Tóm tắt: Trong bối cảnh phim tài liệu đương đại ngày càng chuyển dịch từ chức năng phản ánh hiện thực sang một hình thức kể chuyện mang tính kiến tạo, vấn đề kể chuyện trở thành một hướng tiếp cận quan trọng trong nghiên cứu điện ảnh. Bài viết tập trung khảo sát vai trò của nhân vật và điểm nhìn trong kể chuyện phim tài liệu, đây là hai trong nhiều yếu tố quan trọng của quá trình chuyển hóa từ sự kiện đến kể chuyện. Trên cơ sở vận dụng các khung lý thuyết về tự sự/ kể chuyện điện ảnh và phim tài liệu, bài viết phân tích cách nhân vật trong phim tài liệu không chỉ tồn tại như đối tượng được ghi nhận, mà trở thành chủ thể đồng kiến tạo câu chuyện thông qua hành động, lời nói và trải nghiệm sống. Đồng thời, bài viết làm rõ vai trò của người kể chuyện và điểm nhìn, phản ánh vị thế phát ngôn của người làm phim đối với hiện thực được kể. Thông qua phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của điện ảnh tài liệu thế giới và Việt Nam, nghiên cứu cho thấy nhân vật và điểm nhìn không chỉ là các yếu tố kỹ thuật của kể chuyện, mà là nơi thể hiện quan điểm, thế giới quan của người làm phim về hiện thực và mối quan hệ giữa người làm phim, nhân vật và khán giả.
Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm khẳng định tầm quan trọng của việc tích hợp kiến thức văn hóa trong dạy học Ngữ văn. Nghiên cứu áp dụng phương pháp liên ngành, kết hợp soi chiếu từ góc nhìn nghiên cứu văn hóa trong giảng dạy văn học. Kết quả nghiên cứu chỉ ra và phân tích cụ thể thiết kế hoạt động dạy học tác phẩm văn học theo định hướng tiếp cận văn hóa, tổ chức hoạt động trải nghiệm, sáng tạo gắn liền với văn hóa địa phương và kỹ năng đọc - hiểu, giải mã các tầng nghĩa văn hóa của văn bản.
Tóm tắt: Trong mỹ thuật truyền thống Việt Nam, gà gắn với đời sống cư dân nông nghiệp và mang giá trị biểu tượng như dương khí, cát tường, phồn thực và hạnh phúc. Trên gốm Lái Thiêu, hình tượng gà được nghệ nhân thể hiện đa dạng qua bố cục gà đơn, cặp trống - mái, đàn gà, kết hợp mô típ hoa cúc, cây cải, cây chuối, tạo nên biểu trưng về trường tồn, sinh sôi và anh hùng - mỹ nhân. Kế thừa các công trình nghiên cứu trước, bài viết được tiếp cận từ mỹ thuật học, văn hóa học và biểu tượng học để phân tích nhằm lý giải toàn diện ngôn ngữ tạo hình của các mô típ gà trong nghệ thuật gốm Nam Bộ. Kết quả cho thấy hình tượng gà đã góp phần định hình bản sắc gốm Lái Thiêu, tiêu biểu với “Bát con gà” nổi tiếng, đồng thời, khẳng định giá trị thẩm mỹ, văn hóa và gợi mở hướng phát huy trong nghệ thuật đương đại.
Tóm tắt: Mỹ thuật trong đô thị đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sống, định hình bản sắc văn hóa và tạo ra môi trường thẩm mỹ hài hòa tích hợp yếu tố nghệ thuật. Chúng không chỉ giúp cải thiện cảnh quan, làm mềm hóa kiến trúc đô thị, tạo điểm nhấn cho thành phố mà còn có tác động mạnh mẽ đến tâm lý, xã hội và kinh tế của cộng đồng. Nghệ thuật công cộng đang phát triển và mở ra nhiều hình thức biểu hiện mới mẻ, đa dạng. Ở một góc độ khác, mỹ thuật ứng dụng cũng góp phần đưa mỹ thuật vào trong đời sống, tiếp cận tới người dân và là một phần không thể thiếu trong hầu khắp các lĩnh vực của xã hội ngày nay. Cả hai lĩnh vực đều chứa đựng yếu tố mỹ thuật, mang tính thẩm mỹ hướng đến nhu cầu sống của xã hội. Thông qua bài viết, nghiên cứu nhằm làm rõ biểu hiện của mỹ thuật đô thị và những điểm tương đồng trong mối quan hệ với mỹ thuật ứng dụng.
Tóm tắt: 13 ca khúc viết về Tây Nguyên cho giọng nữ cao trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, là một bộ phận quan trọng trong nền âm nhạc mới Việt Nam. Lời ca là một phần không thể thiếu cùng với giai điệu âm nhạc để tạo nên diện mạo của một ca khúc. Tuy nhiên, đấy là cách nhìn cơ học từ hai bộ phận cấu thành, thực tế ngoài vai trò cấu trúc thiết yếu, lời của ca khúc còn chứa đựng nhiều nội dung, nhiều lớp cắt về văn hóa, lịch sử. Nội dung lời ca trong các ca khúc viết về Tây Nguyên không chỉ mang tính tự sự, trữ tình mà còn đậm chất sử thi, phản ánh sinh động các vấn đề về tình yêu quê hương, lòng biết ơn với Bác Hồ, ca ngợi anh hùng dân tộc, vẻ đẹp thiên nhiên - con người và âm hưởng chiến thắng... Việc thấu hiểu những lớp ý nghĩa này là yếu tố thiết yếu trong quá trình học thanh nhạc và biểu diễn chuyên nghiệp, bởi nó cho phép người hát truyền tải những cảm xúc chân thực và xác thực nhất đến người nghe thông qua ngôn ngữ tiếng hát.
