Tóm tắt: Bài viết phân tích quá trình chuyển hóa của Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh từ một di sản kiến trúc thuộc địa Pháp thành một thiết chế văn hóa đa năng trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành về di sản và công nghiệp văn hóa, nghiên cứu làm rõ sự biến đổi công năng của nhà hát qua các giai đoạn lịch sử, từ không gian phục vụ cộng đồng thuộc địa đến thiết chế văn hóa phục vụ công chúng và đời sống xã hội đương đại. Kết quả cho thấy công năng của nhà hát luôn gắn với bối cảnh chính trị - xã hội và định hướng văn hóa của từng thời kỳ, đồng thời thể hiện khả năng thích ứng linh hoạt của di tích. Trong bối cảnh công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số, nhà hát đã từng bước đổi mới mô hình hoạt động, đa dạng hóa chương trình biểu diễn, mở rộng không gian sáng tạo và tăng cường kết nối với thị trường văn hóa. Qua đó, công trình không chỉ được bảo tồn về mặt kiến trúc mà còn được tái cấu trúc như một nguồn lực cho phát triển kinh tế, văn hóa. Nghiên cứu cũng góp phần khẳng định vai trò của di sản kiến trúc trong việc hình thành thiết chế văn hóa năng động, đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh công nghiệp văn hóa và hội nhập quốc tế.
Tóm tắt: Hát ru là một thể loại dân ca truyền thống của Việt Nam, gắn liền với lời ru của mẹ, của bà, thể hiện tình yêu thương, sự chăm sóc và giáo dục con cái. Lời ru nhẹ nhàng, mộc mạc không chỉ giúp trẻ ngủ ngon mà còn gieo vào tâm hồn con trẻ những bài học về đạo lý, nhân nghĩa và lòng yêu quê hương. Riêng hát ru Nam Bộ mang âm hưởng đặc trưng của vùng sông nước - phóng khoáng, giản dị và chân thành. Lời ru thường kết hợp với tiếng võng đưa, nhịp chèo xuồng hay tiếng gió đồng quê, tạo nên cảm giác ấm áp và gần gũi. Qua những câu ru “Ầu ơ ví dầu”, “Gió đưa gió đẩy”, người Nam Bộ gửi gắm tình mẫu tử sâu sắc và tâm hồn hiền hậu, bao dung của con người miền Tây.
Tóm tắt: Văn học dân gian thiếu nhi của người Việt phát triển khá sớm và tập trung ở hai lĩnh vực: truyện kể (truyện dân gian trẻ em) và thơ ca (đồng dao). Về đồng dao, dù còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau nhưng không ai có thể phủ nhận vị trí quan trọng của thể loại này trong hệ thống folklore nhi đồng. Không đơn thuần chỉ là một thể loại của văn học dân gian, đồng dao còn phản ánh một hình thái tư duy độc đáo trong sáng tác văn chương.
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu không gian nhà hát Paris trong thế giới nghệ thuật của Honoré de Balzac, cụ thể qua hai tác phẩm tiêu biểu "Lão Goriot" và "Miếng da lừa", dưới góc độ xã hội học văn học. Vận dụng lý thuyết của Gisèle Sapiro về sự chiếm hữu vị thế và các loại hình vốn, tác giả phân tích nhà hát không chỉ như một thiết chế văn hóa thuần túy mà còn là một “trường lực” - nơi tái sản xuất các quan hệ quyền lực và phân tầng giai cấp nghiệt ngã của xã hội Pháp thế kỷ XIX. Nghiên cứu chỉ ra rằng, nhà hát vận hành như một không gian dị biệt, thực hiện chức năng cách ly văn hóa và tích tụ thời gian, nơi các nhân vật thực hiện hành vi “nhập vai” để hoán đổi căn cước hoặc bảo tồn vị thế.
Tóm tắt: Trong không gian văn hóa làng xã truyền thống Việt Nam, bên cạnh việc chỉ ra các giá trị nguyên bản và vai trò của các nhà cộng đồng làng xã - những thiết chế văn hóa gắn bó mật thiết với cộng đồng nơi các hiện vật nghệ thuật bằng gỗ - từ hệ thống khung cột, vì kèo đến những đồ thờ tự như cửa võng, hoành phi, câu đối… không chỉ là những bộ phận có giá trị thẩm mỹ mà còn phản ánh ký ức lịch sử, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa cộng đồng dân tộc được trải dài từ vùng Trung du, đồng bằng Bắc Bộ đến các vùng miền Trung - Nam. Bài viết nghiên cứu các giá trị văn hóa, nghệ thuật từ hệ thống các hiện vật trong kiến trúc nhà công cộng qua một số công trình đình làng Việt; đồng thời, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn, bao gồm nâng cao nhận thức cộng đồng, chuẩn hóa quy trình phục chế, ứng dụng khoa học, công nghệ và xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, các nhà nghiên cứu và cộng đồng sở hữu di sản. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo tồn di sản kiến trúc nhà cộng đồng làng xã - đình làng trong bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay.
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích thực trạng phát triển của múa dân gian trong lễ hội vùng Hà Nội hiện nay đang đứng trước những nguy cơ của sự mất bản sắc hay sự sáng tạo xa rời với giá trị nguyên gốc vốn có của mỗi điệu múa. Qua đó, tác giả đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm phát triển múa dân gian trong lễ hội vùng Hà Nội trong bối cảnh hội nhập hiện nay, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 80 - NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, khẳng định văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng cho sự phát triển bền vững đất nước.
