải, con cáo, tổ ong, hòn đá… đều gần gũi, trực tiếp với đời sống hằng ngày của quần chúng Nhân dân. Điều đó một lần nữa lại cho thấy phương pháp tuyên truyền của Hồ Chí Minh đã đạt đến nghệ thuật tuyệt vời của việc đi sâu vào từng ngõ ngách tâm hồn mỗi người dân: “đồng bào địa phương rất thích đọc báo, vì báo viết gì, nói gì cũng thấm thía với họ”. Một người dân không biết chữ, với trình độ dân trí vừa phải (có thể là thấp) song nghe qua một vài lần là có thể nhớ ngay, thuộc ngay được. Đây chính là những dấu ấn văn hóa chủ thể Hồ Chí Minh không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam.

Bên cạnh những vần thơ đó, Pác Bó, Cao Bằng còn được đón nhận một bài ca của Hồ Chí Minh viết về lịch sử nước ta từ thời vua Hùng dựng nước đến năm 1945. Đó là tác phẩm Lịch sử nước ta xuất bản lần đầu vào tháng 2-1942, là tác phẩm có giá trị đặc biệt đứng về phương diện sử học bởi đây là lần đầu tiên lịch sử Việt Nam được đánh giá theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin. Tác giả Nguyễn Ái Quốc đã nêu lên những quan điểm mới có tính nguyên tắc chỉ đạo làm phong phú thêm kho tàng tư tưởng lý luận của Đảng. Người đã khái quát và coi lịch sử là một nguồn tư liệu vô giá, là động lực góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Hồ Chí Minh - Người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất dù ở bất kỳ cương vị nào, người chiến sĩ cách mạng, người tù cộng sản, người lãnh đạo, nhà văn hóa, nhà ngoại giao, vị tổng chỉ huy hay là một vị chính khách nổi tiếng, thì vẫn luôn hiển hiện một Hồ Chí Minh - biểu tượng của văn hóa, cốt cách, nhân cách, trí tuệ và tâm hồn Việt. Chỉ có khoảng hơn một năm hoạt động ở Pác Bó, Cao Bằng với bao khó khăn thiếu thốn và bộn bề công việc vì nước vì dân, thế nhưng vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta đã tranh thủ thời gian, bằng cả sức lực và trí tuệ của mình để viết, để dịch các tác phẩm thơ, ca phục vụ nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đặc biệt của vận động giải phóng dân tộc. Những tác phẩm lịch sử văn hóa đó của Hồ Chí Minh đã làm nên những dấu ấn đậm nét cho lịch sử Việt Nam nói chung và Cao Bằng nói riêng.
_______________
1, 2, 3, 4. Dương Đại Lâm kể, trích từ sách: Đầu nguồn (Hồi ký về Bác Hồ), Nxb Văn học, Hà Nội, 1975, tr.359-361, 175, 260-261, 215.
5. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 3, tr.557.
6. Báo Việt Nam độc lập, số 101, 1-8-1941.