Tóm tắt: Bài viết tập trung luận giải hệ thống lý thuyết bổ trợ trong nghiên cứu sự chuyển dịch của nghệ thuật Xòe Thái từ không gian dân gian sang môi trường biểu diễn chuyên nghiệp. Thông qua phương pháp tiếp cận liên ngành, tác giả vận dụng đồng bộ lý thuyết nghệ thuật học, triết học văn hóa và lý thuyết các bên liên quan để phân tích quá trình biến đổi, bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, việc chuyên nghiệp hóa Xòe Thái không chỉ là sự nâng tầm về kỹ thuật hình thể và dàn dựng sân khấu mà còn là quá trình kế thừa có chọn lọc các giá trị cốt lõi để thích ứng với đời sống đương đại. Đồng thời, bài viết khẳng định vai trò phối hợp giữa các chủ thể quản lý và nghệ sĩ trong việc định vị Xòe Thái như một biểu tượng văn hóa đặc thù, góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia và thực hiện hiệu quả đường lối phát triển văn hóa của Đảng.
Tham luận tại Hội thảo “Nhìn lại sự vận động, phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 - 30/4/2025)” do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tổ chức tháng 6/2025.
Tham luận tại Hội thảo Nhìn lại sự vận động, phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 - 30/4/2025) do Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tổ chức tháng 6/2025.
Tóm tắt: Nghệ thuật múa của người Mường được hình thành và phát triển trong đời sống cộng đồng, gắn bó chặt chẽ với lao động sản xuất, tín ngưỡng và các nghi lễ truyền thống, qua đó phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan và đời sống tinh thần của cư dân Mường. Bài viết phân tích nghệ thuật múa Mường - loại hình gắn liền với đời sống lao động và tín ngưỡng dân gian - qua ba phương diện chính: Luật động (sự kết hợp giữa nét mềm mại, giàu biểu cảm với nhịp điệu mạnh mẽ trong các nghi lễ); Tuyến múa và tạo hình (đặc trưng bởi sự đơn giản, ổn định, mang tính cộng đồng cao); Đạo cụ (yếu tố then chốt giúp định hình ngôn ngữ và cấu trúc động tác). Từ đó có thể thấy múa Mường mang bản sắc nghệ thuật riêng, phản ánh đặc điểm văn hóa của cộng đồng người Mường, đồng thời có ý nghĩa quan trọng đối với công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa dân gian trong bối cảnh hiện nay.
Tóm tắt: Nghệ thuật sử dụng sáp ong trong sáng tạo hình ảnh là một kỹ thuật thủ công đã tồn tại từ thời Cổ đại, trải qua nhiều giai đoạn phát triển và biến đổi hình thức. Trong lịch sử, sáp ong không chỉ được biết đến như một vật liệu tự nhiên với nhiều công dụng trong đời sống mà còn giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực nghệ thuật trang trí. Trên thế giới, nghệ thuật vẽ sáp ong khá phổ biến, đặc biệt tại những khu vực có bề dày văn hóa truyền thống. Việc phân tích đặc trưng nghệ thuật sáp ong của người Mông và đặt trong bối cảnh đối sánh với các hình thức nghệ thuật sử dụng sáp của một số cộng đồng khác trên thế giới. Có thể thấy nghệ thuật sáp ong Mông có sự tương đồng về kỹ thuật với một số nền thủ công quốc tế, song vẫn mang những đặc điểm bản địa riêng biệt về tạo hình và biểu tượng. Bài viết đề xuất cách nhìn liên văn hóa nhằm mở rộng tiềm năng ứng dụng nghệ thuật dân gian này trong thiết kế thời trang đương đại, đồng thời, góp phần vào công cuộc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể của cộng đồng người Mông.
Tóm tắt: Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa, nghệ thuật xiếc - tạp kỹ hiện đóng vai trò kép: vừa là loại hình thẩm mỹ, vừa là lĩnh vực kinh tế giàu tiềm năng trong chuỗi giá trị văn hóa. Tuy nhiên, thực tiễn quản lý tại Việt Nam nói chung và Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội nói riêng vẫn mang nặng tính hành chính truyền thống, chưa thích ứng kịp với cơ chế thị trường. Bằng phương pháp tiếp cận quản lý văn hóa và khảo sát thực tiễn, bài viết phân tích những đặc thù và mâu thuẫn cốt lõi giữa: bảo tồn nghệ thuật và yêu cầu thương mại hóa, phục vụ công chúng và hiệu quả kinh tế, quản lý hành chính và quản trị chuỗi giá trị. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng quản lý hiện đại, linh hoạt nhằm phát triển xiếc - tạp kỹ thành thành tố quan trọng của công nghiệp văn hóa Thủ đô.