Tóm tắt: Điêu khắc và sân khấu thường được xem là hai thái cực đối lập giữa sự tĩnh lặng của vật chất và tính biến đổi của khoảnh khắc. Bài viết chỉ ra các vấn đề tại vùng giao thoa liên ngành sân khấu chính là một “không gian điêu khắc sống”; trong đó, thông qua nghiên cứu trường hợp tại Trường Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội, tác giả làm rõ sự hội tụ này qua 5 khía cạnh: không gian sân khấu như một tác phẩm sắp đặt; cơ thể diễn viên là điêu khắc động; trang phục và hóa trang là điêu khắc trên cơ thể; đạo cụ và nghệ thuật rối là điểm chạm giữa vật thể và sự sống; cuối cùng là ánh sáng - công cụ tạo hình vô hình. Khi tư duy tạo hình hòa quyện cùng tư duy sân khấu, hình khối và chất liệu không còn đứng yên mà bắt đầu “thở” và kể chuyện. Nghiên cứu kết luận bằng các đề xuất ứng dụng thực tiễn trong đào tạo mỹ thuật ứng dụng tại Việt Nam, nhằm thúc đẩy tư duy sáng tạo liên ngành cho sinh viên.
Tóm tắt: Trong bối cảnh phim tài liệu đương đại ngày càng chuyển dịch từ chức năng phản ánh hiện thực sang một hình thức kể chuyện mang tính kiến tạo, vấn đề kể chuyện trở thành một hướng tiếp cận quan trọng trong nghiên cứu điện ảnh. Bài viết tập trung khảo sát vai trò của nhân vật và điểm nhìn trong kể chuyện phim tài liệu, đây là hai trong nhiều yếu tố quan trọng của quá trình chuyển hóa từ sự kiện đến kể chuyện. Trên cơ sở vận dụng các khung lý thuyết về tự sự/ kể chuyện điện ảnh và phim tài liệu, bài viết phân tích cách nhân vật trong phim tài liệu không chỉ tồn tại như đối tượng được ghi nhận, mà trở thành chủ thể đồng kiến tạo câu chuyện thông qua hành động, lời nói và trải nghiệm sống. Đồng thời, bài viết làm rõ vai trò của người kể chuyện và điểm nhìn, phản ánh vị thế phát ngôn của người làm phim đối với hiện thực được kể. Thông qua phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của điện ảnh tài liệu thế giới và Việt Nam, nghiên cứu cho thấy nhân vật và điểm nhìn không chỉ là các yếu tố kỹ thuật của kể chuyện, mà là nơi thể hiện quan điểm, thế giới quan của người làm phim về hiện thực và mối quan hệ giữa người làm phim, nhân vật và khán giả.
Tóm tắt: Trong tiến trình phát triển của văn hóa dân tộc Việt Nam, các loại hình nghệ thuật dân gian luôn giữ vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và truyền tải những giá trị tinh thần tốt đẹp của cộng đồng. Trong đó, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là một di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, mang đậm bản sắc vùng miền và có giá trị to lớn cả về nghệ thuật lẫn giáo dục. Việc UNESCO ghi danh dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (năm 2014) đã khẳng định vị thế và ý nghĩa của loại hình nghệ thuật này không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trên bình diện quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, khi các giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nhiều thách thức từ quá trình toàn cầu hóa và hiện đại hóa, việc nghiên cứu vai trò của dân ca ví, giặm trong giáo dục thẩm mỹ là cần thiết, góp phần định hướng bảo tồn và phát huy hiệu quả giá trị của di sản trong đời sống đương đại.
Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của cảnh quan sinh thái trong mối quan hệ với văn hóa và con người qua phim truyền hình Đàn trời (đạo diễn Bùi Huy Thuần). Từ bối cảnh điện ảnh Việt Nam về đề tài dân tộc thiểu số, bài viết nhấn mạnh vai trò của việc chuyển thể văn học sang điện ảnh, trong đó cảnh quan không chỉ là phông nền mà còn tạo dựng bản sắc và chiều sâu thẩm mỹ. Trên cơ sở đó, hai luận điểm chính được triển khai: Cảnh quan miền núi như một “nhân vật văn hóa” kết tinh giá trị truyền thống, tín ngưỡng và ký ức cộng đồng; từ góc nhìn sinh thái nhân văn, mối quan hệ con người - cảnh quan cho thấy mối quan hệ giữa bảo tồn và khai thác, giữa bản sắc và áp lực phát triển. Cuối cùng, bài viết cho rằng cảnh quan miền núi hiện lên như một không gian xã hội - chính trị, đồng thời khẳng định điện ảnh là công cụ quan trọng trong nhận diện và cảnh tỉnh trước các vấn đề sinh thái đương đại.
Tóm tắt: Văn học Nhật Bản giữ vị trí đặc biệt trên văn đàn thế giới với những tác phẩm mang đậm bản sắc văn hóa của “đất nước mặt trời mọc”. Trong đó, Truyện kể Genji được công nhận là cuốn tiểu thuyết đầu tiên theo nghĩa hiện đại, phác họa bức tranh toàn cảnh về đời sống cung đình thời kỳ Heian (794-1185). Bài viết đề cập tới nét đặc sắc trong nội dung của tác phẩm, từ nghệ thuật Hương đạo được miêu tả khéo léo tới những nét tương đồng giữa hai tác phẩm Truyện kể Genji của Nhật Bản và Hồng Lâu Mộng - một trong tứ đại kỳ thư của Trung Quốc.