Tóm tắt: Trang sức sử dụng chất liệu sơn mài là dạng sản phẩm trang sức mới xuất hiện trong khoảng những năm đầu thế kỷ XXI tại Việt Nam và phát triển tới ngày nay với số lượng và chất lượng ngày càng tăng. Thời kỳ đầu, các sản phẩm trang sức sơn mài chỉ là các sản phẩm lưu niệm ở dạng đồ quà tặng du lịch nhỏ gọn nhằm tăng thêm sự lựa chọn cho du khách có thể sở hữu sản phẩm sơn mài mà không bị hạn chế bởi kích thước của sản phẩm như các sản phẩm tranh, mỹ nghệ sơn mài khác. Tuy nhiên, cùng với thời gian, sản phẩm trang sức sơn mài ngày càng trở nên phong phú cả về thiết kế tạo dáng, tính thẩm mỹ phù hợp thị trường trong nước - đặc biệt là giới trẻ Việt Nam và hướng ra thị trường thế giới với vai trò trang sức ngày càng được ưa chuộng. Sản phẩm trang sức sơn mài vừa mang tinh hoa của chất liệu và kỹ thuật sơn mài Việt, vừa mang tư duy thiết kế hiện đại của trang sức ngày nay.
Tóm tắt: Bài viết tập trung luận giải hệ thống lý thuyết bổ trợ trong nghiên cứu sự chuyển dịch của nghệ thuật Xòe Thái từ không gian dân gian sang môi trường biểu diễn chuyên nghiệp. Thông qua phương pháp tiếp cận liên ngành, tác giả vận dụng đồng bộ lý thuyết nghệ thuật học, triết học văn hóa và lý thuyết các bên liên quan để phân tích quá trình biến đổi, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, việc chuyên nghiệp hóa Xòe Thái không chỉ là sự nâng tầm về kỹ thuật hình thể và dàn dựng sân khấu mà còn là quá trình kế thừa có chọn lọc các giá trị cốt lõi để thích ứng với đời sống đương đại. Đồng thời, bài viết khẳng định vai trò phối hợp giữa các chủ thể quản lý và nghệ sĩ trong việc định vị Xòe Thái như một biểu tượng văn hóa đặc thù, góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia và thực hiện hiệu quả đường lối phát triển văn hóa của Đảng.
Tham luận tại Hội thảo “Nhìn lại sự vận động, phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 - 30/4/2025)” do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tổ chức tháng 6/2025.
Tham luận tại Hội thảo Nhìn lại sự vận động, phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 - 30/4/2025) do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tổ chức tháng 6/2025.
Tóm tắt: Nghệ thuật múa của người Mường được hình thành và phát triển trong đời sống cộng đồng, gắn bó chặt chẽ với lao động sản xuất, tín ngưỡng và các nghi lễ truyền thống, qua đó phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và đời sống tinh thần của cư dân Mường. Bài viết phân tích nghệ thuật múa Mường - loại hình gắn liền với đời sống lao động và tín ngưỡng dân gian - qua ba phương diện chính: Luật động (sự kết hợp giữa nét mềm mại, giàu biểu cảm với nhịp điệu mạnh mẽ trong các nghi lễ); Tuyến múa và tạo hình (đặc trưng bởi sự đơn giản, ổn định, mang tính cộng đồng cao); Đạo cụ (yếu tố then chốt giúp định hình ngôn ngữ và cấu trúc động tác). Từ đó có thể thấy múa Mường mang bản sắc nghệ thuật riêng, phản ánh đặc điểm văn hóa của cộng đồng người Mường, đồng thời có ý nghĩa quan trọng đối với công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa dân gian trong bối cảnh hiện nay.
Tóm tắt: Nghệ thuật sử dụng sáp ong trong sáng tạo hình ảnh là một kỹ thuật thủ công đã tồn tại từ thời Cổ đại, trải qua nhiều giai đoạn phát triển và biến đổi hình thức. Trong lịch sử, sáp ong không chỉ được biết đến như một vật liệu tự nhiên với nhiều công dụng trong đời sống mà còn giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực nghệ thuật trang trí. Trên thế giới, nghệ thuật vẽ sáp ong khá phổ biến, đặc biệt tại những khu vực có bề dày văn hóa truyền thống. Việc phân tích đặc trưng nghệ thuật sáp ong của người Mông và đặt trong bối cảnh đối sánh với các hình thức nghệ thuật sử dụng sáp của một số cộng đồng khác trên thế giới. Có thể thấy nghệ thuật sáp ong Mông có sự tương đồng về kỹ thuật với một số nền thủ công quốc tế, song vẫn mang những đặc điểm bản địa riêng biệt về tạo hình và biểu tượng. Bài viết đề xuất cách nhìn liên văn hóa nhằm mở rộng tiềm năng ứng dụng nghệ thuật dân gian này trong thiết kế thời trang đương đại, đồng thời, góp phần vào công cuộc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng người Mông.
