Tóm tắt: Nghệ thuật sử dụng sáp ong trong sáng tạo hình ảnh là một kỹ thuật thủ công đã tồn tại từ thời Cổ đại, trải qua nhiều giai đoạn phát triển và biến đổi hình thức. Trong lịch sử, sáp ong không chỉ được biết đến như một vật liệu tự nhiên với nhiều công dụng trong đời sống mà còn giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực nghệ thuật trang trí. Trên thế giới, nghệ thuật vẽ sáp ong khá phổ biến, đặc biệt tại những khu vực có bề dày văn hóa truyền thống. Việc phân tích đặc trưng nghệ thuật sáp ong của người Mông và đặt trong bối cảnh đối sánh với các hình thức nghệ thuật sử dụng sáp của một số cộng đồng khác trên thế giới. Có thể thấy nghệ thuật sáp ong Mông có sự tương đồng về kỹ thuật với một số nền thủ công quốc tế, song vẫn mang những đặc điểm bản địa riêng biệt về tạo hình và biểu tượng. Bài viết đề xuất cách nhìn liên văn hóa nhằm mở rộng tiềm năng ứng dụng nghệ thuật dân gian này trong thiết kế thời trang đương đại, đồng thời, góp phần vào công cuộc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng người Mông.
Tóm tắt: Việt Nam đang cùng các nước trong khu vực và quốc tế bước vào kỷ nguyên của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 với những ảnh hưởng và tác động lớn trong đời sống, kinh tế xã hội. Sự xuất hiện của các công nghệ mới đặt ra những yêu cầu thực tiễn đối với các trường đại học tại Việt Nam nói chung và Trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM nói riêng trong việc đào tạo nguồn nhân lực mỹ thuật theo xu hướng STEAM - một mô hình giáo dục hiện đại, trong đó, Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật, Nghệ thuật và Toán học... cũng được sử dụng để giảng dạy và hướng dẫn, giúp người học hiểu được sự liên quan giữa các khối kiến thức và có thể vận dụng tốt vào thực tế học tập và thực hành nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp.
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu hình tượng voi - linh vật quen thuộc nhưng ít được phân tích chuyên sâu về ngôn ngữ tạo hình và giá trị thẩm mỹ. Trên cơ sở tiếp cận mỹ thuật học kết hợp biểu tượng học, nghiên cứu định tính sử dụng hai phương pháp: tổng hợp - phân tích tý liệu và phân tích hình thức - phong cách, tập trung vào các yếu tố khối, tỷ lệ, bố cục và chi tiết. Kết quả cho thấy tượng voi được thể hiện bằng ngôn ngữ khối khái quát, cô đọng, thể hiện vẻ vững chãi, hiền hòa và linh thiêng. Sự khác biệt vùng miền tạo nên phong cách đa dạng: voi lăng Thiệu Trị - trang nghiêm, voi Champa - mềm mại sinh động, voi đình Hoàng Mai - cung kính, voi Hoằng Xá - linh hoạt. Nghiên cứu khẳng định biểu cảm khối là yếu tố trung tâm thể hiện giá trị thẩm mỹ - biểu tượng, góp phần làm sáng tỏ giá trị nghệ thuật bền vững của điêu khắc truyền thống Việt Nam.
Nhân dịp kỷ niệm 955 năm thành lập Văn Miếu (1070–2025) và 950 năm Quốc Tử Giám (1076–2026), chào đón năm mới 2026, tối ngày 30-12-2025, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức Triển lãm nghệ thuật “Đạo học ngàn năm”, nhằm tôn vinh truyền thống hiếu học, tinh thần tôn sư trọng đạo và những giá trị bền vững của nền giáo dục Việt Nam.
Tóm tắt: Chuông đồng Phật giáo thời Nguyễn - một di sản văn hóa quan trọng tại Việt Nam với giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ độc đáo, phản ánh triết lý cũng như tinh thần Phật giáo của triều đại nhà Nguyễn (1802-1945). Chuông đồng thời kỳ này không chỉ là công cụ nghi lễ mà còn là biểu tượng văn hóa tâm linh, thể hiện sự hòa quyện giữa nghệ thuật tạo hình và triết lý Phật giáo. Khám phá bối cảnh lịch sử, văn hóa triều Nguyễn giúp làm sáng tỏ vai trò của chuông đồng trong tín ngưỡng và đời sống cộng đồng. Việc phân tích các thành tố di sản với hệ thống chạm khắc trên bề mặt chuông như rồng, phượng, hoa sen… góp phần giải mã những ý nghĩa triết học và giá trị thẩm mỹ của Phật giáo mà chuông đồng truyền tải, nhấn mạnh tính độc đáo của chuông đồng như một biểu tượng tôn giáo và mỹ thuật phong kiến. Ngoài ra, đề xuất các phương pháp bảo tồn trong bối cảnh hiện đại nhằm lan tỏa giá trị văn hóa và tinh thần của di sản này đến các thế hệ tương lai.
