Tóm tắt: Giuseppe Verdi không chỉ là một thiên tài opera thế giới, mà còn là một nhân vật quan trọng của phong trào Risorgimento, người đã dùng âm nhạc để cổ vũ khát vọng thống nhất nước Ý. Trong các tác phẩm thời kỳ đầu của ông, chủ nghĩa ái quốc là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, phản ánh trong những nhân vật anh hùng và những bản hợp xướng hùng tráng kêu gọi tinh thần yêu nước. Sự tương đồng về lịch sử giữ nước, những giá trị nhân văn và tinh thần dân tộc sâu sắc trong opera Verdi có thể tạo nên sự đồng cảm mạnh mẽ với khán giả Việt Nam. Bài viết tập trung phân tích chủ nghĩa ái quốc trong 13 vở opera thời kỳ đầu của Verdi thông qua bối cảnh lịch sử, phân tích libretto, hợp xướng và các yếu tố âm nhạc - kịch nghệ. Nghiên cứu khẳng định vai trò của âm nhạc Verdi như một vũ khí tinh thần trong phong trào dân tộc Ý và giá trị lan tỏa của nó đối với văn hóa Việt Nam.
Tóm tắt: Trong không gian văn hóa làng xã truyền thống Việt Nam, bên cạnh việc chỉ ra các giá trị nguyên bản và vai trò của các nhà cộng đồng làng xã - những thiết chế văn hóa gắn bó mật thiết với cộng đồng nơi các hiện vật nghệ thuật bằng gỗ - từ hệ thống khung cột, vì kèo đến những đồ thờ tự như cửa võng, hoành phi, câu đối… không chỉ là những bộ phận có giá trị thẩm mỹ mà còn phản ánh ký ức lịch sử, tín ngưỡng, bản sắc văn hóa cộng đồng dân tộc được trải dài từ vùng Trung du, đồng bằng Bắc Bộ đến các vùng miền Trung - Nam. Bài viết nghiên cứu các giá trị văn hóa, nghệ thuật từ hệ thống các hiện vật trong kiến trúc nhà công cộng qua một số công trình đình làng Việt; đồng thời, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn, bao gồm nâng cao nhận thức cộng đồng, chuẩn hóa quy trình phục chế, ứng dụng khoa học, công nghệ và xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, các nhà nghiên cứu và cộng đồng sở hữu di sản. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc bảo tồn di sản kiến trúc nhà cộng đồng làng xã - đình làng trong bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay.
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích thực trạng phát triển của múa dân gian trong lễ hội vùng Hà Nội hiện nay đang đứng trước những nguy cơ của sự mất bản sắc hay sự sáng tạo xa rời với giá trị nguyên gốc vốn có của mỗi điệu múa. Qua đó, tác giả đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm phát triển múa dân gian trong lễ hội vùng Hà Nội trong bối cảnh hội nhập hiện nay, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết 80 - NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, khẳng định văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng cho sự phát triển bền vững đất nước.
Tóm tắt: Điêu khắc và sân khấu thường được xem là hai thái cực đối lập giữa sự tĩnh lặng của vật chất và tính biến đổi của khoảnh khắc. Bài viết chỉ ra các vấn đề tại vùng giao thoa liên ngành sân khấu chính là một “không gian điêu khắc sống”; trong đó, thông qua nghiên cứu trường hợp tại Trường Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội, tác giả làm rõ sự hội tụ này qua 5 khía cạnh: không gian sân khấu như một tác phẩm sắp đặt; cơ thể diễn viên là điêu khắc động; trang phục và hóa trang là điêu khắc trên cơ thể; đạo cụ và nghệ thuật rối là điểm chạm giữa vật thể và sự sống; cuối cùng là ánh sáng - công cụ tạo hình vô hình. Khi tư duy tạo hình hòa quyện cùng tư duy sân khấu, hình khối và chất liệu không còn đứng yên mà bắt đầu “thở” và kể chuyện. Nghiên cứu kết luận bằng các đề xuất ứng dụng thực tiễn trong đào tạo mỹ thuật ứng dụng tại Việt Nam, nhằm thúc đẩy tư duy sáng tạo liên ngành cho sinh viên.