Tóm tắt: Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa, nghệ thuật xiếc - tạp kỹ hiện đóng vai trò kép: vừa là loại hình thẩm mỹ, vừa là lĩnh vực kinh tế giàu tiềm năng trong chuỗi giá trị văn hóa. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý tại Việt Nam nói chung và Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội nói riêng vẫn mang nặng tính hành chính truyền thống, chưa thích ứng kịp với cơ chế thị trường. Bằng phương pháp tiếp cận quản lý văn hóa và khảo sát thực tiễn, bài viết phân tích những đặc thù và mâu thuẫn cốt lõi giữa: bảo tồn nghệ thuật và yêu cầu thương mại hóa, phục vụ công chúng và hiệu quả kinh tế, quản lý hành chính và quản trị chuỗi giá trị. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng quản lý hiện đại, linh hoạt nhằm phát triển xiếc - tạp kỹ thành thành tố quan trọng của công nghiệp văn hóa Thủ đô.
Tóm tắt: Bài viết tiếp cận tác phẩm Mắt biếc của Nguyễn Nhật Ánh từ góc nhìn ký ức giao tiếp, qua đó làm rõ vai trò của không gian trong việc hình thành và lưu giữ ký ức. Không gian trong tác phẩm không chỉ là bối cảnh câu chuyện mà còn là môi trường giao tiếp, nơi các mối quan hệ, cảm xúc và trải nghiệm được tích lũy, lắng đọng và chuyển hóa thành ký ức. Sự đối lập giữa làng quê và thành phố phản ánh chuyển động của ký ức theo biến đổi không gian sống, từ trạng thái gắn bó liền mạch đến đứt gãy, phai mờ rồi tái hình thành.
Tham luận tại Hội thảo Nhìn lại sự vận động, phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 - 30/4/2025) do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tổ chức tháng 6/2025.
Tóm tắt: Trong đời sống văn hóa của người Dao Quần Chẹt ở tỉnh Phú Thọ, âm nhạc hiện diện trong nghi lễ tín ngưỡng và trong sinh hoạt thường nhật của cộng đồng. Tiếp cận từ lý thuyết dân tộc âm nhạc học, bài viết vận dụng mô hình của Merriam, Blacking, Nettl và Rice để phân tích âm nhạc như một thực hành văn hóa gắn với hành vi xã hội, hệ tư tưởng và không gian nghi lễ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong các nghi lễ như Cấp sắc, Tết nhảy hay hình thức hát Páo Dung, âm nhạc giữ vai trò tổ chức, duy trì ký ức cộng đồng và biểu đạt thế giới quan tộc người. Bài viết góp phần làm rõ tính hữu hiệu trong tiếp cận dân tộc âm nhạc học khi nghiên cứu âm nhạc các tộc người thiểu số ở Việt Nam.
Tóm tắt: Trong đào tạo thanh nhạc chuyên nghiệp, việc rèn luyện và vận dụng các kỹ thuật hát cơ bản giữ vai trò nền tảng, đặc biệt đối với sinh viên giọng nữ cao khi thể hiện ca khúc nghệ thuật Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa các nguyên tắc của nghệ thuật hát cổ điển phương Tây (Bel canto) kết hợp với đặc trưng ngữ điệu và lối hát truyền thống Việt Nam, bài viết tập trung làm rõ một số kỹ thuật thanh nhạc thường được vận dụng trong dạy học và biểu diễn như: điều tiết hơi thở (appoggio), đặt âm thanh cộng hưởng (placement), hát liền tiếng (legato), kiểm soát cường độ và sắc thái, cùng kỹ thuật phát âm, nhả chữ rõ ràng (diction); đồng thời làm rõ đặc trưng của ca khúc nghệ thuật Việt Nam và yêu cầu kỹ thuật đối với giọng nữ cao khi thể hiện thể loại này. Qua khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu như Ơi mẹ làng Sen (Trần Mạnh Hùng); Sa Pa, thành phố trong sương (Vĩnh Cát) và Tháng Giêng mùa Xuân còn sót lại (Hoàng Cương), bài viết khẳng định rằng việc kết hợp linh hoạt kỹ thuật Bel canto với lối hát mang bản sắc Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả dạy học hát và năng lực biểu cảm nghệ thuật trong đào tạo thanh nhạc hiện nay.