Tóm tắt: Nghiên cứu về màu sắc và hình khối cho thấy thiết kế đồ họa là sự giao thoa giữa nghệ thuật và khoa học hành vi. Màu sắc chạm vào trái tim, hình khối chạm vào lý trí, khi ứng dụng đúng, chúng không chỉ tạo ra vẻ đẹp thẩm mỹ mà còn có sức mạnh điều hướng hành vi, bảo vệ an toàn và nâng cao chất lượng cuộc sống con người… Bài viết tập trung phân tích sâu và lý giải nhằm đưa ra những dẫn chứng khoa học về những tác động của các yếu tố màu sắc và hình khối trong thiết kế đồ họa ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng hiện nay.
Người Pháp khởi đầu việc xâm chiếm vùng Nam Kỳ của Việt Nam kể từ năm 1859. Song song với việc dần đặt ra bộ máy hành chính quản trị cho vùng nhượng địa là việc hình thành và xây dựng cơ sở hạ tầng cho các hoạt động kinh tế xã hội, văn hóa. Kiến trúc và quy hoạch kiểu Pháp đã tạo ra những bộ mặt đô thị mới, nhưng truyền thống Á Đông vốn dĩ vẫn luôn bền bỉ. Minh họa cho sự gắn kết giữa kiểu tthức Á Đông và Tây phương trong trang trí mỹ thuật vùng Đông Nam Bộ đầu TK XX bằng việc phân tích mô hình kiến trúc một ngôi nhà mộ tuy nhỏ nhưng liên hệ tới nhân cách lớn: học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898), chúng tôi hy vọng sẽ góp phần nhận định về giá trị lịch sử - văn hóa nghệ thuật của công trình này cũng như qua đó nêu vài giả thuyết xác tín hơn khi đánh giá về hành trạng của danh nhân.
Tóm tắt: Bài viết đề xuất ứng dụng Pixel Art như cầu nối giữa giá trị thủ công và môi trường số, nhằm bảo tồn và lan tỏa di sản thêu thổ cẩm của người Dao Đỏ tại Lũng Slàng. Pixel Art với cấu trúc điểm và ô lưới tương đồng với logic tổ hợp và phân vị của hoa văn thêu, vừa giúp duy trì tinh thần bản gốc, vừa tối ưu hóa dung lượng tệp, khả năng mở rộng và tính linh hoạt khi tích hợp trên các nền tảng số như trang web, mạng xã hội và sản phẩm lưu niệm. Trong bối cảnh chuyển đổi số, đây là phương thức biểu đạt đặc trưng, có khả năng thích ứng cao với hệ sinh thái truyền thông hiện đại. Giải pháp đồng thời khuyến khích đồng kiến tạo thông qua cá nhân hóa hoa văn, góp phần mở rộng trải nghiệm và nâng cao giá trị nhận diện thương hiệu điểm đến Lũng Slàng.
Tóm tắt: Cuối TK XIX đến đầu TK XX, nghệ thuật trang trí tại các nhà thờ Công giáo Hà Nội thể hiện rõ nét sự hội nhập văn hóa giữa phương Tây và Việt Nam trong thời Pháp thuộc. Các phong cách kiến trúc Tây phương như Gothic, Roman được du nhập, nhưng không giữ nguyên bản mà được bản địa hóa bởi các nghệ nhân Việt, khéo léo kết hợp những kỹ thuật truyền thống như chạm khắc gỗ, sơn son thếp vàng, cùng các họa tiết dân gian vào trong thiết kế. Sự dung hòa độc đáo này đã tạo nên những không gian thánh đường vừa phục vụ đúng mục đích tôn giáo, vừa phản ánh sự sáng tạo và bản sắc văn hóa địa phương. Nghiên cứu về quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa này không chỉ giúp hiểu sâu hơn về bản sắc nghệ thuật của nhà thờ Công giáo Hà Nội, mà còn góp phần định hướng công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong thời đại ngày nay.
Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích nghệ thuật thiết kế tem, nhãn và bao bì thực phẩm - thức uống ở Sài Gòn từ cuối TK 19 đến năm 1975, thể hiện qua các thương hiệu nổi tiếng. Tác giả tập trung vào sự chuyển biến của phong cách thiết kế qua ba giai đoạn (cuối TK 19 - trước 1945, 1945-1954, 1954-1975) dưới ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử, xã hội, các trào lưu nghệ thuật và sự giao thoa văn hóa Đông - Tây. Đây là một dấu ấn lịch sử, làm nền tảng cho ngành thiết kế bao bì hiện đại.
Tóm tắt: Tư duy giáo dục mở và tiếp cận liên ngành đã góp phần hình thành phong cách sáng tạo độc lập, thúc đẩy sự giao thoa giữa mỹ thuật truyền thống và hiện đại qua các giai đoạn lịch sử: thuộc địa, chiến tranh và hội nhập. Tư tưởng khai phóng không chỉ khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc mà còn mở rộng khả năng tiếp thu tinh hoa nghệ thuật thế giới. Đồng thời, khẳng định mối quan hệ giữa nghệ thuật, giáo dục và các ngành công nghiệp văn hóa - sáng tạo, từ đó, đề xuất định hướng phát triển bền vững cho nghệ thuật tạo hình Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Bài viết phân tích vai trò của tư tưởng khai phóng trong quá trình phát triển nghệ thuật tạo hình Việt Nam từ năm 1925, khởi đầu từ sự ra đời của Trường Mỹ thuật Đông Dương.