Tóm tắt: Trong bối cảnh phim tài liệu đương đại ngày càng chuyển dịch từ chức năng phản ánh hiện thực sang một hình thức kể chuyện mang tính kiến tạo, vấn đề kể chuyện trở thành một hướng tiếp cận quan trọng trong nghiên cứu điện ảnh. Bài viết tập trung khảo sát vai trò của nhân vật và điểm nhìn trong kể chuyện phim tài liệu, đây là hai trong nhiều yếu tố quan trọng của quá trình chuyển hóa từ sự kiện đến kể chuyện. Trên cơ sở vận dụng các khung lý thuyết về tự sự/ kể chuyện điện ảnh và phim tài liệu, bài viết phân tích cách nhân vật trong phim tài liệu không chỉ tồn tại như đối tượng được ghi nhận, mà trở thành chủ thể đồng kiến tạo câu chuyện thông qua hành động, lời nói và trải nghiệm sống. Đồng thời, bài viết làm rõ vai trò của người kể chuyện và điểm nhìn, phản ánh vị thế phát ngôn của người làm phim đối với hiện thực được kể. Thông qua phân tích một số tác phẩm tiêu biểu của điện ảnh tài liệu thế giới và Việt Nam, nghiên cứu cho thấy nhân vật và điểm nhìn không chỉ là các yếu tố kỹ thuật của kể chuyện, mà là nơi thể hiện quan điểm, thế giới quan của người làm phim về hiện thực và mối quan hệ giữa người làm phim, nhân vật và khán giả.
Tóm tắt: Trong tiến trình phát triển của văn hóa dân tộc Việt Nam, các loại hình nghệ thuật dân gian luôn giữ vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và truyền tải những giá trị tinh thần tốt đẹp của cộng đồng. Trong đó, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là một di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, mang đậm bản sắc vùng miền và có giá trị to lớn cả về nghệ thuật lẫn giáo dục. Việc UNESCO ghi danh dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (năm 2014) đã khẳng định vị thế và ý nghĩa của loại hình nghệ thuật này không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trên bình diện quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay, khi các giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước nhiều thách thức từ quá trình toàn cầu hóa và hiện đại hóa, việc nghiên cứu vai trò của dân ca ví, giặm trong giáo dục thẩm mỹ là cần thiết, góp phần định hướng bảo tồn và phát huy hiệu quả giá trị của di sản trong đời sống đương đại.
Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò của cảnh quan sinh thái trong mối quan hệ với văn hóa và con người qua phim truyền hình Đàn trời (đạo diễn Bùi Huy Thuần). Từ bối cảnh điện ảnh Việt Nam về đề tài dân tộc thiểu số, bài viết nhấn mạnh vai trò của việc chuyển thể văn học sang điện ảnh, trong đó cảnh quan không chỉ là phông nền mà còn tạo dựng bản sắc và chiều sâu thẩm mỹ. Trên cơ sở đó, hai luận điểm chính được triển khai: Cảnh quan miền núi như một “nhân vật văn hóa” kết tinh giá trị truyền thống, tín ngưỡng và ký ức cộng đồng; từ góc nhìn sinh thái nhân văn, mối quan hệ con người - cảnh quan cho thấy mối quan hệ giữa bảo tồn và khai thác, giữa bản sắc và áp lực phát triển. Cuối cùng, bài viết cho rằng cảnh quan miền núi hiện lên như một không gian xã hội - chính trị, đồng thời khẳng định điện ảnh là công cụ quan trọng trong nhận diện và cảnh tỉnh trước các vấn đề sinh thái đương đại.
Tóm tắt: Văn học Nhật Bản giữ vị trí đặc biệt trên văn đàn thế giới với những tác phẩm mang đậm bản sắc văn hóa của “đất nước mặt trời mọc”. Trong đó, Truyện kể Genji được công nhận là cuốn tiểu thuyết đầu tiên theo nghĩa hiện đại, phác họa bức tranh toàn cảnh về đời sống cung đình thời kỳ Heian (794-1185). Bài viết đề cập tới nét đặc sắc trong nội dung của tác phẩm, từ nghệ thuật Hương đạo được miêu tả khéo léo tới những nét tương đồng giữa hai tác phẩm Truyện kể Genji của Nhật Bản và Hồng Lâu Mộng - một trong tứ đại kỳ thư của Trung Quốc.
Tóm tắt: Trang sức sử dụng chất liệu sơn mài là dạng sản phẩm trang sức mới xuất hiện trong khoảng những năm đầu thế kỷ XXI tại Việt Nam và phát triển tới ngày nay với số lượng và chất lượng ngày càng tăng. Thời kỳ đầu, các sản phẩm trang sức sơn mài chỉ là các sản phẩm lưu niệm ở dạng đồ quà tặng du lịch nhỏ gọn nhằm tăng thêm sự lựa chọn cho du khách có thể sở hữu sản phẩm sơn mài mà không bị hạn chế bởi kích thước của sản phẩm như các sản phẩm tranh, mỹ nghệ sơn mài khác. Tuy nhiên, cùng với thời gian, sản phẩm trang sức sơn mài ngày càng trở nên phong phú cả về thiết kế tạo dáng, tính thẩm mỹ phù hợp thị trường trong nước - đặc biệt là giới trẻ Việt Nam và hướng ra thị trường thế giới với vai trò trang sức ngày càng được ưa chuộng. Sản phẩm trang sức sơn mài vừa mang tinh hoa của chất liệu và kỹ thuật sơn mài Việt, vừa mang tư duy thiết kế hiện đại của trang sức ngày nay.
Tóm tắt: Nghiên cứu này nhằm khẳng định tầm quan trọng của việc tích hợp kiến thức văn hóa trong dạy học Ngữ văn. Nghiên cứu áp dụng phương pháp liên ngành, kết hợp soi chiếu từ góc nhìn nghiên cứu văn hóa trong giảng dạy văn học. Kết quả nghiên cứu chỉ ra và phân tích cụ thể thiết kế hoạt động dạy học tác phẩm văn học theo định hướng tiếp cận văn hóa, tổ chức hoạt động trải nghiệm, sáng tạo gắn liền với văn hóa địa phương và kỹ năng đọc - hiểu, giải mã các tầng nghĩa văn hóa của văn bản.
Tóm tắt: Trong mỹ thuật truyền thống Việt Nam, gà gắn với đời sống cư dân nông nghiệp và mang giá trị biểu tượng như dương khí, cát tường, phồn thực và hạnh phúc. Trên gốm Lái Thiêu, hình tượng gà được nghệ nhân thể hiện đa dạng qua bố cục gà đơn, cặp trống - mái, đàn gà, kết hợp mô típ hoa cúc, cây cải, cây chuối, tạo nên biểu trưng về trường tồn, sinh sôi và anh hùng - mỹ nhân. Kế thừa các công trình nghiên cứu trước, bài viết được tiếp cận từ mỹ thuật học, văn hóa học và biểu tượng học để phân tích nhằm lý giải toàn diện ngôn ngữ tạo hình của các mô típ gà trong nghệ thuật gốm Nam Bộ. Kết quả cho thấy hình tượng gà đã góp phần định hình bản sắc gốm Lái Thiêu, tiêu biểu với “Bát con gà” nổi tiếng, đồng thời, khẳng định giá trị thẩm mỹ, văn hóa và gợi mở hướng phát huy trong nghệ thuật đương đại.